TÂY DU KÝ

Thiên Hương

"Ði một ngày đàng, học một sàng khôn", một câu ca dao quá quen thuộc nhưng thật đúng một trăm phần trăm.

Vì đây là một chuyến đi hoàn toàn tự túc, chứ không được sắp đặt nơi ăn chốn ở và chương trình dọn sẵn như đi với các phái đoàn du lịch khác; nên trước khi đi du lịch, chúng tôi đã đặt ra nhiều thời khóa biểu, chương trình khác nhau, rõ ràng từng ngày một, mỗi ngày đi chơi một chỗ, trong 3 tuần, cân nhắc cái nọ cái kia, rồi đem đi theo, thấy cái nào tiện thì dùng. Nói ra thì có vẻ máy móc nhiêu khê, nhưng thực sự muốn đi thăm nhiều chỗ, với thời gian hạn hẹp, mà không có hoạch định một chương trình trước thì rất kẹt, đi đâu tùy hứng thì chắc chắn sẽ gặp trở ngại và không đúng như ý muốn.

Nhiều điều nên để ý là nếu chúng ta có tiền bạc rủng rỉnh, ăn xài đúng theo kiểu Mỹ nhà giàu thì không nói làm gì, nhưng nếu đồng tiền của chúng ta có giới hạn thì nên đi sau mùa hè, bắt đầu vào mùa thu, thì giá vé máy bay sẽ hạ xuống một nửa, tuy nhiên phải đem theo vài cái áo lạnh, vì mùa thu Paris, theo Phạm Duy tả đúng y chang là trời lúc nào cũng u ám, gió hiu hiu lạnh lại còn lất phất mưa. Dân Paris đã đi nghỉ hè về và bắt đầu đi cầy. Nếu chúng ta đi vào các tháng hè, thì dân Parisiens đi nghỉ mát ở bãi biển hay lên núi hết, Paris chỉ còn toàn dân du khách với nhau, nói tiếng "ngoại quốc" đầy đường, thời tiết ấm áp. Ðược cái nọ thì mất cái kia. Nếu dự định đi thăm nhiều nước thì điều tốt nhất là phải hoạch định chương trình mua vé xe lửa. Hệ thống xe lửa bên Âu Châu tiện lợi và đúng giờ nhất thế giới. Tầu ghi chạy vào 12 giờ 05, mà chúng ta cứ tà tà kiểu Việt-Nam lai rai ba sợi đến 12 giờ 05 phút 30 giây thì coi như là "nhỡ tầu".

Có hai kiểu du lịch. Nếu không quen ai, thì hay hơn hết là đi theo Phái Ðoàn, vừa rẻ vừa tiện lợi, không phải lo chỗ ăn chỗ ở, nhưng đi đâu cũng phải theo nhau không được tự do. Nếu có bạn bè, hay biết thêm một thứ tiếng Ý, Pháp hay Ðức thì đi tự túc có vẻ thú vị hơn, tuy là mệt nhọc vì phải tự lo lấy hết. Dân Âu Châu tuy vậy rất ít người biết tiếng Anh.

Mua vé xe lửa loại đặc biệt gọi là EURAIL PASS, loại vé chỉ dành bán cho người ngoài Âu Châu thôi. Khi mua vé máy bay thì nên hỏi nhân viên lo về du lịch luôn về EURAIL PASS, họ sẽ chỉ rõ cách mua và cho biết đủ mọi dữ kiện. Khi vé xe lửa đến tay thì chúng ta cũng có cả thời khóa biểu, cả ngàn ga xe lửa lớn bé bên toàn Âu Châu.

Thẻ EURAIL PASS là vé xe lửa hạng nhất, cũng có giá cả lên xuống tuy từng mùa, tùy theo số người đi chung nữa. Vào mùa hè thì đắt hơn, có loại 5, 10, 15, 21, 30 hay 60 ngày. Tuy nhiên với EURAIL PASS chúng ta có thể đi toàn thể Âu Châu, từ miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ, lên đến tận Thụy-Ðiển, Na-Uy trên tận miền Bắc, không cần mua vé trước, gặp chiếc nào nhảy lên là xong; ngoại trừ dùng xe lửa tốc hành (Train Grande Vitesse) gọi tắt là TGV của Pháp thì phải mất khoảng 6 đô la để giữ chỗ trước mà thôi.

Chúng tôi không mướn xe lái bên Âu Châu vì nhiều lý do sau đây:

1.- Tiền xăng rất đắt đỏ gấp 4 lần gía xăng ở Mỹ khoảng 4 đô la 1 gallon.

2.- Ðường phố rất chật hẹp không có chỗ đậu xe.

3.- Tiền bảo hiểm khá đắt.

4.- Dân Pháp và Ý lái xe khá ẩu.

5.- Lái xe bên Ðức nhiều khoảng xa lộ không có giới hạn tốc độ, nghĩa là lái nhanh bao nhiêu cũng được, tùy theo khả năng của xe; nếu có đụng xe thì chắc là hai năm mươi, vào nhị tỳ sớm.

6.- Tiền "mãi lộ" (toll fee) đắt lắm, đi 1 quãng đường có khoảng 100 miles là có thể phải trả lên đến 12, 13 đô là thường.

Chuyến hành trình của chúng tôi bắt đầu từ lúc 2 giờ chiều tại phi trường Colorado Spings, sau khi xuất trình Passport, kiểm soát hành lý, được ghi chuyển thẳng đến PARIS. Chúng tôi đổi máy bay ở Dallas rồi đi thẳng một lèo đến PARIS với chuyến phi hành dài 9 tiếng đồng hồ. Ngồi ê cả bàn tọa. Nhưng trên máy bay rất nhộn nhịp, cứ cách 1,2 tiếng thì lại được mời nước, rượu uống thả dàn, rồi xi nê hai ba phim, nghe nhạc, xem sách xem báo, hoặc ngủ gà ngủ gật vì chuyến bay đêm. Chúng tôi đáp xuống Paris vào 9 giờ sáng ngày hôm sau. Tin tức khí tượng ông phi công cho biết, trời lành lạnh, khoảng 7 độ C, mưa lất phất. Nhà đoan của Pháp cũng khá dễ dãi chỉ nhìn qua Passport chút xíu rồi cho đi.

Nên lưu ý là lấy hành lý các lộ trình ngoại quốc đều phải xuất trình cái phiếu gới hành lý cho người gác cửa. Vừa ra khỏi cửa đã có người nhà đón, Sơ Marie và Monique. Hai ngày đầu tiên, chúng tôi ở Bourdonné vùng ngoại ô Paris. Vì đến vào ngày thứ sáu, nên từ 10 giờ sáng đã có nhiều xe cộ từ Paris ra khỏi thành phố để về nhà từ ở các vùng ngoại thành phố, nên xe đã bắt đầu kẹt, đi khoảng 30 miles mà cũng mất gần một giờ.

Tới nhà vào khoảng gần 12 giờ trưa mà mắt đã cay sè, vì quá buồn ngủ. Nhìn lại đồng hồ thì mới 4 giờ sáng ở Mỹ. Rửa mặt mũi xong lên giường đánh một giấc đến gần 7 giờ tối mới lại sức.

Thăm viếng Lisieux

Ngày hôm sau, chúng tôi tháp tùng các Sơ Monique, Marie, Marguerite và Robert thuộc dòng St. Paul de Chartres, đi lên miền Normandie, thăm mộ Bà Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giê-Su ở Lisieux. Ði sáng sớm nên gặp nhiều sương mù. Vùng Tây Bắc nước Pháp là vùng canh nông cầy cấy và trồng táo rất nhiều. Chúng tôi đến nơi kịp vừa thánh lễ Chúa Nhật tại đền thờ Lisieux quanh năm có cả hàng chục ngàn tín hữu và khách hành hương đến từ khắp năm châu để chiêm ngưỡng Ðại Thánh đường nguy nga đồ sộ. Ngay đằng sau Thánh đường là mộ của hai bố mẹ Thánh Têrêsa.

Sau thánh lễ chúng tôi đến thăm viếng căn nhà nơi Thánh Têrêsa hồi bé cư ngụ. Căn phòng hãy còn trưng bày tất cả các thứ đồ chơi hồi thơ ấu, bên cái giường, bộ quần áo lúc còn trẻ thơ. Chúng tôi cũng đến thăm viếng nơi tồn trữ các hình ảnh kỷ niệm và bộ tóc vàng của Bà Thánh Têrêsa được cắt bỏ trước khi từ giã gia đình vào dòng kín, Carmel, lúc mới 15 tuổi. Thành phố Lisieux có thêm cái đặc điểm là cái vườn hoa đồ sộ, đủ mọi bông hoa cỏ lạ, muôn sắc, muôn màu xếp thành hàng lối, thật tuyệt đẹp. Chúng tôi rời Lisieux và trở về lại Bourdonné vào chập tối.

PARIS, KINH ÐÔ ÁNH SÁNG

Ngày hôm sau chúng tôi lên PARIS bằng xe lửa, rồi từ ga xe lửa tìm métro về khách sạn. Métro là một hệ thống xe điện ngầm dưới thành phố PARIS, rất tiện lợi cho người dân, cứ khoảng 2 phút lại có một chuyến, đi đến khắp mọi xó xỉnh của Paris. Hàng ngày có khoảng 5 triệu người sử dụng métro. Mỗi vé métro giá khoảng 1 đô la. Nếu mua một tập vé 10 cái một lần thì chỉ có 80 cents thôi. Ở mỗi trạm métro lại có một bản đồ cho mình tìm đường và tìm các chuyến nối tiếp nhau nên cũng không khó khăn gì lắm.

Ði métro cũng phải lo giữ đồ đạc riêng của mình và tiền bạc, vì lắm kẻ cắp. Tụi kẻ cắp này thường đi 2 mạng. Một đứa đụng vào mình, làm bộ rơi cái quẹt lửa, rồi xin lỗi, thì đứa thứ hai thừa cơ, móc bóp, giựt ví. Cỡ mình lớ ngớ sang đó, đi đâu cũng cầm máy ảnh hay máy quay phim, thì dân chuyên nghiệp biết ngay là du khách nên sẽ chiếu cố tận tình ngay. Tốt nhất là đề phòng cẩn thận, đàn ông đễ ví lên túi áo veste, đàn bà thông thường mua một cái xách, bỏ tiền vào đó, có giây đai thắt ngang lưng, trông hơi tức cười nhưng có vẻ là an toàn hơn hết.

Ðến Paris, chúng ta không thể nào quên thăm viếng các di tích lịch sử và thắng cảnh cần xem như tháp Eiffel, Viện Bảo Tàng Louvre, Nhà thờ Ðức Bà, Nhà thờ Montmartre, Lâu đài Versailles, Khải hoàn Môn ở Champs Élysées, Place des Invalides v.v... Chỗ nào cũng phải xếp hàng tàn canh, nguyên leo lên tầng thứ 2 của tháp Eiffel, mà chúng tôi phải sắp hàng hơn 2 giờ đồng hồ. Tất cả có bốn dẫy dài xếp hàng để lên trên tháp từ 4 chân cột, Ðông, Tây, Nam, Bắc. Paris về đêm, ánh sáng muôn màu, nhất là tháp Eiffel, được thắp sáng như ngày dạ hội.

Thành phố Paris về đêm có lẽ ồn ào nhất, vui vẻ nhất trên thế giới. Người dân Paris ban đêm đi đầy đường, người thì ăn nhậu, người thì đi sắm sửa, thanh niên thiếu nữ, dung dăng dung dẻ, tỏ tình khơi khơi giữa lộ, hoặc sắp hàng dài để mua vé coi cinéma. Dân Paris ăn diện ngất trời, những mốt may mặc bên Âu Mỹ, chắc là theo đuổi cả 6 tháng hay một năm sau mới bắt kịp. Nếp sống Paris rất gần với đời sống Việt-Nam của ta hồi trước ở Sàigòn. Người Việt-Nam chúng ta đến

Paris cũng không thể quên Quận 13, Porte D'Ivry, để đi chợ Việt-Nam, chợ Tàu, thăm viếng các quán ăn Việt-Nam và Trung-Hoa, cũng nhộn nhịp chẳng kém Little Sàigòn ở vùng Quận Cam bên Cali. Các thực phẩm có nhiều món ăn và trái cây rất thuần túy Việt-Nam như ổi xá lị to như trái bưởi, mãng cầu xiêm, na, dâu da, măng cụt v.v...

Nhưng giá cả thì khá đắt, một quả ổi xá lị giá cỡ 6 đô la, một quả măng cụt giá 1 đô la. Ngoài những chợ thực phẩm, quán ăn còn có những tiệm sách, tiệm vàng bạc, tiệm Vidéo Thúy-Nga, lúc nào cũng tấp nập người ra vào. Các tiệm phở và tiệm ăn rất đông khách Tây. Họ cũng gọi phở, cũng húp sùm sụp, cũng kêu món gỏi, món thịt bò nhúng giấm, nướng vỉ, ăn uống còn rành hơn người Việt-Nam nữa.

RÔMA, THÀNH PHỐ CỔ KÍNH

Chúng tôi đáp xe lửa đêm đi Roma. Khởi hành từ ga Lyon lúc 7 giờ tối, mãi đến 9 giờ sáng hôm sau mới tới Rôma. Tới nơi thì trời mưa phùn. Sơ Sabine Tuyết đã có mặt chờ sẵn để làm hướng dẫn viên những ngày thăm viếng Rôma. Chúng tôi về ngay nhà quản lý Việt-Nam (Foyer Phát Diệm) để trú ngụ qua đêm. Nhà quản lý Việt-Nam do các Sơ Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm quản trị. Ngôi nhà 4 tầng rất khang-trang sạch sẽ nên được nhiều khách hành hương từ các nước khác đến thuê mướn.

Chúng tôi được hướng dẫn thăm viếng Ðền Thánh Phêrô, nguy-nga đồ sộ, không thể tưởng tượng được. Các di tích lịch sự khác như đấu trường Colossée, nơi mà ngày xưa vua chúa La Mã đời vua Néron, ăn uống no say ở trên lầu, trong khi ở dưới thì đoàn thú dữ hổ và sư tử đang đùa dỡn đuổi bắt, cấu xé những tín hữu Thiên Chúa Giáo. Hoặc là nơi diễn ra các trận đấu của gladiators, một chết một còn. Nếu ai thua mà bị nhà vua ra dấu chỉ ngón tay cái úp xuống, thì sẽ bị người chiến thắng kia đâm chết ngay tức khắc, như chúng ta đã thường được xem lại trong những phim lịch sử Rôma.

Những Ðền Thờ Ðức Bà Cả, hay Thánh Phaolồ ngoại thành đều là di tích kiến trúc nguy nga cổ kính từ cả ngàn năm nay, với phương tiện thô sơ, mà đem những tảng đá khổng lồ từ dưới đất lên cao hàng 100 thước để thực hiện được, thì ta phải thực sự bái phục. Chúng tôi cũng có dịp được gặp Lm. Ðoàn Kết, người từ hơn 20 năm qua, đã điều khiển chương trình Việt-Ngữ, phát thanh từ Vatican. Cha Ðoàn Kết có hướng dẫn chúng tôi vào thăm đài phát thanh Vatican nơi phòng làm việc của toán Việt-Nam và thư viện chính của đài, ở đây chúng tôi cũng được dịp tiếp xúc với cha Hoàng Minh Thắng đang soạn bài trên một máy computer.

Chúng tôi được biết tuy Việt kiều ở Roma rất ít, đa số là các tu sĩ, nhưng các dịp Lễ Giáng Sinh hoặc Tết Nguyên Ðán, họ vẫn tổ chức những buổi họp mặt liên tu sĩ các dòng để hàn huyên và ăn tiệc chung với nhau trong tình thân ái đồng hương rất đằm th&# 7855;m. Trong thời gian ở Rôma, chúng tôi di chuyển bằng xe buýt. Xe buýt ở Ý, giống hệt xe buýt Việt-Nam, cũng chen lấn, cũng có ăn mày ăn xin, cũng bị giật nẩy người mỗi lần xe buýt ngưng. Ðường phố thì đầy xe hơi, có những loại xe tí hon chạy bằng điện, và xe gắn máy. Kỷ luật lái xe, không "lane", không cần đèn đỏ, đèn xanh của mấy trự lái xe gắn máy chắc cũng chả thua gì dân Mít ta ở Sàigòn ngày xưa. Chúng tôi ở lại Rôma 3 ngày 2 đêm, rồi lại đáp xe lửa về lại Pháp. Lúc về bị trễ vì có tai nạn xe lửa dọc đường làm hơn 10 người chết, họ phải détour chúng tôi lên tận Bruxelles, thuộc nước Bỉ, rồi mới quay về Paris.

LOURDES, THÁNH ÐỊA CỦA PHÉP LẠ

Về ở lại Paris một buổi chiều, sáng hôm sau, chúng tôi lấy vé TGV đi Lourdes, qua Bordeaux, nơi trồng rất nhiều nho và nổi tiếng về rượu vang thế giới. Ðến Bordeaux, chúng tôi xuống xe TGV rồi đáp xe lửa thường đi qua rặng núi Pyrénées, xuống vùng thung lũng Lourdes. Hằng năm có đến 6 triệu người hành hương ở Lourdes. Tháng 10 đã hết mùa hành hương nên Lourdes rất vắng vẻ, các cửa tiệm chuẩn bị đóng cửa hàng để đi nghỉ hè ở nơi khác. Vì vậy mà chúng tôi không phải sắp hàng để lấy nước phép. Theo nhiều người đi hành hương khoảng tháng 7, tháng 8 kể lại thì tuy có cả 50 cái vòi nước, nhưng khách hành hương cũng phải sắp hàng chờ cả 2,3 tiếng đồng hồ mới đến lượt lấy nước phép. Ở lại Lourdes một đêm, sáng hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đường, đáp xe lửa xuyên ngang qua miền Nam của nước Pháp, dọc theo biển Ðịa Trung Hải. Khí hậu, thời tiết khác hẳn với Paris, suốt miền Nam, luôn luôn có nắng ấm, cây cỏ xanh tươi. Chúng tôi xuống trạm xe lửa AVIGNON để chờ người quen ra đón.

AVIGON, GIÁO HOÀNG LÁNH NẠN

Ðây là một nơi cổ kính có sự tích đặc biệt là ngày xưa, Ðức Giáo Hoàng từ La Mã đến lánh nạn và xây cất một cái lâu đài khổng lồ.

Ðứng trên vòng đai lâu đài, chúng tôi cũng thấy cây cầu nổi tiếng trong bài dân ca của Pháp ngày xưa là "Sur Le Pont D'Avignon, On y danse on y danse...". Rời Avignon, chúng tôi đến nghỉ đêm tại nhà người bạn tại Cavaillon. Chúng tôi chỉ có vài tiếng đồng hồ để hàn huyên ôn lại những kỷ niệm vui buồn với gia đình người bạn cũ là anh chị Tuất, Patrick và bé Mylène, từ 25 năm nay không gặp. Anh chị Tuất đã đóng cửa nhà hàng ăn "Hoà Bình", cả một buổi chiều để tiếp khách, thật là một tình bạn sâu đậm làm cho chúng tôi khó quên.

Cô bé Mylène mới được 8 tuổi, chưa hề trông thấy chúng tôi bao giờ nhưng cũng hiếu khách vui vẻ không thua gì bố mẹ, nó cũng thức và nghe chúng tôi nói chuyện tới 1, 2 giờ sáng, và trước khi đi ngủ còn xin với mẹ cho nó thức dậy sớm để tiễn chúng tôi ra ga. Sáng sớm hôm sau chúng tôi lại trở về Avignon để đáp chuyến xe lửa lên đường qua Thụy-Sĩ.

THỤY SĨ

Ðường đi Thụy-Sĩ rất đẹp vì là vùng dẫy núi Alpes, có sông có núi, có hồ bên cạnh đường xe lửa. Khoảng 5 giờ chiều thì chúng tôi đến Lausanne, trình Passport để nhập Thụy-Sĩ. Tại đây có người quen ở tỉnh VEVEY, cách độ khoảng 25 miles ra đón chúng tôi. Ba thành phố lớn là Genève, Lausanne và Vevey, tọa lạc dọc theo bờ hồ LEMANS. Hồ Lemans là cái hồ giữa Pháp và Thụy-Sĩ, cái hồ nổi tiếng trong cuốn sách "Giã từ Vũ Khí" của Hemingway, quả thật là đẹp, rộng mênh mông, nước trong xanh. Bờ hồ khúc ngang thành phố VEVEY thả rất nhiều vịt trời và ngỗng, ngan, con nào con nấy to khổng lồ, xinh đẹp dạo bơi bên bờ hồ một cách thảnh thơi an nhàn như người dân Thụy-Sĩ vậy.

Gia đình bác Lợi, các em Tuấn & Nga, bé Châu, Tùng, Chi, Trang đã bỏ nhiều thì giờ tiếp đón chúng tôi trong tinh thần gia đình qúy mến, và dẫn đi thăm Genève, ngày hôm sau. Genève có nhiều kỷ niệm với Việt-Nam. Kỷ niệm đau buồn chia cắt đất nước năm 1954. Kỷ niệm đại hội thuyền nhân năm 1980. Tất cả đều xảy ra tại phòng họp Ðại Hội Ðồng LHQ, chúng tôi được dẫn vào xem. Ngoài khung viên treo hơn 128 lá cờ các quốc gia của Liên Hiệp Quốc. Ngân qũy của LHQ được chính Phủ Mỹ đài thọ hơn 50%. Phần còn lại là do sự đóng góp của các quốc gia khác. Thụy Sĩ có phong cảnh rất đẹp và phải nói là sạch sẽ nhất Âu Châu.

Dân tình có vẻ hiền hòa, nhưng đời sống có vẻ đắt đỏ hơn các nước Âu Châu khác. Kỹ nghệ chính của Thụy Sĩ là "mượn đầu heo nấu cháo", nghĩa là tiền của thiên hạ khắp năm châu gửi vào các nhà băng Thụy-Sĩ rất nhiều, kể cả của chìm của nổi của các tay trùm tham nhũng trên thế giới và chắc cũng có vài chương mục mang tên họ NGUYỄN, TRẦN, LÊ, LÝ... Chúng tôi ở lại Thụy-Sĩ hai ngày và chiều hôm sau trở về Paris, bằng TGV. Loại xe lửa tốc hành này chỉ chạy trên một bánh, có tốc độ lên đến 350 km/1 giờ (khoảng 220 mph). Về đến Paris lúc 10 giờ đêm, thì lại xui xẻo bị công nhân hệ thống métro đình công, nên tìm mãi mới có xe buýt để về nhà trọ.

SOLINGEN, ÐỨC QUỐC

Chúng tôi có người bạn quen 20 năm trước, cho người cháu lái xe đến đón từ Paris đưa qua Ðức. Muốn qua Solingen, chúng tôi phải di chuyển trên xa lộ miền Ðông Bắc nước Pháp. Xa lộ cũng rộng thênh thang, nhưng đi khoảng 100 cây số thì phải đóng tiền "mãi lộ" gần 60FF (khoảng 11 USD). Sang đến Bỉ, khúc xa lộ khoảng hơn 200 cây số, đều có đèn đường sáng trưng cách nhau từng 10m một.

Qua biên giới Ðức, đáng lẽ theo thủ tục thông thường chúng tôi phải xuất trình passport, nhưng có lẽ vì uể oải, vả lại thị trường chung Âu Châu sẽ hoàn thành vào đầu năm 1992, nên nhân viên gác giữ biên giới vẫy tay cho chúng tôi được đi qua thong thả. Vào đến xa lộ Ðức, xe đi vùn vụt. Anh Choan, lái xe cho tụi tôi cho xe phóng lên đến 180 km/giờ mà vẫn bị qua mặt. Hỏi ra mới biết là xa lộ ở Ðức, nhiều chỗ không có giới hạn tốc độ, chạy nhanh bao nhiêu cũng được. Nhưng cũng có chỗ giới hạn khoảng 100 km một giờ thì coi chừng, đi quá tốc độ hạn định là bị chụp hình ngay, gửi về nhà và nộp phạt, không chối cãi được, chứ chả có phú lít gì ráo trọi.

Chúng tôi đến SOLINGEN khoảng 7 giờ tối. Hai vợ chồng người bạn là anh chị Hồng & Passmann đã chờ sẵn để đưa chúng tôi đi ngay lên Dusseldorf, thủ phủ của Tiểu bang. Nước Ðức được chia làm 5 tiểu bang và Dusseldorf là một thủ phủ. Tiểu bang này rất mạnh về kỹ nghệ sắt và thép. Solingen là một thành phố nổi tiếng về dao kéo sắt bén và tốt nhất trên thế giới. Ða số người Việt ở đây đều làm cho các hãng dao kéo và rất được tín nhiệm. Anh P. chồng chị Hồng, sinh trưởng tại Solingen, và trước đây đã từng làm thị trưởng của thành phố này. Anh chị Hồng đưa chúng tôi đến một tiệm ăn Thái-Lan, được trưng bày theo một lối rất lạ. Thoạt mới vào ai cũng phải cởi giầy, và mới nhìn vào phòng ăn, chúng tôi có cảm tưởng như mọi người đều ngồi bệt xuống đất như bên Nhật. Nhưng không, đến lượt mình mới biết là dưới chân bàn, có khoét lỗ và người ngồi trên bỏ chân xuống dưới, trông như là ngôi bệt xuống sàn nhà vậy.

Sáng hôm sau, Anh chị Hồng lái xe đưa chúng tôi đi Amtersdam, Hòa-Lan. Ngày xưa hồi trung học có học về địa dư thế giới, chỉ biết là Hòa Lan là một quốc gia thấp hơn mặt biển. Ðến Hòa Lan, mới thấy tận mắt. Thành phố tràn ngập những kinh đào (canal), có khoảng 107 cái trong thành phố Amsterdam. Chúng tôi đến vào chiều thứ bẩy, dân chúng đi đầy đường phố. Có hai tiệm McDonald và Burger King gần nhau và đông đặc khách. Thấy giá cả hamburger mà gớm, 1 cái Big Mac, một gói khoái chiên, một ly coca, tính ra cũng hơn 6 đô la.

Amsterdam nói riêng và Hòa Lan nói chung rất phong túng tự do. Chúng tôi thấy nhiều cửa hàng trưng bầy hình ảnh Sex, công khai. Các công viên đầy nhóc những đám thanh niên, tụm năm, túm ba; hỏi ra mới biết là đáng buôn bán xì ke ma túy. Ði xa mới thấy lạ...

Hôm sau chúng tôi được hướng dẫn thăm viếng nhà thờ Ðức Bà Cologne đồ sộ nguy nga, nổi tiếng từ thế kỷ thứ 12. Cologne cũng nổi tiếng về nước hoa, mà chúng ta ngày xưa vẫn gọi là "Eau de Cologne" đó.

Chúng tôi trở về Paris vào buổi tối Chúa Nhật, xa lộ kẹt xe như Cali buổi sáng vậy, vì dân chúng đi chơi miền quê cuối tuần về lại Paris để sửa soạn "đi cầy" sáng thứ hai. Lái xe trên xa lộ vòng đai Paris, (cũng như trên các beltway ở Houston và Dallas), thấy họ có sáng kiến báo động rất độc đáo là nếu có tai nạn, hay kẹt xe chỗ nào trên xa lộ, thì có hàng chữ điện tử nổi lên trên bảng chỉ dẫn giữa xa lộ để người lái xe biết trước để tránh khỏi bị kẹt xe. Ðây cũng là một điều mà dân Mỹ nên học hỏi để thi hành.

GIÃ TỪ

Chúng tôi rời Paris vào một buổi sáng trời mưa như tầm tã. Một người cậu ruột lái xe từ trung tâm thành phố tiễn đưa ra phi trường Orly cách có 15 cây số mà cũng mất hơn nửa tiếng. Lại một chuyến hành trình dài hơn 9 tiếng từ Paris đến Dallas. Nhưng người ta nói đúng đi xa về gần. Chả mấy chốc máy bay đã lượn trên vùng trời Dallas, nhưng vì thời tiết xấu, máy bay Air American của chúng tôi phải lòng vòng trên trời mất hơn nửa tiếng mới được đáp. Vừa đáp xuống đất, đã nghe tin xấu là Colorado bị tuyết nặng, phi trường Denver phải đóng cửa, phi trường Colorado Springs bị đình trễ. Chúng tôi phải chờ ở Dallas gần 7 tiếng đồng hồ, trước khi lên máy bay về nhà.

Chuyến TÂY DU, ngoài việc riêng tư được gặp lại người cậu ruột và người em ruột từ 16 năm xa cách đã mang lại nhiều kỷ niệm, nhiều hiểu biết, mở rộng tầm con mắt, thấy được nhiều điều hay đẹp và mới lạ. Nhưng cũng kết luận, là đi xa mới biết quý nơi mình ở hiện tại. Bên Âu Châu, đời sống có thể nói là đắt đỏ gấp rưỡi hoặc nhiều thứ gấp 2 lần bên Mỹ, vì tất cả đều do giá xăng điều khiển, tiền công chuyên chở hàng hóa làm chuẩn. Xăng đắt 4 lần, thì dĩ nhiên giá hàng hóa cũng phải tăng sấp sỉ 2 lần. Cứ khách quan mà xét thì đời sống người tỵ nạn Việt-Nam bên Âu Châu chắc chắn không thể nào bằng nếp sống của người tỵ nạn ở Mỹ được. Nhưng có điều làm ta mơ tưởng là tinh thần đoàn kết người Việt, tự do bên trời Âu có lẽ khá hơn bên Hoa-Kỳ.

Chúng tôi đặc biệt ghi nhận những tấm thịnh tình của các ân nhân, thân nhân ruột thịt và bạn bè thân hữu đã tiếp đón và giúp đỡ hướng dẫn chúng tôi trong cuộc du hành vừa qua.