|
|
Ta biết gì về Việt-Nam
Hải Sơn
Hà-Nội
Hànội là thủ đô của miền Bắc. Ðất vẫn đó mà tên đã thay đổi mấy lần: Long Biên, Ðại La, Thăng Long, Hà-Nội. Long Biên là tên của Hà-Nội thời rất xa xưa. Còn Ðại La có từ thời nước ta thuộc nhà Ðường bên Trung Hoa. Vào thế kỷ thứ IX, Cao Biền được vua Ðường phong làm Tiết Ðộ Sử cai trị An-Nam, Ðô Hộ Phủ. Cao Biền cho đắp thành Ðại-La ở bờ sông Tô Lịch, cho dân cư làm nhà trong thành do đó thành này gọi là Ðại-La thành.
Ðến đời nhà Lý (1010) Ðại-La thành được đổi thành Thăng Long thành do sự tích vua Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp không thể mở mang được bèn rời đô về Ðại-La thành. Tục truyền rằng khi thuyền nhà vua đến nơi thì một con Rồng Vàng bay lên. Do tích ấy mà Ðại-La thành trở thành Thăng Long (rồng bay lên cao) thành. Thăng Long từ đó là thủ đô của nước ta, một thời tự chủ lâu dài với triều đại nhà Lý (1010-1225), nhà Trần (1225-1400) và nhà Lê (1428-1788).
Các triều đại sau này đã có công nghiệp rất lớn là chống Bắc Xâm và thực hiện công cuộc Nam tiến để mở mang bờ cõi. Hà-Nội có cái hồ Hoàn Kiếm tuyệt đẹp. Hồ rộng ở giữa thành phố, ban đêm hồ như tấm gương soi bóng các phố phường chung quang hồ. Giữa hồ có cái sỏi đất phong cảnh rất đẹp với đền Ngọc Sơn và Tháp Rùa.
Cái tên Hoàn Kiếm là do sự tích truyền rằng khi Lê Lợi - vị anh hùng áo vải đất Lam Sơn, đứng lên kéo quân khởi nghĩa chống quân Minh - một hôm cùng một số mưu sĩ đi thuyền trên hồ, bỗng có một con rùa bơi lên dâng Lê Lợi một thanh kiếm. Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427) Lê Lợi thắng quân Minh, lên ngôi lấy hiệu là Lê Thái Tổ. Một hôm vua Lê Lợi đi thuyền trên hồ thì con rùa năm xưa lại xuất hiện đớp lấy thanh kiếm rồi lặn xuống nước. Do tích ấy mà hồ được gọi là Hồ Hoàn Kiếm hay Hồ Gươm.
Thăng Long có gò Ðống Ða ở gần Thái Hà Ấp, là nơi mà mọi người dân Việt nên nhớ để hân hoan hãnh diện với trang sử của năn Mậu Thân (1788). Năm ấy vua Càn Long nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh 20 vạn quân cùng với các tướng Trương Sĩ Long, Thương Duy Thăng, Hứa Thế Hạnh, Sầm Nghi Ðống sang xâm lăng nước ta với cái chiều bài giúp nhà Lê khôi phục nghiệp cũ.
Ðược tin ấy Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Ðế (ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân 1788) lấy hiệu là Quang Trung, rồi tự mình đem 10 vạn quân chống với quân nhà Thanh. Với tài dụng binh thần tốc, lại biết kích thích ý chí chống xâm lăng của binh sĩ, vua Quang trung đã toàn thắng sau một trận chiến kéo dài từ đêm 30 tháng Chạp năm Mậu Thân đến ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu trước lúc gà gáy.
Hai mươi vạn quân Thanh tan tác, Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc áo giáp và thắng yên ngựa, cùng với mấy tên lính lẻn về Tầu còn bao nhiêu tướng khác của nhà Thanh đều bị chết thảm. Sầm Nghi Ðống thắt cổ tự tử tại goì Ðống Ða. Ðầu của Hứa thế Hanh bị chặt đem bêu lên để làm gương.
Ðến năm 1802, vua Gia Long thống nhất giang sơn đem kinh đô về Phú Xuân tức là Huế ngày nay thì Thăng Long mất địa vị của một đế đô mà bà Huyện Thanh Quan đã làm một bài thơ nhan đề là "Thăng Long hoài cổ" như sau:
Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Ðá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đây, người đấy, huống đoạn trường.
Dưới thời Pháp thuộc Hà-Nội vẫn còn sắc thái riêng và đã được tặng cho cái mỹ danh "Ðất ngàn năm vạn vật".
Huế
Huế là đế đô của triều đình nhà Nguyễn từ năm 1802 đến thời cận kim 1945. Nói đến cố đô Huế phải nói tới thời kỳ Nam, Bắc phân tranh giữa hai họ Trịnh và họ Nguyễn kéo dài hơn 200 năm (1533-1788).
Nhà Lê bị họ Mạc cướp ngôi (1527). Nguyễn Kim giúp nhà Lê trung hưng lên được nhưng sau đó binh quyền lại thuộc cả về tay con rể là Trịnh Kiểm.
Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Vì sợ em vợ tranh quyền nên Trịnh Kiểm tìm cách giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên sai người đến Hải Dương xin ý kiến của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ Trạng nói: "Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân" nghĩa là dẫy Hoành Sơn kia có thể yên thân muôn đời. Nguyễn Hoàng nhờ chị xin với anh rể Trịnh Kiểm cho trấn đất Thuận Hóa.
Còn ở ngoài Bắc, Trịnh Kiểm cũng lăm le dứt nhà Lê nên cũng sai người vào hỏi ý kiến cụ Trạng. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói chỉ bảo đầy tớ: "Năm nay mất mùa thóc giống không tốt, bay nền tìm giống cũ mà gieo để giữ Chùa, thờ Phật mà ăn oản". Trịnh Kiểm biết ý nên vẫn giữ họ Lê làm vua, họ Trịnh chỉ xưng là Chúa, thực quyền cai trị, cha truyền con nối. Vua Lê chỉ làm vì mà thôi.
Nguyễn Hoàng ở Thuận Hoá cũng xưng làm Chuá và không thần phục nhà Lê nữa. Thuận Hoá giáp giới với Chiêm Thành nên hay bị người Chiêm quấy phá. Vì vấn đề sinh tồn họ Nguyễn phải mở mang bờ cõi về phương Nam bằng cách chiếm Lâm Ấp (Chiêm Thành là miền trung VN ngày này) rồi chiếm Chân Lạp (miền Nam VN ngày nay) khiến nước ta rộng lớn. Ðó là công nghiệp vĩ đại của các Chúa Nguyễn vậy. Vua Gia Long tức Nguyễn Ánh, cháu nhiều đời của Nguyễn Hoàng, diệt được nhà Tây Sơn bèn lập kinh đô ở Huế vốn là đất của nhà Nguyễn từ lâu đời.
Huế cổ kính với hoàng thành với đền Nam Giao, với các lăng mộ của vua triều nhà Nguyễn như lăng Gia Long, Thiệu Trị, Tự Ðức, Mạnh Ðức, v.v.. Huế còn cổ kính với chuà Thiêm Mụ, với cầu tràng tiền. Nói đến Huế thì phải nhắc lại biến cố Tết Mậu Thân 1968 mà Huế chịu nhiều tang thương đổ vỡ nhất. Người dân Huế ra ngoại quốc vẫn còn nhớ đến sông Hương, đỉnh Ngự Bình, Phú Văn Lâu, hồ Tĩnh Tâm, thôn vĩ dạ đã tô những nét đậm đà đầy mến thương vào người dân Huế.
Và các nữ sinh Huế đã làm gì chó các chàng trai xứ Quảng:
"Học trò xứ Quảng ra thi.
Thấy cô gái Huế chân đi không rời."
Với lại:
"Ở đây không dám ra đường.
Sợ khi gặp gái sông Hương tóc thề
Sợ quên cả lối đi về,
Sợ không giự được lời thề năm xưa! "
Sàigòn
"Xin nhận nơi này làm quê hương". Ðúng vậy gần một triệu người dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 đã hoà hợp thật dễ dàng với đồng bào miền Nam nồng nàn, hiếu khách, dễ mến, dễ yêu để cùng cảm thấy Sàigòn đã gắn chặt với tâm hồn họ như chính nơi chôn rau cắt rốn của họ.
Sàigòn được người ngoại quốc tặng cho cái tên là "Hòn Ngọc Viễn Ðông". Sàigòn là thủ đô của VNCH từ năm 1954 đến 1975.
Tháng tư năm 1975 là một tai biến tang thương làm làn sóng người ồ ạt rời đất nước ra đi, bỏ lại Sàigòn cho chế độ mới. Và cũng từ đó Sàigòn mất tên và phải mang tên một người chết. Xa bao nhiêu năm rồi người dân Việt vẫn còn dùng tên Sàigòn vì thành phố này vẫn là nỗi nhớ niềm thương của những người đã biết nó.
Không ai thể quên được tinh hài hước của dân Sàigòn. Vui họ cười dỡn đã đành, nhưng buồn họ cũng lấy nụ cười cố làm vui. Và những danh từ họ đặt ra vừa tượng hình vừa ngộ nghĩnh như:
- Sáng qua "Vợ Ông Anh" (đài VOA) nói có tầu vớt dân tỵ nạn ở Hải Phận Quốc Tế
- Chiều nay "Bà Bán Cam" (BBC) nói sẽ có phái đoàn quốc tế đến để can thiệp để dân được ra đi tự do.
Nhiều câu ca dao mới như:
"Yêu anh em cũng muốn chui,
Sợ thằng hải tặc nó dùi lại thôi.."
"Quanh năm sống ở Thành Hồ
Ngày ra Bưu Ðiện lãnh đồ của em
Ðồ em vừa nặng vừa to
Ðã sướng con mắt lại no cái mồm..."
Hải Sơn
|