MẬU THÂN 1 968 : THĂNG HAY BẠI?

Chính Đạo

... "Biến cố Mậu Thân 1968 là một trong những bí ẩn lịch sử lớn lao nhất, bởi vì từ thất bại quân sự to lớn và vô cùng nặng nề, , Cộng Sản vẫn có thể sống sót tại miền Nam, và sau cùng biến chiến thắng của VNCH, Hoa Kỳ và đông minh thành một thất bại chính trị cay đắng cho Hoa Kỳ, dọn đường cho sự rút lui nhục nhã của quốc gia này ra khỏi Việt-Nam ". - Tôn Quang Tuấn

Vào Nam từ năm 1964 Thanh [2] áp dụng chiến lược đã quen thuộc của Mao Trạch Đông; lấy nông thôn bao vây thành thị cho tới lúc ung thối, rồi sẽ đứt điểm. Nhưng đối thủ của Thanh là Tướng Westmoreland, một cựu Tướng Nhảy dù. Ngoài ra, còn có cả một đạo quân cơ giới tối tân bậc nhất thế giới. Bởi thế, bày ra trận đánh nào, Thanh thua trận đó. Với chiến lược "truy diệt" (search- and-destroy), Tướng Westmoreland đã có thể tảo thanh cả những chiến khu được coi như bất khả xâm phạm trong giai đoạn 1945-1954: Tam giác sắt, chiến khu C, chiến khu D....

Từ tháng 5.67 Thanh bắt đầu có ý định thay đổi chiến lược ở miền Nam: đưa chiến tranh vào thành phố để gỡ rối cho hạ từng cơ sở ở nông thôn. Tuy nhiên, thoạt tiên, Thanh chỉ muốn tung ra những đợt đột kích kéo dài ít ngày, rồi triệt thoái. Nhưng cái chết đột ngột của Thanh vào mùa Thu 1967 khiến Hà Nội - đúng hơn, Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng - cải tiến kế hoạch đột kích thành phố thành một cuộc Tổng công kích. Có lẽ vào thời gian nầy, yếu tố "ngoại giao" hay "mặt trận chính trị" mới được thêm vào, giúp kế hoạch "Tổng tấn công" có kích thước lớn lao hơn...

Cho đến hiện nay, Hà Nội vẫn chưa công bố hết động lực khiến Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng đã có quyết định lạ lùng trên.

Theo Trần Độ - Phó chính ủy B 2, người được giới tình báo, truyền thông và học giả phong (một cách lầm lẫn) là cấp chỉ huy của mặt trận Sài Gòn - tiết lộ với ký giả Stanley Kamov vào năm 1981 rằng CS tin tưởng có thể thắng lợi, chiếm giữ được một số thành phố. Riêng về phản ứng ở Hoa Kỳ chỉ là điều may mắn, không được trù liệu trước. Còn quá sớm đề phán xét mức độ khả tín của lời chứng trên. Hơn nữa, dù ở cương vị Phó chính ủy B 2, chưa hẳn Trần Độ được thông báo lý do thầm kín của cuộc Tổng tấn công - Tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968.

Dương Quỳnh Hoa - một cán bộ MTGPMN, từng bí mật vào Sài Gòn "công tác" trong trận Mậu Thân - than van với Stanley Kamov ( Vietnam.' A History. New York, Penguin Books, 1984, tí. 545), cũng vào năm 1981, rằng Hà Nội đã "tính toán sai lầm" một cách thảm hại, khiến suy yếu cuộc nổi dậy ở miền Nam. Hàm ý của Hoa, cùng nhiều thành viên MTGPMN, là Hà Nội đã nhân cơ hội Mậu Thân làm suy yếu lực lượng võ trang của MTGPMN, hầu có thể chi phối hoàn toàn cuộc chiến ở miền Nam.

Điều nầy có phần hữu lý. Tuy nhiên, nếu khách quan phán xét, khi tung ra cuộc tự sát tập thể Mậu Thân 1968, Hà Nội đã nhắm vào 3 mục tiêu chính: gỡ rối về quân sự, mở mặt trận chính trị ở ngoại quốc, và làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của thị dân miền Nam.

Một trong những mục tiêu chính của Hà Nội là nham kích động tinh thần cán binh. Như chúng ta đã biết, từ năm 1965, cường độ các trận đánh qui ước giữa Cộng quân và lực lượng Đồng minh ngày thêm gia tăng. Số tổn thất của Cộng quân rất cao.

Đáng lưu ý hơn nữa là cái chết của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ chính trị, tư lệnh miền Nam, vào mùa Thu 1967. Trong khi đó, những cuộc hành quân bình định của VNCH - do 555 toán cán bộ Xây dựng Nông thôn phụ trách dưới sự bảo trợ của các đơn vị chủ lực - cùng những kế hoạch phong tỏa kinh tế khiến tinh thần cán binh CS xuống rất thấp. Số cán bộ hồi chánh trong hai năm 1965-1966 lên cao. Tình trạng "lạc ngũ, -tức bỏ đơn vị, lang thang trong rừng - cũng xuất hiện. Đánh vào thành phố, bới thế, là đi vào cửa chết để tìm cái sống.

Trước hết, tấn công vào các thành phố sẽ khiến Đồng minh và quân VNCH phải cắt giảm các cuộc hành quân truy diệt, rút về thế thủ, bảo vệ các vòng đai an ninh. Như thế các Đoàn Xây đựng Nông thôn sẽ mất lực lượng quân sự yểm trợ, dễ bị thanh toán. Những viên chức hành chánh địa phương cũng mất điểm tựa cần thiết. Các cơ sở nông thôn của CS sẽ có cơ hội khôi phục.

Dĩ nhiên, một cuộc tấn công qui mô như thế sẽ phải tổn thất lớn lao về nhân mạng và vũ khí. Chưa một tài liệu nào của CS cho biết yếu tố tổn thất có được nghiên cứu hay chăng. Sự im lặng nầy - dù đã 20 năm tròi qua - cho thấy cái nhẫn tâm của người CS : Chẳng những thản nhiên ném hàng chục ngàn cán binh vào tử địa - mà một số không nhỏ còn dưới 1 8 tuổi - Giáp cùng các cán bộ cao cấp CS còn phỉnh phờ, lừa bịp họ là nhất định sẽ chiến thắng, giải phóng trọn vẹn miền Nam. Ba tiếng "Tổng khởi nghĩa" được điền thêm vào kế hoạch "Tổng công kích" nguyên thủy có lẽ chỉ mục đích tác động tinh thần nầy. Chính Lê Minh, người chỉ huy mặt trận Huế, cũng thú nhận và ngầm chỉ trích dã tâm lừa bịp cán binh và thí quân của Hà Nội.

Song song với ý niệm thí quân để giải tỏa áp lực của Đồng minh tại vùng nông thôn - nguồn cung cấp tài nguyên, nhân, vật lực - là một mặt trận ngoại giao vừa hé mở.

Như trên đã lược thuật, sau nhiều nỗ lực bí mật, cả Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn bắt đầu công khai tuyên bố về ý muốn tìm một giải pháp hoà bình. Tháng 1.1967, Phó Thủ tướng kiềm Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh đòi hỏi ngưng oanh tạc Bắc Việt và triệt thoái quân viễn chinh Mỹ khỏi Việt Nam vô điều kiện mới có thể hòa đàm. Tháng 2.1967, Tồng thống Johnson viết thư cho Hồ Chí Minh, và được phúc đáp tương tự. Bảy tháng sau ngày 26.9, Tổng thống Johnson đồng ý ngưng oanh tạc có điều kiện. Cuối năm 1967, Trinh lại thêm một cân "giả mù sa mưa" đề cập đến vấn đê "điêu kiện" hòa đàm. Cơ hội cho Hòa bình đã hé mở.

Tuy nhiên, hoà đàm thế nào, mạnh hay yếu? Muốn thắng lợi ở bàn hội nghị, cần mạnh ở chiến trường. Hoặc phải tạo được chứng cớ để thổi phồng sức mạnh của mình ở chiến trường. Thực tế về trang bị, vũ khí hay khả năng tác chiến, CSVN khó thề đương đầu một đạo quân hùng mạnh, cơ giới tối tân như lực lượng Hoa Kỳ và Đồng minh. Nhưng đạo quân Mỹ cũng có những nhược điểm: cần một thời gian khá dài để ổn định tình hình, và nhiều quân số hơn nữa để chiến thắng.

Kẹt là, Tổng thống Johnson từng tuyên bố cuộc tham chiến của Hoa Kỳ sẽ ngắn hạn, ánh sáng ở cuối đường hầm không xa. Đáng lo hơn nữa, cứ 4 năm nước Mỹ có một cuộc tranh cử Tổng thống cùng một số ghế trong Thượng viện; và một tổng thống chỉ có thề giữ chức vụ tối đa trong hai nhiệm kỳ, tức 8 năm. Đó là chưa nói Việt Nam - ngoài công dụng ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của CS Nga xuống vùng Đông Nam á - chẳng có gì quyến rũ. Hoa Kỳ tiếp tục giữ quân chiến đấu ở Việt Nam vì niềm kiêu hãnh của một siêu cường nhiều hơn quyết tâm biến Việt Nam thành một tiền đồn đích thực của tự do, dân chủ.

Cuộc tấn công vào Sài gòn, Huế và các thành phố miền Nam nhằm mục đích ngoại giao nầy. Ngày Tết Mậu Thân 1968 là thời điểm lý tưởng nhất, vì mùa tranh cử đợt I (giữa những ứng cử viên của mỗi đảng Dân chủ hoặc Cộng hòa) tại Hoa Kỳ sắp bắt đâu. Cho dù thất bại về quân sự, cũng đủ gây tiếng vang trong dư luận Mỹ. Và, qua hệ thống tuyên truyền cùng tình báo tinh vi của Nga Sô, cuộc tấn công có thể giúp mở ra một mặt trận chính trị ngay trong nội địa Mỹ - mặt trận có tính cách quyết định....

Đánh vào thành phố còn là phương thức xử dụng ,"bạo lực cách mạng" quen thuộc của CS.

Trước hết, có thể vô hiệu hóa những phần tử chững cộng độc lập và uy hiếp tinh thần thị dân. Chỉ nguyên một việc mang chiến tranh vào thành phố - nghĩa là đưa điêu tàn đổ nát xáo trộn vào những khu vực vốn được coi là an oàn của miền Nam - đủ minh chứng nghệ thuật cao đẳng trong việc xử dụng "bạo lực cách mạng" của CS: khủng bố tinh thần dân lành, khiến họ phải ngưng cộng tác với chính quyền hiện hữu, hoặc ít nữa "bình chân như vại" ...



[2] Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ chính trị, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được giao quyền chỉ huy lực lượng quân sự của CS tại miền Nam.