Truyện ngắn

Á0 RÁCH VỀ LÀNG

DL. Hà Tiên Nhất

Phong theo hàng người nối đuôi nhau rời phi cơ. Anh quét cặp mắt con nai vàng ngơ ngác vào những người chung quanh, rồi lại vào mình. Anh gật gù, tủm tỉm cười, và lép nhép cái miệng xem chừng đắc ý lắm: không giống ai thật. Đứa nào ngứa miệng bảo mình áo gấm về làng thì đúng là nó mù.

Mấy cái chữ nghĩa "áo gấm về làng" có từ đời ông cố hỷ nào đó, đã cũ rích rồi. Nhưng từ khi VC cho đám dân Mít tỵ nạn được trở về thăm xứ sở, quí vị này mới đem ra xài lại. Để tự hào hay tự trào mình không biết nữa. Vào thời những anh cán nhớn cán bé nhà ta còn kênh kiệu nón tai bèo, dép lốp, ngu ngơ như mán về thành thì dân Mít tỵ nạn xênh xang trở về xứ lúc đó có quyền vênh váo ta đây Việt kiều là phải.

Nhưng nay thì khác rồi. Những tên cán ngáo ngày nào bây giờ ở nhà bạc triệu, mà triệu dollars Mỹ kia đấy, chạy xế bạc trăm ngàn, uống rượu ngoại vài ba trăm ông Oa-Sin-Tơn một chai thì Việt kiều hết còn dám vênh vang ta đây áo gấm về làng nữa.

Phong chưa về Việt-Nam bao giờ. Đây là lần đầu tiên. Trước khi đi, bạn bè anh đã truyền thụ cho anh những kinh nghiệm và hiểu biết về nơi quê hương có tiếng là nghèo thì nghèo xác nghèo xơ, nhưng được cái nước ăn và chơi thì cả cái thế giới tự do này cũng phải ngả mũ chào thua. Một anh chàng tỏ ra có kinh nghiệm nhất trong đám bạn bè đã lên lớp cho Phong như sau:

- Mày đấu thì nhất định không lại tụi nó rồi. Bây giờ là lúc nền văn minh răng đen mã tấu đã tới hồi cực thịnh. Mày cứ thử đi vài bước trước cái giai đoạn thoái trào của nó xem sao. Cái thứ sâu bọ lên làm người không chóng thì chầy lại trở về kiếp sâu bọ thôi. Lúc đó chúng nó sẽ lại cho rằng hang hốc mới là chỗ ở thích hợp với chúng. Bo bo, khoai mì mới là đồ ăn hợp khẩu vị chúng. Nước sông, nước rãnh mới làm cho chúng đã khát v.v.

Cái thứ văn minh mì ăn liền ăn vô coi vậy mà dễ bị bội thực lắm, nhất là đối với loại động vật óc bã đậu như loài vượn người. Mày cứ lấy ba cái hiện tượng tóc tai nhuộm xanh nhuộm đỏ, tai mũi đeo vỏ sò vỏ hến, áo quần mới mà cứ phải xẻ ngang cắt dọc cho te tua mới chịu của đám con ông cháu cha bên nhà ra mà suy gẫm.

Mấy ông mấy bà áo gấm ngoài này dù có tiến bộ, nhưng so với lũ vượn người trong nước thì chỉ như thỏ chạy thi với xế đua mà thôi. Như thế thà mày cứ áo rách mà về làng có thể mà lại hay. Có thể bây giờ mày không giống ai đấy. Nhưng không sao. Biết đâu rồi một ngày nào đó chúng sẽ học đòi theo mày, và sẽ tôn mày lên hàng sư tổ chưa biết chừng. Hậu duệ lũ vượn người và những loài tương cận với nó đã bắt đầu bước vào kỷ nguyên Tây Ba Lô rồi đó….

Những lời "dự báo thời tiết" có phần trí tuệ kia lúc nào cũng văng vẳng bên tai Phong. Anh không cần biết người bạn mình muốn đi vào lãnh vực nhân chủng học, hắn có tham vọng chỉ ra tương lai của một nền văn minh hậu Răng Đen Mã Tấu, hay chỉ là có ý trào lộng vấn đề để mua vui trong lúc bạn bè gặp nhau?

Nhưng cho dù đàng nào đi chăng nữa thì thực tế cũng vẫn mang lại cho anh ít nhiều bổ ích khi phải đương đầu với những khó khăn có thể xẩy ra trong những ngày tới. Anh cố tin tưởng và giữ bình thản bước xuống cầu thanh máy bay cùng với mọi người.

Những người Việt Nam trên chuyến bay bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất, từ cách họ ăn mặc, cách nói chuyện, cách đi đứng, hầu như không ai là không nổi bật lên cái phong thái "Việt Kiều" của mình. Nhiều người còn cố tô vẽ cho ra cái vẻ. Tuy nhiên, cứ để ý một tí mà xem. Nếu coi những ông già bà cả thuộc về thời đại đồ đồng chẳng hạn, thì đám con cháu đi theo họ hình như lại đang thụt lùi về thời đại đồ đá kia đấy.

Thế nhưng dù sao điểm chung nhất vẫn là dù già hay trẻ, trông họ không thể nào lãn lộn được với những người khác trong nhà ga, mặc dầu cũng đều là mũi tẹt da vàng cả. Chỉ trừ Phong. Nếu mái tóc anh bớt đi tí mầu mực tầu, cái mũi không xẹp, đôi mắt không đen, làn da không nhuộm chút mầu phù sa sông Hậu, và thân hình cao ráo một tí thì thế nào người ta cũng nghĩ anh là một anh chàng tây ba lô made in USA đàng hoàng.

Dân du lịch ngoại quốc ít "địa" này cũng có ít nhất dăm sáu mạng xuống phi trường cùng với Phong. Anh và bọn tây ba lô không những giống nhau ở cách ăn mặc, mà còn ở hành lý mang theo. Phong chân kéo lê đôi dép lẹp xẹp, mang trên người cái quần Jean cũ bạc thếch đã sờn gấu, cái áo thung lá xốc xếch nước cháo lòng. Đầu tóc anh bù xù rậm rạp. Tay cầm một cuốn tiểu thuyết tình ba xu bằng tiếng Anh.

Trông Phong có dáng dấp một bậc thiên tài xuất chúng, hay một danh nhân nào đó thời trung cổ. Những bậc người này không giống ai bởi vì họ bất cần đời. Lý do là vì họ đã vượt lên trên cái thường tình của nhân sinh trần tục. Còn Phong, anh chỉ là một kỹ sư quèn đi làm để kiếm sống. Đổi chén mồ hôi lấy chén cơm ăn hàng ngày.

Một sự khác biệt nhỏ giữa anh và dân tây ba lô là về món hành trang mang theo trên người. Tây ba lô lang thang đó đây khắp thế giới chỉ với một cái ba lô trên lưng, gần giống với thứ của bộ đội VC thường mang. Đôi khi họ còn cầm theo cây đả cẩu bổng trong tay. Còn anh thì khệ nệ ôm một cái valise cũ đã sờn mép. Nó chỉ còn một cái bánh xe nên anh ôm nó như ôm đứa con thơ. Khi mỏi tay, anh đẩy nó lên vai để vác, hoặc kéo lê xềnh xệch dưới đất. Trông Phong có vẻ bệ rạc thiệt! Thế mà anh cũng là Việt kiều hồi hương đấy.

Ra đến quầy làm thủ tục check out, Phong ngó trước ngó sau rồi bắt chước làm theo mọi người. Anh mở bóp, móc ra tờ giấy 2 chục dollar kẹp vào trong tấm passport. Do anh không quen hay lọng cọng sao đó, làm rớt tấm passport và tờ giấy bạc bay ra ngoài.

Tên công an lúc nào cũng đăm đăm làm mặt lạnh như tiền, nhìn thấy vẻ lúng túng của anh cũng phải tủm tỉm cười. Anh thấy vậy thì yên tâm và cười thầm trong bụng: Thế là mày trúng kế của tao rồi. Đừng có tưởng là tao ngu.

Phong từ từ cúi xuống lượm lại những giấy tờ vừa rớt, giơ lên rồi lấy tay kia phủi phủi một cách trịnh trọng tờ giấy bạc như một đứa trẻ con thơ ngây và khờ dại chính hiệu con nai vàng. Anh đặt passport và tờ giấy 20 dollar xanh trên mặt bàn trước mặt tên công an. Mọi người chung quanh đều trông thấy. Người nhà nước bỗng dưng đỏ mặt tía tai, la lối nhặng xị:

- Ơ kìa cái nhà anh này, cất tiền đi chứ, sao lại để đây?

Hắn cố ý muốn thanh minh thanh nga để mọi người biết rằng mình đích thực là một công bộc rất trong sạch của nhà nước xã hội chủ nghĩa, và hơn nữa, cả cái chế độ mà hắn là người đại diện ở đây không có xấu xa lem luốc như bọn đế quốc và phản động vẫn thường rêu rao đổ vấy đâu.

Phong chỉ chờ câu nói đó. Anh làm bộ chần chừ rồi khép nép với lấy tờ giấy bạc, cầm giơ lên và giữ nguyên nó trong tay. Tên công an có thể vì chướng mắt, vì cảm thấy sượng sùng, hay cũng có thể vì thương hại thằng cha Việt kiều vừa ngu si lại vừa đần độn lần đầu tiên hắn gặp, nên chỉ để hờ có một con mắt trên tờ passport, rồi sau vài ba giây đắn đo suy nghĩ, bằng thái độ của một người nhà nước hết sức lương thiện và gương mẫu, hắn ôn tồn nhắc nhở anh lại một lần nữa:

- Anh cất tiền vào túi đi. Ở đây không phải đóng lệ phí gì hết. Có hiểu không?

Liền sau đó hắn hất hàm làm hiệu cho anh đi.

Thế là Phong qua được cái ải "đầu tiên" mà chả mất một cắc bạc. Trước đó anh thực sự không tin cái trò láu cá vặt này mà lại tháu cáy được tên công an. Anh cảm thấy tự tin hơn nên không ngần ngại tự khen mình một câu cho sướng cái thân: Mới ra quân mà đã thắng ngoạn mục hết sức. Đỡ mất toi hai chục đồng bạc lãng xẹc.

Lại còn chửi đổng nữa: Chúng mày ăn được tiền của ông? Còn khuya! Một bà đứng cách đó vài bước ở phía sau, quá thích thú cái vở tuồng Phong vừa trình diễn, nhoài người tới rỉ tai anh:

- Có lý lắm. Cho chó ăn còn hơn cho bọn này ăn.

Qua trạm đầu, Phong tà tà theo người ta ra chỗ kiểm hành lý. Đồ đạc anh chẳng có gì đáng kể nên anh thấy không cần phải biểu diễn thêm một màn kịch nào khác với bọn hải quan nữa. Hai tên công an đứng cạnh chiếc máy kiểm soát hành lý thấy anh ăn mặc nhếch nhác không giống ai, đồ đạc chỉ có một cái valise cũ mèm, một tên chỉ chiếc valise hỏi chận đầu:

- Có gì trong này không?

- Các ông cứ mở ra coi.

Anh vừa đặt valise lên conveyor vừa trả lời tỉnh queo, rồi đứng thế nghiêm cho tên này kiểm soát người. Không có gì. Hắn phất tay cho anh qua trạm.

Tội nghiệp nhiều người xuống tầu trước anh lâu lắm rồi mà thấy vẫn còn kẹt tại đây. Có người có đến cả gần chục vừa thùng, vừa valise, vừa sách tay, cái nào cũng bị mở ra và lục tung. Sắp xếp cho gọn để đóng lại từng cái đã là chuyện không phải dễ. Nhiều người trông thật thê thảm. Người đứng chờ ủ rũ, không biết họ phải chờ cái gì. Người rầu rĩ như muốn khóc. Người đứng gãi đầu gãi tai năn nỉ tên hải quan. Những khúc ruột xa xôi ngàn dặm này có lẽ bây giờ mới cảm thấy ê chề và thấm thía những lời đường mật thổi vào tai khi còn ở hải ngoại?

Người qua trạm này rồi, ai cũng hối hả chạy đi kiếm thân nhân. Riêng Phong thì không. Anh lững thững vừa đi vừa ngó cảnh lạ chung quanh. Ngay hồi còn ở Việt-Nam, anh chưa hề bao giờ đặt chân lên Saigon, và dĩ nhiên chưa biết Tân Sơn Nhất là gì. Cái gì ở đây anh cũng cho là lạ. Lạ nhất là cái câu vè chào khách sặc mùi văn chương xú uế xã hội chủ nghĩa giăng ngang trước tòa nhà chính của phi cảng:


Chào mừng quí khách bốn phương

Việt Nam là chốn thiên đường (bạn) tới thăm.


Câu vè quảng cáo du lịch này chắc phải do đầu óc cỡ ủy viên ban văn hóa tư tưởng trung ương đảng mới sáng tác nổi. Đọc nó anh cảm thấy lợm giọng quá sức, muốn ói.

Đây là lần đầu tiên anh đến phi trường Tân Sơn Nhất, không phải từ trong nước đi ra, mà là từ nước ngoài vô. Anh ra khỏi đất nước không qua ngả phi trường này, mà qua con đường vựợt biển để trốn chạy, chạy trốn thực sự vì bị công an ruồng bắt. Phong vượt biên nhưng anh không có cơ hội hay có tiền bạc để đi một cách có chủ ý và có tính toán như nhiều người. Chuyện vượt biên của anh chỉ là ngẫu nhiên bắt nguồn từ việc anh bị đuổi học và bị bắt đi bộ đội để đưa sang cái lò nướng người bên Cao Miên hồi đó.

***

Vào đầu thập niên 80 anh bắt đầu học lên đệ nhị cấp ở một trường trung học tại Vĩnh Long. Ở vào cái tuổi có trí khôn một chút, anh bắt đầu nhận ra lối sống a dua, bợ đỡ, chèn ép và bất công ngay trong trường nên anh không tham gia và còn tìm cách trốn tránh các sinh hoạt đoàn của trường. Vì thế anh bị đuổi học.

Những năm đó là những năm thê thảm nhất của người dân miền Nam. Dĩ nhiên gia đình anh không ngoại trừ. Anh ở nhà tiếp gia đình làm ruộng, nhưng làm ruộng cũng không có đủ cơm ăn, vì còn phải đóng thuế, mua công trái, và hàng trăm thứ đóng góp khác. Nhà anh ở Cầu Đôi, cách Ngã Ba Cần Thơ chừng 4 cây số.

Những ngày không phải ra đồng, anh và Vinh, một người bạn cùng lớp cũng bị đuổi học như anh, xách xe đạp lên Ngã Ba Cần Thơ để chạy xe ôm. Thường thì hết một ngày làm việc mệt nhọc, Phong và Vinh gặp nhau ở quán nước đầu cầu sát đường lộ lai rai xị đế giải buồn.

Được đúng ba tháng từ ngày bị đuổi học thì xã gọi cả hai trình diện để đi nghĩa vụ quân sự. Giấy tống đạt không thể tới tận tay hai người nên công an được lệnh gặp đâu bắt đó. Trời đã tối, trong lúc anh và Vinh đang ngồi trong quán thì tên Bẩy, công an xã bước vào. Biết là việc chẳng lành, cả hai đứng lên định trả tiền rồi ra về. Tên Bẩy lập tức chận lại:

- Khoan đã, không được đi. Các anh khẩn trương lên trình diện xã.

Phong cự nự:

- Anh tính bắt chúng tôi? Tội gì?

- Không, tôi mời hai anh. Tội hay không các anh lên xã sẽ biết.

Vinh thêm vào:

- Thì mời, nhưng sao không mời ban ngày ban mặt, lại mời chúng tôi vào lúc khuya khoắt thế này?

- Ban ngày có bao giờ thấy mấy anh ở nhà đâu. Thôi mấy anh đi cho.

Bẩy vừa nói vừa chĩa khẩu súng AK về phía hai người và ra hiệu bắt đi. Phong đoán chắc khẩu súng đã khóa chốt an toàn, trong đầu anh lập tức nẩy ra một kế hoạch liều mạng. Anh đẩy Vinh ra lấy xe rồi cả hai ngoan ngoãn ra đi với tên công an.

Lên tới giữa cầu lối vô trụ sở xã, Phong ngừng lại, dựng xe, đưa tay lên túi áo móc gói thuốc. Anh rút ra một điếu gắn lên môi. Rồi một điếu nữa đưa mời tên công an, đồng thời xin hắn lửa. Bẩy thò tay vô túi quần để lấy bao quẹt. Trong lúc tên công an bật lửa để đốt điếu thuốc của mình, Phong khều Vinh, và nhanh như cắt, cả hai xô tên Bảy té nhào xuống sông rồi đạp xe chạy. Tên công an lóp ngóp dưới nước. Khẩu súng văng ra xa. Trời đã tối xẫm. Cả khu vực vắng tanh. Sự việc xẩy ra chỉ trong chớp mắt.

Vinh chạy ngược lên phía Cầu Bắc. Hai ngày sau anh bị bắt tại Sađéc. Còn Phong đạp xe về nhà, kể qua sự tình cho gia đình biết rồi chèo ghe luồn lách sông rạch đi ngay trong đêm. Gần 3 tháng sau anh tới được Rạch Gía. Anh vô một ngôi chùa gần Rạch Sỏi xin cạo đầu đi tu. Nhà sư gìa trụ trì ngôi chùa trong lòng biết anh đang gặp nạn nên hoan hỉ nhận anh làm đệ tử. Phong hàng ngày ôm chiếc bình bát đi khất thực. Anh thường la cà khu vực cửa sông nơi có đông dân làm nghề biển để thăm dò tình hình vượt biên.

Cơ hội đến với Phong thật bất ngờ. Có ông chủ ghe dự tính tổ chức đi nhưng chỉ trong giới hạn gia đình để tránh bị lộ. Bà chủ là người rất sùng Phật. Thấy nhà sư trẻ lui tới khất thực hoài nên bà thương mến và thường rộng tay giúp đỡ cho nhà chùa.

Ngày lên đường tới. Bà bật mí ý định và nài nỉ "thầy" cùng đi theo để trên đường nhờ "thầy" cầu bình an cho gia đình. Phong tất nhiên đồng ý. Anh còn không kịp trở lại chùa để chào từ giã vị sư già ân nhân. Sang được đến Pulao Bidong, Phong không còn cần phải giấu diếm hành tung của mình nữa. Cả anh và chủ ghe trước cuộc vượt biển may mắn và bình an đều cám ơn Trời Phật. Họ dễ dàng cảm thông với nhau.

Mối bận tâm của Phong khi ra được nước ngoài là tình trạng gia đình của người anh trai của anh còn ở Cầu Đôi. Vợ chồng Hai Quân đã một thời gian dài phải thay em mình gánh chịu tất cả mọi cay đắng, khổ cực, cùng là đầy đọa vì chuyện Phong hành hung công an và trốn lính. Sau khi anh trốn đi, bọn xã đội mỗi ngày bắt mẹ và vợ chồng Hai Quân tự túc đem theo cơm nước ra xã làm lao động tạp dịch. Đứa con gái mới 5 tháng chúng cũng không cho bế theo nên vợ chồng Hai Quân phải gởi hàng xóm nuôi dùm. Bọn xã ấp hành hạ người nhà cốt dụ Phong ra đầu thú, nhưng anh đã trốn biệt, làm sao biết được.

Biện pháp giam lỏng này kéo dài đúng 6 tháng trời mới thôi. Mẹ anh vì già yếu và còn vì buồn phiền mà chết. Đứa con gái đầu lòng của Hai Quân sau đó cũng đi theo bà nội nó. Không thể sống nổi tại quê nhà, vợ chồng Hai Quân bán tống táng đi tất cả tài sản, di cư lên Long Khánh. 8 công ruộng, 3 công vườn, một căn nhà xây lợp ngói, trừ chi phí giấy tờ, lo lót đủ các cửa lớn cửa bé, lên đến Long Giao mua lại được 2 công đất rừng chưa khai phá. Hai vợ chồng chỉ còn biết vắt mồ hôi tưới lên nương đồi để tìm sự sống. Người dân địa phương tốt bụng chỉ vẽ cho phương pháp lấy ngắn nuôi dài nên vợ chồng Quân mới qua được cơn ngặt nghèo. ...

***

Bây giờ thì gia đình Hai Quân cuộc sống đã đỡ chật vật hơn so với trước kia. Một phần vì nương rẫy đã có thu hoạch. Còn phần lớn là từ 3 năm nay Phong bắt lại được liên lạc đã lai rai gởi tiền về giúp đỡ anh chị. Đứa con trai thứ của Hai Quân đã vô được trung học trên Long Khánh. Phong rất mong muốn trở về thăm anh chị và cháu nhưng chỉ sợ VC khui ra và tính sổ món nợ ngày xưa. Anh tính tới tính lui rồi sau cùng cũng thử đánh liều một phen.

Xuống phi trường anh muốn test cái bộ nhớ của guồng máy công an VC, đồng thời đo lường tính bén nhậy của bộ máy kềm kẹp này hầu kịp có biện pháp sử trí khi cần. Qua cú trick vừa rồi, anh cho rằng VC cũng chẳng phải là thần thánh gì, chúng cũng là người thôi nên anh đã bớt băn khoăn hơn so với lúc mới bước xuống khỏi máy bay. Anh ôm cái valise trước ngực, vừa đi vừa ngó dáo dác, không biết làm sao để nhận ra được người anh của mình mà anh nghĩ thế nào cũng ra đón.

Thời gian qua biết bao vật đổi sao rời, làm sao con người không thay đổi?

Anh em chia tay đã gần một phần tư thế kỷ khó có thể còn lại nguyên vẹn hình ảnh hay dáng dấp ngày xưa để nhận ra nhau. Phong bước ra khỏi cửa nhà đợi tại phi trường, lạc lõng giữa rừng người, kẻ đến người đi. Anh chưa nhìn thấy cảnh tượng này bao giờ. Việt Kiều về quê và thân nhân ra đón, người đông và ồn ào như một cái chợ đang họp. Nhiều bà già xúc động quá rơi nước mắt. Bọn trẻ gặp nhau mừng rỡ ôm nhau big hug hệt như Mỹ con chính cống vậy. Anh còn đang đi vòng vòng tìm kiếm thì nghe có tiếng đứa trẻ nói đàng sau lưng:

- Chú Tư.

Phong quay lại nhìn đứa bé. Thằng nhỏ rụt rè đứng ngó anh trân trân. Anh ngạc nhiên không biết tại sao thằng nhỏ lại biết tên anh hồi còn ở nhà. Người đàn ông đang lẽo đẽo đi sau đứa bé, chạy vội đến gần anh. Ông ta chưa dám xác nhận ngay anh Việt Kiều có đúng là em mình hay không nên hỏi trước cho chắc ăn:

- Chú tư Phong phải không?

- Anh Hai!

Phong đứng trân người trước sự đổi thay phũ phàng mà anh không bao giờ ngờ tới. Đây là bố con anh hai mình sao?

Đứa trẻ anh chưa bao giờ biết mặt đã đành, nhưng còn người cha của nó?

Anh không thể tưởng tượng ra nổi một thứ hình hài như thế này. Mới xấp xỉ năm mươi mà Hai Quân trông như một ông cụ già ngoài bẩy chục. Người gầy đét như con mắm. Đầu tóc bù xù muối tiêu mà hết 80% là muối. Cặp mắt thụt vô sâu như hai hố nước đục. Má hóp lại. Da mặt lên nước như một pho tượng đồng đen. Cả hai bố con giống như hai cái cột nhà cháy, đúng là dân ruộng không chạy đi đâu được. Phong thẩy valise xuống đất, ôm lấy đứa cháu, nghẹn ngào:

- Thằng Hiền đây hả? Sao con nhận ra chú, hay vậy?

Thằng bé chỉ được coi tấm ảnh của chú nó hồi còn đi học thế mà nó nhận ra ngay.

Bố con Hai Quân và Phong kéo nhau ra chiếc Taxi bao sẵn để về Long Khánh. Phải mất 3 tiếng đồng hồ mới về đến nhà. Ông tài xế đã lớn tuổi nhưng vui tính, lính cũ Sư Đoàn 5BB. Trên đường về, ông và Phong chuyện trò rất tương hợp. Cách anh ăn nói cũng như những câu chuyện trao đổi khác xa cái vỏ ngoài xập xệ của anh khiến ông rất có cảm tình và tỏ ra kính trọng anh. Tới nhà, ông lịch sự bước xuống mở cửa xe cho Phong, lấy valise đem vô tận trong nhà cho anh, còn gián tiếp khen anh trước mặt mọi người trong nhà:

- Những người ở Mỹ về sành sỏi như cậu ít có lắm. Ai về cũng khuân về cho cả đống đồ. Tội gì chở củi về rừng cho mệt. Ở đây có tiền là thứ gì cũng có hết, mà lại còn rẻ hơn ở bên Mỹ nữa. Đi đường xa nhẹ nhàng như cậu thế này là khỏe nhất. Tôi phục cậu đấy.

Hai Quân từ lúc gặp Phong, thấy em mình xúi xó không bằng ai trong lòng kém vui, nhưng không dám nói ra. Cả vợ con Quân cũng vậy. Câu khen xã giao của ông tài xế đã đánh tan được cái tâm trạng đó. Phong cảm thấy không cần gì phải giải thích thêm với anh chị. Nhưng riêng với thằng Hiền thì anh hứa lớn lên tí nữa sẽ sắm cho nó cái xe gắn máy để đi học. Nó mừng quýnh nhẩy cà tửng cà tửng.

Cái xóm nhà quê hẻo lánh này chẳng có mấy gia đình. Nhà nọ cách nhà kia có khi cả hàng trăm mét. Có em ở Mỹ về nhưng vợ chồng Hai Quân cũng chẳng báo tin cho ai.

Thế nhưng đến chiều tối thì đã có khách đến thăm. Người khách này là tên công an xã. Nó bước vô trong nhà là oang oang cái miệng chào mừng chú Việt kiều ở Mỹ mới về thăm nhà. Nó còn quá trẻ đến độ phải nói là hồn nhiên, dân Thanh Hóa mới vô, có lẽ mới vô nghề nên còn ít nhiều tính bản thiện trong người. Phong cảm thấy tội nghiệp nó.

Anh tin thằng nhỏ cũng chỉ tới vòi tiền thôi nên móc bóp rút ra tờ giấy một trăm dollars nhét vào tay nó nói là để nó uống càfé. Thằng bé ngệt mặt ra. Từ xưa đến nay nó không thấy có ai tốt và cho nó nhiều tiền như thế. Chỉ trong khoảnh khắc nó tự dưng có cả một số tiền lớn như thế này trong tay, hơn một triệu rưởi bạc chứ ít sao, nó tính nhẩm, hơn hai tháng lương kia đấy, mà là tiền Mỹ nữa.

Cái đầu chật hẹp của nó bắt đầu mở rộng ra. Nó nhìn nhận rằng người nào ở Mỹ về cũng lắm tiền. Đúng là nước Mỹ giầu có thiệt. Nó hí hửng mở banh tờ giấy bạc ra, lật qua lật lại coi cho rõ. Tin chắc nó chưa nhìn thấy đồng một trăm dollars Mỹ bao giờ. Nó cám ơn đi cám ơn lại và bảo đảm với Phong như là một việc làm để trả ơn:

- Chú cứ ở nhà chơi cho khỏe, khỏi phải trình diện trên xã. Chuyện ấy để cháu lo.

Công tác thăm dân của ông nhỏ nhà nước chỉ ngắn gọn trong ít phút. Không khách sáo. Không rườm rà. Mặc dù trong lòng thằng bé suy nghĩ thế nào không biết, nhưng bề ngoài xem chừng nó còn có chút tình người. Phong cho là mình đã gặp hên. Một trăm bạc bỏ ra để mua sự yên ổn cho chính mình và cho gia đình anh chị là cái giá đáng phải trả.

Khách khứa chỉ có mấy gia đình lối xóm, vợ chồng Hai Quân tính vài bữa nữa mời họ tới ăn bữa cơm gia đình thôi chứ chẳng còn ai thân thiết ở đây để mời mọc. Thế nhưng bất ngờ ngay sáng hôm sau lại có thêm mấy người khách nữa cũng không mời mà tới.

Thằng Hiền hôm nay có chú nó về nên được nghỉ học. Gia đình Hai Quân vừa kéo nhau ra chợ ăn phở về thì đám khách lạ tới. Họ đi trên một chiếc xe hơi Mercedes đời mới sang trọng. Trên xe ngoài tài xế còn có hai người đàn bà và một cô gái trẻ. Nhìn cách ăn mặc và trang sức trên người họ, ai cũng có thể đoán ra họ thuộc các giai cấp khác nhau. Chiếc xe đậu lại trước cổng. Người đàn bà ăn mặc xềnh xoàng ngồi băng trước ngang tài xế mở cửa xe xuống trước. Mụ xồng xộc đi vô như một người trong nhà. Còn chưa bước tới cửa, mụ đã ong óng gọi vô bên trong:

- Chị Hai có nhà không, có khách quí tới thăm nè.

Vợ Hai Quân và cả nhà đang ở ngoài vườn sau. Nghe có khách đến thăm, chị vội vàng bước ra. Tưởng ai. Thì ra là mụ Hoa bán quần áo cũ ngoài chợ mà chị vẫn thường gặp. Chị chợt nhớ ra cái vụ mụ Hoa muốn mai mối con gái bà Ba Càfé trên Tân Phong cho kỹ sư Phong em chồng của chị.

Không biết mụ Hoa nghe tin ở đâu mà biết chú Phong về lẹ thế. Mấy lần gặp chị ở ngoài chợ, mụ Hoa đã có ý ướm thử nhưng chị chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Chị không ngờ, tưởng chuyện chơi mà lại hóa thực. Chị không còn biết phải xử trí ra sao, đành phải mời khách vô rồi từ từ giải quyết. Chị ra tận xe mời mẹ con bà Ba vô nhà, rồi chạy ra sau nói đầu đuôi sự việc với chồng và em để xem ý kiến của hai người.

Bà Ba càfé là một người đàn bà từ ngoài Bắc vô trong này làm ăn. Nghe nói bà ta giầu có lắm, lại là vợ của một ông lớn ngoài Hànội. Bà xuất thân là một nông dân đi ở đợ. Chồng bà Ba năm 54 là một tên đội trưởng đội cải cách ruộng đất. Bà có 5 người con, cả trai lẫn gái đều đã trưởng thành. Mỗi người con hiện đang làm chủ một cơ sở kinh doanh đồ sộ riêng. Ông chồng có vợ bé và đang ở với bà này ngoài Bắc. Bà Ba lớn tuổi rồi, mê tiền hơn là mê đàn ông, nên thả lỏng cho chồng muốn làm gì thì làm. Còn bà dắt cô con gái út vô Nam làm ăn, mua bán càfé xuất khẩu.

Cơ sở kinh doanh chính của bà đặt tại ngã ba Tân Phong ngay đầu tỉnh lỵ Long Khánh. Tuy rằng không còn sống chung, nhưng bà vẫn làm ăn dưới cái dù của chồng. Bà thường khoe khi thì ông bộ trưởng này, khi thì ông thứ trưởng nọ ghé thăm và ăn uống ở nhà bà. Bà không chỉ làm ăn ở Long Khánh mà còn vươn tay dài ra tận đến vùng Ban Mê Thuột.

Bà gây dựng cơ sở kinh doanh này cho cô con gái út. Cô Út tên Chi, năm nay đã 25, chưa chồng. Cô học hành không tới đâu, nhưng về khả năng làm tiền, nếu so với người mẹ thì cô rất xứng đáng được kể là hậu sinh khả úy. Tiền bạc cô không thiếu. Cô chỉ còn thiếu một người đàn ông bên cạnh để trang trí cho cái gia tài đồ sộ của cô cho đẹp mắt. Tiêu chuẩn phải là đẹp trai, lịch lãm, có bằng cấp, mà phải bằng ngoại mới hách. Việt Kiều Mỹ là ưu tiên một. Dân dắt mối đã giới thiệu cho cô một số ứng viên ở Mỹ về, nhưng ai cô cũng chê. Người thì cô chê không đủ thước tấc. Kẻ thì chê cô hồn các đảng. Người khác chê cù lần lửa v.v.

Mụ Hoa tuy chưa biết mặt mũi Phong ra sao nhưng xem ra mụ rất tự tin anh sẽ được cô chấm đậu. Hai Quân nghe chưa hết câu chuyện đã bực bội nạt vợ:

- Cái gì mà kỳ cục vậy?

Vợ Hai Quân tỏ ra vô cùng bối rối. Chị chống chế với chồng:

- Tôi đâu có ngờ.

Phong sợ xẩy ra chuyện không vui giữa hai vợ chồng anh mình nên pha trò để làm loãng đi bầu không khí ngột ngạt:

- Em trúng mối này thì anh chị khỏe rồi. Anh chị khỏi lo. Em nhất định cố gắng.

Phong nhận lời gặp khách với chị dâu:

- Chị cứ ra nói với người ta ngồi chơi chút xíu. Em ra ngay.

Vợ Hai Quân vừa đi ra, Phong cũng đứng lên liền. Anh đặt tay trên vai anh mình, tươi cười trấn an anh rồi bước ra nhà ngoài. Anh làm bộ mặt nghiêm trang, hai tay đan vào nhau trước ngực, cúi đầu chào từng người, ngoan ngoãn như một học trò mẫu giáo:

- Chào bà, chào cô, chào chị.

- Không dám chào cậu.

Cô gái và mụ Hoa cúi đầu đáp lễ. Chỉ một mình bà Ba lên tiếng chào lại Phong. Khách ngồi trên những chiếc ghế đẩu đặt hai bên chiếc bàn dài kê ở giữa nhà. Bộ bàn ghế đều bằng gỗ tạp rất sơ sài. Hai mẹ con bà Ba ngồi một bên. Bên kia mụ Hoa ngồi đối diện với cô con gái. Còn một cái ghế trống Phong tính mời chị Hai ngồi, nhưng quay qua thấy chị đã trở vô nhà trong. Trong khi chị Hai lấy nước mời khách, Phong ngồi nói chuyện với bà Ba. Trước hết bà giải thích lý do việc bà đến thăm:

- Chúng tôi cũng ở gần đây thôi, nghe tin ông bà Hai có em ở bên Mỹ về chơi nên cố ý đến thăm để tỏ tình lối xóm.

Câu chuyện giữa hai bên phần lớn đều là chuyện xã giao, chuyện trên trời dưới đất, chuyện bên Mỹ bên ta. Thỉnh thoảng bà Ba hỏi chêm một vài câu cố ý để moi ra những gì bà muốn biết. Mục đích của bà là đi điều tra lý lịch và khảo sát gia cảnh của chàng rể tương lai mà bà được giới thiệu. Phong biết thế, nhưng anh vốn không có chủ đích nên chẳng cần phải ý tứ hay thận trọng gì cả. Chẳng hạn khi bà Ba hỏi anh hiện làm nghề gì ở bên Mỹ và lương lậu ra sao, anh trả lời ẫm ờ rằng anh đi làm mướn cho người ta nên chỉ tạm đủ sống qua ngày.

Có khi bà Ba đặt ra hàng chuỗi câu hỏi chung quanh đời tư của Phong. Đây là điều cấm kỵ trong một xã hội văn minh. Bà không cần đắn đo, cứ hỏi tới như kiểu công an hỏi cung can phạm. Phong cảm thấy bực bội. Anh còn cứ tưởng thứ dân vô học miền Bắc xã hội chủ nghĩa này mấy chục năm nay đã biết được thế nào là văn minh, thế nào là lịch sự. Không ngờ cái tính bần cố nông của họ không sao tẩy rửa được. Phong rất bất mãn nhưng vì danh dự và sự an nguy của anh chị, anh cố kìm hãm. Rồi đến khi bà Ba hỏi về vấn đề học hành, bằng cấp, và vợ con của anh, Phong không chịu được nữa. Anh phá ngang để trả đũa:

- Dạ, cháu có đi học, đậu được cái bằng lái xe. Còn nghèo lắm, ấy vậy mà các cô Mỹ trắng gạt ra không hết kia đấy.

Người đàn bà vờ vịt không muốn hiểu chủ ý của Phong hay không hiểu thật?

Nghe anh trả lời, bà ta bật lên một tràng cười khoái trá. Chi ngồi bên cạnh mẹ nhìn thấy vấn đề. Mẹ nàng đã đi quá giới hạn xã giao bị Phong bỡn cợt lại. Câu trả lời của Phong lại rõ ràng là có ý xỏ xiên khinh thị, đồng thời còn cố chọc tức nàng vì cái nước da bánh mật của nàng. Chi sượng và giận đỏ mặt. Tự ái nổi lên, nàng muốn kéo cả hai mẹ con nàng ra khỏi tình trạng bất lợi, nhưng lại phản ứng dung theo cung cách của công an Việt cộng:

- Anh Phong dỡn mặt kiểu đó là không được đâu đấy. Ở đây không ai dám ăn nói lỗ mãng với bà ấy đâu. Tôi cho anh biết.

Nói hết câu, Chi lập tức đứng dậy kéo mẹ ra về trước sự ngỡ ngàng của mụ Hoa. Nhưng Phong thì rất thản nhiên.

Thế mà không hiểu sao Chi lại trở lại thăm Phong lần nữa. Nàng đến một mình bằng xe gắn máy. Phong lịch sự gởi lời xin lỗi bà Ba. Chi cũng xin lỗi Phong về sự nóng tính của mình. Tuy cuộc gặp gỡ chỉ là miễn cưỡng, chuyện chẳng có gì để mà nói giữa hai người, nhưng đây chính là cách nối lại nhịp cầu cho khỏi bị sụp đổ. Còn những chuyện quan trọng thì được đề cập đến một cách kín đáo theo một cung cách đặc biệt do người môi giới là mụ Hoa đem đến.

Mụ Hoa đến thăm vợ chồng Hai Quân đều đều. Khi thì gặp vợ Hai Quân ở ngoài chợ. Khi thì đến nhà tiếp xúc với cả hai vợ chồng. Mụ đến nhà mang theo có khi là kẹo bánh, có khi trái cây. Mỗi lần tới thăm, mụ đều đưa đẩy câu chuyện để tìm cách đắc nhân tâm vợ chồng Hai Quân.

Mụ kể lại nào là bà Ba khen vợ chồng anh chị hiền lành. Gia đình đạo đức, nề nếp. Nào là chỉ gặp Phong có một lần là bà đã có cảm tình ngay. Phong là người lịch lãm, có kiến thức, khéo ăn nói v.v. Còn cô con gái cưng của bà Ba thì dĩ nhiên chịu cậu Phong hẳn rồi. Cô ta khen cậu có những nét hấp dẫn hơn những người thanh niên khác ở chỗ thẳng thắn và lối nói chuyện dí dỏm. Đôi khi ăn nói ngang như cua bò thật đấy, nhưng lại là nét duyên dáng, đáng yêu của một người đàn ông có bản lãnh. Mụ không ngượng miệng vơ vào một cách trắng trợn:

- Đã thương rồi thì bồ hòn cũng ngọt ấy mà.

Sau khúc dạo đầu mụ mới đi vô trọng tâm của vấn đề là việc tình duyên của hai người. Mụ vẽ ra một tương lai đầy sán lạn cho mọi người liên hệ. Rằng sau khi làm đám cưới, Phong sẽ bảo lãnh cô Chi qua Mỹ. Vấn đề nhà cửa, xe cộ này khác ở bển khỏi phải lo. Chuyện bảo lãnh cũng chẳng có gì khó, rất mau thôi, vì ông Ba, bố cô Chi đang làm lớn lắm ngoài Hànội. Một thời gian cô Chi lại lãnh mẹ cô sang mấy hồi. Cái gia tài của mẹ con bả chuyển sang đó chắc cũng không khó khăn gì. Ăn mấy đời không hết. Còn anh chị Hai bên này cũng yên tâm. Dăm ba mẫu càfé quá đủ sống rồi. Cô Chi lo chuyện đó dễ như trở bàn tay thôi…..

Có mặt cả nhà, Hai Quân đem vấn đề mụ Hoa mai mối ra hỏi ý kiến em:

- Ý chú Tư thế nào, chứ tôi thấy khó khăn lắm.

Phong nghe chau mày, trả lời anh chị ngay, không cần suy nghĩ:

- Không được đâu. Người ta quyền quí lại giầu có. Nhà mình nghèo mạt rệp. Vả lại, lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống chứ anh Hai.

- Chú nói thế nghĩa là sao? - Hai Quân không hiểu hỏi lại em.

- Anh em mình đã từng bị khốn đốn, anh không nhớ sao?

Vợ Hai Quân bây giờ mới lên tiếng xen vào:

- Nhưng bây giờ đâu còn giống như ngày xưa nữa, chú Tư thấy chứ?

- Dạ, em chỉ thấy loại người này thì trước sau gì và ở đâu cũng giống như nhau thôi.

Vấn đề được đem ra bàn bạc trong gia đình, kết quả chẳng đi đến đâu. Hẳn nhiên đã có sự thiếu nhất trí giữa ba người. Hai Quân hầu như bao giờ cũng ba phải. Vợ lại có vẻ thiên về những cái lợi trước mắt. Còn Phong thì cương quyết dứt khoát ngay từ đầu. Sau lần gặp đầu tiên, Phong đã mang ấn tượng mẹ con Chi là thứ đàn bà không thể coi thường. Hơn nữa, họ lại có tiền và có thế lực đàng sau lưng. Đụng chạm đến những loại người của chế độ đương quyền là điều rất không nên. Kinh nghiệm cho thấy đụng tới bọn có tiền, và có thế lực tại địa phương luôn luôn là điều tối kỵ đối với bất cứ ai.

Phong vẫn không quên rằng trên đầu anh vẫn còn cái bản án treo tội hành hung công an và trốn lính ngày xưa, nên càng phải thận trọng hơn.

Anh trở về mục đích là để xem xét tại chỗ tình trạng của gia đình anh chị, tìm cách giúp họ được cái gì thì giúp hầu đền đáp lại những mất mát mà họ đã phải gánh chịu vì mình. Phong cho rằng anh mình hiền lành quá cỡ nên thiệt thòi cho vợ con. Anh dự định ở nhà ít nhất vài ba tuần lễ để lo sắp xếp mọi chuyện trong gia đình anh chị cho đâu vào đấy.

Thế nhưng mới về được có mấy ngày thì đã lại có vấn đề xẩy ra. Phong quyết định trở về Mỹ để tránh tình trạng lo lắng và khó xử cho anh chị cũng như những bất trắc xẩy ra cho chính mình. Thấy em có ý định ra đi, Hai Quân rất buồn, nhưng cũng phải đồng ý trước sự thuyết phục chí tình của em. Phong âm thần trở về, rồi lại lặng lẽ ra đi. Những người lối xóm hầu như không hay biết gì. Chỉ tội nghiệp thằng Hiền vẫn cứ tưởng chú Phong đi Saigon chơi rồi lại trở về với nó. Phong thương cháu quá nhưng đành phải nói dối nó.

Lên Saigon, việc trước tiên của anh là đi sắm mấy bộ đồ vía đã rồi mới tìm một khách sạn nào đó ở đỡ. Chuyện ăn mặc anh chẳng bao giờ quan tâm, dù là ở đâu cũng vậy. Nhưng nhập gia phải tùy tục, anh đã ghi tâm khắc cốt lời bạn bè căn dặn trước khi về, rằng Việt Kiều về Saigon không nên quấy quá gặp chăng hay chớ, mặc phải à la mode, ở phải sang, đi phải điệu, ăn phải sành, và chi phải đẹp thì chúng nó (VC) mới sợ. Còn không thì chúng coi như rác rưởi. Quen thuộc, kể cả thân nhân coi chẳng ra cái thá gì.

Quả không sai! Khi đi mua áo quần, Phong vừa bước vô tiệm, bà chủ tiệm mặt tròn như cái bánh ú, ngó anh bằng một nửa con mắt có đuôi, chu cái mỏ như muốn tống quan ôn:

- Đi xin việc hả, ở đây không cần người làm đâu.

Sau đó, Phong vô khách sạn mướn phòng. Lại một sự việc tương tự xẩy ra. Lão quản lý đang lui cui sổ sách, ngước lên trông thấy anh, lão nheo cặp mắt kiếng như muốn lột từng mảnh vải trên người anh, rồi nhả giọng khinh khỉnh:

- Đi đâu, có lộn chỗ không đấy?

Thế có đáng ghét không kia chứ. Phong muốn tặng cho lão một bạt tai hết sức, nhưng lão đã có tuổi. Anh thọc tay vô túi quần móc ra một sấp dollars thẩy lên quầy trước mặt lão, lạnh lùng đáp:

- Mướn phòng.

Tức thì mọi việc liền trở nên tốt đẹp. Lão quản lý riu ríu xin lỗi. Tên bồi phòng cũng đứng đó, liền le te ôm chiếc valise rách cho Phong dẫn anh lên lầu.

***

Những ngày còn lại ở Saigon để chờ chuyến bay, anh tìm gặp lại được Vinh, người bạn khốn khổ với anh ngày nào. Vinh ở với vợ bên Khánh Hội. Sau 6 năm trời bán mạng cho số phận bên Cam Bốt, bị thương 3 lần, Vinh được giải ngũ, lên Saigon kiếm việc làm và lấy vợ. Vợ chồng Vinh ở một căn nhà sàn ọp ẹp nằm trên một con rạch nước đen như nước cống, lúc nào cũng bốc mùi tanh lợm giọng. Những ngày này, Phong muốn Vinh cùng đi chơi cho có bạn, anh thân mật tếu với vợ Vinh có ý để xin phép:

- Chị Vinh cho tôi mượn đỡ thằng cả đẫn này vài bữa nghe, phải có nó chứ ở cái Hòn Cuội Viễn Đông này tôi không quen ai hết.

Vợ Vinh cười xề xòa:

- Anh bợ luôn dùm đi được thì càng tốt.

Đối với Phong, Saigon ngày nay không còn xứng đáng với cái tên Hòn Ngọc Viễn Đông nữa. Anh gọi đùa là Hòn Cuội Viễn Đông. Trước mắt anh Saigon bây giờ chỉ là một cái ổ kiến-người khổng lồ. Khắp nơi, bầy kiến-người hối hả bò xuôi bò ngược trong cái không khí ồn ào của đủ mọi thứ âm thanh hỗn độn, mù mịt khói xe và cát bụi.

Dưới lòng đường, xe hơi, xe đạp, xe gắn máy, xe xích lô, xe ba gác tranh nhau chạy bạt mạng không đường lối, đan quyện vào nhau giống như dòng sông Hậu mùa nước lũ, cuồn cuộn mang theo cành cây, xác chết … và mọi thứ đổ ra biển.

Trên các vỉa hè, đâu đâu cũng gánh ăn, cũng bầy hàng ra bán. Những người dạo phố hay mua sắm phải luồn lách chen lấn mà đi. Rác rến ngập từng đống bất cứ chỗ nào. Nhiều bờ tường, gốc cây ở những chỗ ít người qua lại là những nhà vệ sinh lộ thiên công cộng. Mùi cứt người, nước tiểu xông lên nồng nực, nhất là vào những lúc trưa trời nắng gắt. Đội quân ăn mày dàn trận trên khắp địa bàn thành phố, đông không sao kể xiết. Kinh hoàng hơn hết là khắp nơi trên đường phố, trong các khách sạn, những nơi công cộng, bọn côn đồ, móc túi, đĩ điếm ngang nhiên lộng hành.

Ngay buổi chiều vô khách sạn, Phong vừa lên nhận phòng, chưa kịp sắp xếp và thay đồ thì đã có ngay một ả giang hồ còn trẻ măng, ăn mặc vô cùng hớ hênh, xô cửa vào. Cô ả cười toe toét làm bộ như con nhà lành nhưng lại có tính lơ đễnh:

- Ủa, lộn phòng rồi.

Nhưng ngay sau đó, ả vô đề trong khi Phong vẫn còn ngơ ngác, chưa kịp phản ứng:

- Anh mới tới hả, Việt Kiều phải không? Em biết mà. Anh có cần gì không?

Cô ả hỏi quá nhiều Phong không kịp nhập tâm từng chuyện, anh lắc đầu thất vọng:

- Có, tôi đang cần yên lặng để nhỉ ngơi.

Ả trề môi gợi ý:

- Thư dãn một chút, có sao đâu.

Phong nghĩ chỉ có tiền mới là diệu kế để đuổi hạng người này. Anh móc bóp lấy tờ giấy 5 dollar nhét vào cái soutien treo hờ hững trên ngực cô ả, đồng thời dỗ dành:

- Anh cần nghỉ ngơi, sáng mai còn phải đi sớm. Ít bữa còn trở lại nữa. Gặp em sau, ok?

- Thiệt hông? Anh nói dóc?

- Thiệt chứ sao không thiệt. Đây là anh đặt cọc đấy. Nhớ gặp lại nghe.

Phong vừa nói vừa đẩy cô nàng ra cửa. Ả được tiền cọc, hôn vào má Phong một cái chụt, bước ra cười toe tóet, còn từ giã bằng một câu tiếng Anh ăn đong của chị em ta:

- Nhớ ngheng, xi zu ờ ghen (see you again)!

Chiều hôm sau, Phong và Vinh kéo nhau đi dạo phố, anh định mua cái gì về làm quà cho vợ Vinh. Khi cả hai vừa dừng lại trước một cửa tiệm bán dầy dép, bất ngờ một đứa bé trai từ sau chen tới đứng chận trước mặt. Nó đưa cho Phong một cái bóp và nói:

- Chú làm rớt cái bóp đàng kia. Cháu lượm được đem trả lại chú.

Theo phản ứng tự nhiên như hồi còn đi bộ đội, Vinh chụp lấy tay thằng bé, bẻ quặt lại đàng sau. Thằng bé đau la oai oải.

Phong sờ lại túi quần và nhận ra đúng cái bóp của mình, nhưng trong bóp không có tiền. Cũng là kinh nghiệm Phong học được từ bạn bè ở bên Mỹ về cách giữ tiền và đề phòng móc túi tại Saigon. Trong thời gian ở Việt Nam, không bao giờ anh để tiền trong bóp. Cái bóp luôn chỉ có copy tấm passport và số điện thoại của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Saigon.

Thằng bé là dân móc túi chuyên nghiệp. Nó biết anh là Việt Kiều, đem trả bóp lại thế nào cũng được tiền thưởng và chắc chắn không bị kêu công an. Trong lúc Phong còn đang mở chiếc bóp để xem xét bên trong thì công an đến. Đồng thời, một mụ xồn xồn không biết ở đâu cũng xông tới xen vào. Mụ nói tội nghiệp cho thằng bé nên tự nguyện đứng ra làm chứng. Mụ thề thốt chính mắt trông thấy thằng bé lượm cái bóp ở dưới đất lên.

Cái màn kịch này đạo diễn lớp lang quá khiến Phong cũng phải bán tín bán nghi. Anh sực nhớ lại một bài phóng sự đã đọc ở đâu đó không lâu. Bài phóng sự này kể về nạn móc túi ở khu vực chợ Bến Thành. Tụi con nít móc túi ở đây không phải là những tên làm ăn riêng lẻ. Chúng tập hợp chung quanh khu chợ Bến Thành có tới hai, ba chục đứa, làm thành một đạo quân móc túi chuyên nghiệp dưới quyền chỉ huy của một nữ tướng.

Nữ tướng này dân trong nghề gọi là Nữ Hoàng Chôm. Bọn này làm ăn có qui củ đàng hoàng. Tất cả những thứ chúng chôm chĩa được đều nạp cho Nữ Hoàng. Mụ phát lương cho chúng tùy theo thâm niên và công trạng. Còn lại là của mụ. Mụ phải đóng hụi chết cho công an để việc làm ăn được lâu dài.

Vì thế công an bắt móc túi cứ như là bắt cóc bỏ dĩa vậy, giữ một vài bữa rồi lại thả ra. Thời gian chúng bị bắt coi như thời gian chúng nghỉ phép. Đứa nào hành sự chẳng may bị khổ chủ bắt quả tang, mụ lập tức có mặt để giải vây. Phong nghi ngờ mụ đàn bà trước mặt anh biết đâu lại là Nữ Hoàng Chôm?

Sự việc xẩy đến làm mất thì giờ. Phong kéo tay áo chemise lên xem giờ, nhưng cái đồng hồ không còn nữa. Bây giờ anh mới phát hiện mình mất luôn cái đồng hồ. Vinh lộn tiết, anh xáng cho thằng nhỏ mấy cái bạt tai. Mụ đàn bà sừng sộ kêu thằng bé thưa công an Vinh vô cớ đánh người. Tên công an khám xét trên mình đứa bé nhưng không thấy tang chứng gì. Hắn đưa ra giải pháp đúng theo nghiệp vụ là hai bên có muốn thưa gởi gì mời về bót làm đơn công an sẽ điều tra giải quyết sau.

Nghe giải pháp công an đưa ra, Phong thấy cái bất lợi bao giờ cũng là về phần mình. Cái đồng hồ không tìm thấy trên mình đứa bé. Vinh đánh nó có công an chứng kiến. Đó là một thất thế. Đồng hồ tìm lại được còn khó hơn mò kim đáy biển, nhưng từ lá đơn thưa kiện của Phong có thể khui ra biết bao bất lợi cho anh.

Hơn nữa, anh đã tinh ý nhận ra đại úy công an chính là tên Lê Văn Bẩy mà anh và Vinh đã xô xuống sông Cầu Đôi ngày trước. Điều đó lại càng nguy hiểm vô cùng. Do đó Phong có lý do nghi ngờ rằng giải pháp Bẩy nêu ra có thể có ẩn ý. Phong tìm con đường rút lui. Anh rút trong túi tờ 20 dollars đặt vào tay thằng bé, ôn tồn nói với nó:

- Chú đây hơi nóng tính. Bình thường chú ấy dễ chịu lắm. Cám ơn em đã lượm được cái bóp và cho anh xin lại. Thôi đừng khóc nữa. Cầm lấy tiền đi ăn hủ tíu, uống nước mía được không!

Thằng nhỏ hết mếu máo, gật đầu rồi quệt nước mắt. Mụ đàn bà thấy lời quá rồi cũng xuống giọng phân trần:

- Tội nghiệp cho thằng nhỏ bị oan. Biết điều như anh này thế mới phải chứ.

Tên công an thấy tình hình biến chuyến đột ngột nên cũng phải xuôi theo. Hắn nhìn chăm chú vào hai người. Rồi như chợt phát giác ra điều gì mới mẻ, hắn thắc mắc:

- Trông hai anh hình như có vẻ quen thuộc?

- Chắc ông lộn người. – Phong giả tảng chối phắt.

- Có phải hai anh là Phong và Vinh không?

- Sao ông biết chúng tôi? – Vinh hỏi lại.

- Biết chứ, tôi là Bẩy đây nè.

Cả Phong lẫn Vinh cùng giả bộ mừng rỡ được gặp lại Bẩy. Trong thâm tâm, Phong vẫn cảm thấy lo ngại. Anh đi một đường lăng ba vi bộ để vuốt tên công an:

- Chuyện chỉ là hiểu lầm làm phiền đến đại úy.

Vinh hiểu ý bạn, cũng hùa theo:

- Ông Bẩy lên đại úy hồi nào lẹ thiệt đấy nhá. Bây giờ chắc khỏe lắm rồi?

Công an Bẩy làm ra bộ thật thà, rút ruột ra với hai người:

- Nhờ có hai anh mà tôi được về thành phố đấy. Cũng may cái vụ đó tôi chỉ bị làm kiểm điểm thôi. Ông chú tôi là trưởng ty ở Vĩnh Long, ổng tống tôi về đây. Có phải rõ xui mà hóa hên không? Cũng là nhờ có hai anh.

Phong muốn làm một cái gì đó xã giao với Bẩy, anh đề nghị:

- Để mừng ngày gặp lại, chúng tôi mời ông đại úy chúng ta kiếm chỗ nào uống nước nói chuyện xưa được không?

Bẩy đồng ý. Cả ba kéo nhau vào một tiệm ăn ở gần đó. Ba người vừa ăn uống vừa tâm sự. Vinh muốn lấy le với Bẩy, giới thiệu Phong là giám đốc một cơ sở kinh doanh lớn tại Hoa Kỳ. Bẩy nghe vội chụp lấy cơ hội, hắn kể công trước rồi mới vô đề:

- Thấy không? Không có tôi, anh Phong đâu có đi Mỹ, có đúng không? Anh phải nhớ ơn tôi mới phải. Anh có tính về Việt-Nam làm ăn, về đây xem tôi có thể giúp gì cho anh được, tôi sẵn sàng. Chúng ta hợp tác với nhau cho vui.

Phong choáng váng trước việc nổ sảng của Vinh. Bạn anh đã phóng lao, anh đành phải theo lao vậy thôi. Phong phịa ra anh là một kỹ sư canh nông, đang làm chủ một trại chăn nuôi với đàn heo hàng vạn con. Tuy coi đồ sộ nhưng vì ở Mỹ mọi chi phí đều cao cho nên cũng chẳng lời bao nhiêu. Anh về Việt-Nam trước hết là để thăm lại anh chị và bà con dưới quê. Đồng thời cũng có ý khảo sát tình hình xem có thể đầu tư được gì ở bên nhà không.

Theo Phong vì anh học chuyên ngành về chăn nuôi nên anh chỉ nên phát huy cái sở học của mình, không nên mạo hiểm vô những ngành nghề mà anh không biết. Sau một vài tuần đi thăm và khảo sát từ miền Hậu Giang trở ra cho tới Nha Trang, anh để ý thấy một kỹ nghệ mà chưa ai biết khai thác, hoặc nếu có thì cũng chỉ với qui mô nhỏ có tính cách gia đình. Đó là kỹ nghệ nuôi chó thịt.

Phong trào mộc tồn tại Việt-Nam đang phát triển tới một mức rất cao, và còn có khả năng lên cao hơn nữa. Anh đã đi vài ba nước khu vực Đông Nam Á như Trung Quốc, Nam Hàn hay Thái Lan, cũng đã ăn thịt chó của họ nấu, nhưng dứt khoát không có đâu sánh với Việt-Nam được. Đó là một ưu điểm của nước ta. Anh đã tìm ra nguyên nhân.

Đó là vì chó Việt-Nam được nuôi bằng thức ăn đặc biệt. Lại cách nấu nướng của ta cũng khác người. Phong ước lượng trong phạm vi thành phố từ Thủ Đức, Củ Chi xuống Bình Điền, mức tiêu thụ chó lên tới trên 2 ngàn con mỗi ngày, một số lượng không nhỏ. Mỗi con giá trung bình hiện thời khoảng 6 trăm ngàn đồng. Nếu áp dụng phương pháp chăn nuôi công nghiệp thì tiền lời một con không dưới 3 trăm ngàn. Như vậy tính ra từ một ngày, một tháng, rồi một năm, số lời thu được sau khi trừ đi mọi phí khoản, hao hụt, thuế má và vốn tái đầu tư, phải đếm bằng con số hàng chục, hàng trăm tỷ. Nếu tính qua đồng dollar Hoa Kỳ cũng phải hàng triệu, chục triệu….

Những con số Phong trình bầy làm choáng ngộp Lê Văn Bẩy. Hắn tự cảm thấy mình quá nhỏ bé và bất lực trước kế hoạch to lớn Phong vạch ra nên mới rụt rè hỏi lại:

- Nhiều thế thì lấy tiền đâu mà làm?

- Đó là vấn đề đang làm tôi bận tâm. – Phong giải thích - Tuy nhiên nếu tôi kêu gọi cổ đông thì có lẽ cũng không khó lắm. Điều quan trọng vẫn là cái giấy phép đầu tư. Mà ở đây thì thú thực tôi chẳng quen biết ai.

Phong vô tình gãi vào đúng chỗ ngứa của Bẩy. Hắn cho rằng cơ hội đã đến với hắn.



(*) ...Hắn mơ thấy mình sẽ làm Giám Đốc một cơ sở "nuôi chó con" lớn nhất nước và sẽ giầu to. Bẩy nói:

- Các anh cứ lo tìm người hùn, còn việc giấy tờ tôi lo hết. Nếu thiếu người hùn tôi sẽ kiếm thêm lo gì.

Phong bàn thêm về kế hoạch nuôi chó, dự tính tương lai sẽ có những văn phòng ở Hànội và Huế, v.v..

Bẩy nghệt mặt ra vì sung sướng nuôi mộng làm lớn. Anh nở phổi tuyên bố:

- Hôm nay tớ bao hết các cậu cứ ăn uống thoải mái. Mình nhất trí nhé. Các cậu cho tớ số điện thoại để tiện liên lạc.

Hai bên trao nhau giấy tờ liên lạc. Phong và Vinh đưa cho Bẩy địa chỉ của bóp Cảnh sát Hàng Xanh và biên vào mảnh giấy điện thoại trời ơi đất hỡi của một tiệm phở quảng cáo trên báo hàng ngày.

Bẩy nhã nhặn xếp mảnh giấy cẩn thận bỏ vào túi, bắt tay Vinh và Phong và xin phép đi về tiếp tục làm phận sự và hẹn một tuần sau khi xin được giấy phép mở công ty thì sẽ gọi điện thoại cho Phong.

Vinh và Phong rúc rích cười, hú vía. ...

Ba ngày sau, kỹ sư Việt Kiều Phong từ giã mọi người lên đường về Mỹ trong lòng tự nhủ là không bao giờ dám trở lại Việt-Nam nữa.



(*) xin lỗi tác giả vì nhận thiếu đoạn chót nên phải tự kết.