CÂU CHUYỆN CÓ THỰC
TÙ NHÂN ĐẶC BIỆT
*G.S Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC
Đúng 4 giờ sáng ngày 11-2-2006, ông cai ngục T.J Farstroy tại nhà tù Liên Bang mở cửa nhà giam vào gọi một tù nhân tên John Rowland:
“Này ông Rowland, ông được tự do kể từ giờ phút này. Ông hãy ra ngòai kí giấy và ra về thong thả.”
Người được gọi có vẻ còn say ngủ. Không biết ông có biết ông sẽ được trả tự do hôm nay không nhưng ông có vẻ bỡ ngỡ vài chục giây rồi ông tỉnh ngủ hòan tòan bởi hai tiếng “tự do” vừa phát ra từ miệng người cai ngục mà ông đã quen mặt, quen giọng nói trong 10 tháng bị ngồi tù ở đây. Ông Rowland vươn vai vài cái rồi mới ngồi thẳng dậy. Ông đứng lên theo người cai ngục ra khỏi phòng giam trong khi những người tù khác vẫn còn đang ngủ say. Ba dẫy nhà giam yên lặng như tờ.
Căn phòng làm việc của ông cai ngục Farstroy vẫn chói lọi ánh đèn. Ông ta ngồi vào ghế sau cái bàn làm việc và bảo người tù ngồi xuống cái ghế trước mặt. Lấy ra một tờ giấy đã có điền sẵn tên tuổi và các chi tiết khác, người cai ngục trao cho người tù:
“Ông đọc kĩ rồi kí vào bên dưới, đề ngày.”
Người tù làm y, mắt ông lướt thật nhanh trên những hàng chữ, xong trả lại tờ giấy cho người cai ngục; ông này giữ bản chính còn bản phụ mầu vàng trao cho người tù. Người cai ngục ghi ghi chép chép vào một cuốn sổ lớn xong lại cái tủ sắt lôi ra một cái “sac” bằng giấy trên có đề tên, trao cho người tù:
“Đây là các vật dụng nhỏ như đồng hồ đeo tay, bút máy, chìa khóa, tiền cắc, giấy tờ lặt vặt và cái ví trong đựng tiền của ông. Ông hãy kiểm sóat xem có thiếu thứ gì không, nếu thiếu cho tôi hay ngay. Xong ông vào phòng thay đồ mặc bộ quần áo của ông và bỏ lại đó bộ đồ nhà giam.”
Người tù làm theo y như lời người cai ngục. Lúc ông ta trở lại văn phòng, người cai ngục đã đứng ở cửa giơ tay bắt tay ông với một nụ cười thân thiện và thông cảm:
“ Bây giờ ông có thể về được rồi. Goodbye and good luck!”
Người tù nói cám ơn xong bước ra hành lang nhà giam, theo lối này ông ta ra cửa chính để ra cổng.Hai người lính ôm súng gác thấy ông giơ tay chào. Ông chào lại và trao cho họ coi giấy tờ xuất trại, họ cũng chào tạm biệt và chúc ông may mắn. Lúc ông ra khỏi cổng trại là 5 giờ 20 phút.
Người tù đi ngang qua một cái sân vận động mới, lớn, đẹp có đề biển tên gọi. Cạnh đó, những ngọn đèn lờ mờ trong sương soi không rõ những tấm biển xanh chữ trắng chỉ lối vào và những chi tiết khác. Người tù chợt nhớ lại khỏang một năm trước, ông đã đến khánh thành sân vận động tối tân này khi cả trăm ngàn người chờ ông đến cắt băng khánh thành.
Giờ này xe cộ còn thưa thớt. Phải 6 giờ xe bus mới bắt đầu chạy đón người đi làm. Xe taxi giờ này cũng chưa có mấy cái, phải hơn 8 giờ sáng xe mới đông. Vả lại ông cũng không muốn lên xe về nhà mình ngay. Ông muốn đi tản bộ trong buổi sáng sớm mà xưa kia khi còn đang làm việc, chỉ thứ bảy và chủ nhật ông mới được đi như thế này.
Ngày thường đi làm, vì thức khuya coi lại việc sở, ít có khi nào ông dậy trước 7 giờ. Dậy rồi còn vệ sinh cá nhân khỏang nửa giờ, sau đó ông mới ngồi vào bàn ăn dùng bữa điểm tâm với vợ, người vợ rất thương yêu của ông đã cho ông hai đứa con. Bà nanny - bà vú - sẽ chiên trứng, nướng bánh mì, có khi chiên khoai sợi rồi bày ra bàn nào cereal, oatmeal, jam, jelly hai ba thứ, mật ong để vợ chồng ông ăn sáng.
Thức ăn nhiều nhưng ông chỉ ăn một lát bánh mì nướng, hai quả trứng “over easy” và một li sữa. Xong ông đứng lên mặc quần áo và ra xe, ở đó người tài xế đứng tuổi đã làm ấm máy, đang chờ ông. Lần nào trước khi ra khỏi cửa, bà vợ yêu quí của ông cũng tặng ông một cái hôn âu yếm và chúc ông một ngày vui đẹp. Đây là thói quen của hầu hết dân Mỹ.
Chức vụ của ông cho ông có vệ sĩ, nhiều ít tùy theo tình hình an ninh vùng ông cai quản. Khi người tài xế thấy ông đã an tọa ở băng sau, anh ta rồ máy đưa ông đến sở. Sở ông làm là một tòa nhà lớn, đó là dinh Thống Đốc tiểu bang Connecticut và ông - người tù chúng ta đang đề cập - chính là Thống Đốc tiểu bang này cho đến tháng 7-2005.
Thống Đốc John Rowland đã là Thống đốc 3 nhiệm kì (12 năm) tại Connecticut. Người viết phỏng đóan ông thuộc đảng Cộng hòa, đảng đang cầm quyền ở Mỹ. Nhưng thực ra dù là Dân chủ hay Cộng hòa, có tội vẫn là có tội. Phạm tội bị xử do Tư pháp tức tòa án mà tòa án theo chế độ Dân chủ ở Mỹ là độc lập, cũng như Lập pháp và Hành pháp.
Ông Thống đốc đương nhiệm làm sai luật, ông phải ra tòa và ông chánh án căn cứ theo luật, xử phạt ông cân xứng với lỗi ông đã làm. Thí dụ có một người dân thường, một công dân Mỹ, phạm đúng tội danh ông Thống đốc đã phạm thì hình phạt dành cho người này cũng y như hay tương đương hình phạt dành cho ông Thống đốc, không hơn không kém.
Lại giả sử có một ông tướng dầy công hãn mã, đã từng thắng quân thù nhiều lần tại mặt trận mang lại vinh dự cho nước Mỹ, ông tướng cũng phạm một tội y như ông Thống đốc và người dân thường vừa nói thì tòa án cũng xử phạt ông tướng y như người dân thường và ông Thống đốc.
Không có một uy quyền nào, nhân vật tối cao nào có thể lo lót với tòa án cho ông tướng đỡ tội được. Đó là điểm son của nền Dân chủ Pháp trị mà thế giới ngày nay đều muốn được hưởng. Đó là Dân chủ Tự do, đó là quyền người dân được tôn trọng bởi vì “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật,” nghĩa là giá trị mỗi cá nhân như nhau, không ai hơn không ai kém. Và vì thế, Hiến pháp Hoa Kỳ mới bảo đảm Tự do và Công lí cho mọi người (Liberty and Justice for all”.
Đã sống ở Hoa Kỳ, người ta đều hiểu rằng đắc cử Thống đốc 3 nhiệm kì liền không phải dễ.
Bị cơ quan lập pháp tố cáo, hồi tháng 12-2004 ông Rowland thú nhận đã nhận quà bằng dịch vụ và gian lận thuế, quà gồm cả các chuyến đi nghỉ và những cuộc vui chơi ở Las Vegas tổng trị giá là 100,000 đôla.
Vì nhu cầu điều tra, ông Rowland đã từ chức hồi tháng 7-05 và bị cơ quan lập pháp luận tội. Tính đến ngày được thả, ông đã ngồi tù 10 tháng. Ở trong tù, cai tù giao cho ông việc quét dọn cầu thang.
Hầu như không tù nhân nào cùng bị giam với ông không biết ông là Thống đốc tiểu bang khi xưa. Họ có hỏi nhưng ông chỉ trả lời:”Làm tội phải chịu tội. Đó là luật công bình xã hội. Tôi không phàn nàn gì.”, một thái độ đáng gọi là quân tử.
Mới 48 tuổi, John Rowland là một người rất năng động. Ông không muốn để phí một chút thời gian. Ở trong tù, được nhà tù chấp thuận, sau khi nhiệm vụ quét cầu thang đã xong, ông mở lớp dạy các tù nhân cách đi xin việc, điền đơn, phỏng vấn sao cho trơn tru. Ông nói:
“Rồi một ngày nào đó, các bạn sẽ ra khỏi nơi đây. Cách duy nhất và hay nhất để làm lại cuộc đời là xin được một cái job phù hợp với tuổi tác, sức khỏe và trình độ học vấn của mình. Không có nghề nào xấu mà chỉ những hành động sai trái là xấu. Ở tù cũng không là nhục vì làm sai thì bị phạt nhưng sau khi ở đây ra, chúng ta có làm được điều gì tốt để cải thiện cuộc đời chúng ta mới đáng kể.”
Có nhiều tù nhân bị lậm ma túy hoặc rượu. Ông Rowland kiếm tài liệu tổ chức các lớp học giải thích về ma túy và các tác hại của nó. Ông khuyên các bạn tù nhân dịp bị giam cương quyết dứt bỏ những thứ nghiện ngập. Ông bảo đảm là sức khỏe của họ sẽ tăng lên và yêu đời hơn. Ông đã thành công với hai lớp kiếm việc và bài trừ ma túy.
Ngày mới ra tù, ông Rowland chưa có dự định gì cho tương lai trước khi gặp lại vợ con. Nhưng ông đinh ninh một điều là sẽ cải thiện đời sống. Ông sẽ làm nhiều điều ích lợi hơn cho bản thân ông, cho gia đình và xã hội của ông với tư cách của một công dân chứ không còn là Thống đốc quyền uy một cõi khi xưa.
Chẳng vậy mà những khi quét cầu thang, những anh tù đầu trộm đuôi cướp vẫn thường gọi ông mà dè bỉu, khinh khi, chế diễu. Ông chỉ giữ im lặng hoặc nếu họ làm quá, ông đứng giải thích sự đời cho họ nghe. Dần dần những tâm hồn chai cứng đó hiểu ra và mến phục tư cách đáng quí của ông. Hôm đầu ngồi ăn với đồng tù, cả đám quay vào rủa xả ông nặng lời. Ông chỉ làm thinh, cười mỉm, ăn xong phần ăn, đứng lên, không tỏ vẻ giận dữ hay bực bội.
Có những công dân trong tỉểu bang lấy làm tiếc cho ông vì tham lợi nhỏ mà bỏ mất con đường đầy hứa hẹn. Ngược lại, người ta không thấy ông nuối tiếc điều gì. Ông an phận coi như mình làm sai thì bị luật pháp ra tay trừng phạt. Vậy thôi!
Ít nhất xứ này không có cái nạn “phủ binh phủ, huyện binh huyện” vì ba ngành của chính phủ độc lập hơn nữa đệ tứ quyền tức báo chí được luật pháp bảo vệ tối đa, quyền tự do ngôn luận của mọi công dân được Hiến pháp đảm bảo.
Khi tòa án hoặc Hành pháp làm sai thì có truyền thông, báo chí lên tiếng, dư luận quần chúng yểm trợ những điều phải thế là Hành pháp hoặc tòa án phải sửa sai. “Con người là sai lầm”(Man is erroneous), không ai hòan tòan đúng nhưng nếu làm sai thì nên thành tâm sửa đổi mới được gọi là người biết phục thiện. Còn như những kẻ làm sai nhưng khi bị phê bình chỉ cãi xóa hoặc đổ vấy cho thuộc hạ; những kẻ đó không đáng được gọi bằng những danh xưng tôn quí.
Ở những nước mà luật lệ, kỉ cương nằm trong tay những kẻ cầm quyền, chúng muốn cho ai sống thì người ấy sống, chúng trù dập ai thì người ấy chết. Có chuyện lôi thôi phải ra trước tòa án, tòa án muốn xử sao thì xử, thiên vị, có chính trị dính vào v.v...nghĩa là mọi người không bình đẳng trước pháp luật. Một xã hội như thế làm người dân mất tin tưởng, không an cư lạc nghiệp và chính đó là đầu mối của tham nhũng, hối mại quyền thế, lợi dụng chức quyền của mình đề làm những điều phi pháp, đổi trắng thay đen mà nhiều khi chỉ trong bọn mới biết với nhau.
Khi nào mọi người dân lương thiện không bị xử oan và những kẻ phạm lỗi như ông Rowland chẳng hạn - dù ở chúc vụ nào, cao cấp đền đâu - cũng bị xử phạt nghiêm minh theo luật pháp công bình và chí công vô tư thì xứ sở đó mới có một nền pháp trị thực sự hòan hảo vậy.
G.S. Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC