Vụ Ấp Thái Hà

Hoàng Long Hải

Nhìn chung, vụ ấp Thái Hà không phải chỉ là câu chuyện một mảnh đất nhỏ ở ấp Thái Hà diện tích không đáng bao nhiêu. Nhưng nó có thể là ngòi nổ, là điểm khởi đầu cho một công cuộc đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do cho giáo hội Công Giáo Việt Nam. Nó cũng không hẵn khoanh vùng trong phạm vi một tôn giáo, một giáo hội mà cho nhiều tôn giáo và toàn bộ quyền tư hữu của người dân Việt Nam.

Từ căn bản một chế độ


Đạo Thiên Chúa chính là một biểu tượng của văn minh Thiên Chúa Giáo. Văn minh nầy là nền tảng của các chế độ chân chính về dân chủ tự do và bình đẵng trên khắp thế giới. Tôi nhấn mạnh hai chữ chân chính vì hiện nay, trên địa cầu có rất nhiều chế độ dân chủ tự do giả hiệu. Giả hiệu vì dân chủ tự do chỉ là điều đươc ghi trên hiến pháp, nhưng trong thực tế, nó là một chế độ độc tài.

Theo quan điểm của đạo Thiên Chúa thì Thượng Đế sinh ra con người, cho con người có có linh hồn và thân xác. Linh hồn ở trong thân xác con người. Huy Cận viết:


Người nhìn xem, Người đã cho thân thể,

Bình thịt xương để đựng chứa linh hồn

….

A! thân thể! một cái bình tội lỗi!

Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy.


Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi:

Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,

Đã sinh ra thân thể của con người.

(Thân thể)


Tôi không bàn về ý tưởng của Huy Cận trong mấy câu thơ trên. Đẻ có dịp sẽ nói sau. Tuy nhiên, từ căn bản có linh hồn, có thân thể, con người phải có tư hữu để gìn giữ và bảo vệ linh hồn và thân thể Thượng Đế đã ban cho. Đó là nguồn gốc của quyền tư hữu và chủ nghĩa tư bản. Tôi sẽ nói rõ hơn trong một bài sắp tới.

Dĩ nhiên, Cộng Sản phủ nhận quan điểm đó. Từ chỗ cho rằng con người là sự cấu hợp ngẫu nhiên của thiên nhiên, Cộng Sản phủ nhận Thượng Đế. Cũng từ căn bản đó, họ phủ nhận quyền tư hữu.

Cũng căn cứ vào quan điểm nầy, - phủ nhận Thượng Đế, Cộng Sản sau bức màn tre, chủ trương rằng quan điểm về nhân quyền của họ khác với quan điểm nhân quyền của người Tây Phương. Do quan điểm nầy, tôi đã có bài viết “Quan điểm Nhân quyền Đông-Tây khác như thế nào!”

Từ những tư tưởng chống Thiên Chúa Giáo, Cộng Sản chống kịch liệt quyền tư hữu.

Trái ngược với Tư Hữu là Công Hữu.

Theo Cộng Sản, con người chỉ là một sinh vật trần truồng, có nghĩa là nó không có gì hết, không có linh hồn, dĩ nhiên – nên họ không tin có ma - và ngay cả thân thể của con người cũng không là tư hữu nốt. Thân xác con người cũng thuộc về công hữu. Như vậy thì còn nói chi tới quần áo, giày dép, xe cộ, nhà đất…

Con người, và cũng như mọi sinh vật, sinh ra là do sự kết hợp ngẫu nhiên giữa đực và cái, giữa trống và mái, v.v…. Nó lớn lên là nhờ xã hội, nhờ cộng đồng, không phải nhờ công cha nghĩa mẹ. Trong chế độ Cộng Sản, đứa bé lớn lên là nhờ đảng, nhờ nhà nước. Do đó, người dân trong chế độ Cộng Sản, khi mở miệng nói ra việc gì thì câu mở đầu là “Nhờ ơn đảng, nhờ ơn bác (hay nước), tôi hiện công tác (hay có được cái nầy, có cái chức kia, v.v….) Làm gì còn câu ca dao: “Ơn trời mưa nắng phải thì, Nơi thì đồng cạn nơi thì cày sâu.” Trẻ con thì được dạy “Trung với đảng, hiếu với dân…”

Tuyệt đối không có quyền tư hữu, dù là cá nhân, tập thể hay cộng đồng. Sau mười năm không thực hiện được một xã hội Cộng Sản lý tưởng như bọn Khmer Đỏ đã thực hiện ở Kampuchia- biến đất nước thành một công trường vĩ đại - Việt Cộng phải “đổi mới”, “cởi mở”. Giải tán các hợp tác xã và “khoán” sản phẩm, “khoán” ruộng cho nông dân, cấp đất cho dân chúng (giấy xanh giá trị 30 năm, giấy đỏ: 50 năm). Điều đó, khi giao ruộng cho nông dân, cấp đất cho dân chúng, thì sự khoán, cấp ấy chỉ có giá trị trong 30 hay 50 năm, không có nghĩ là nông dân ấy, công dân ấy có quyền sở hữu vĩnh viễn trên những gì họ được giao.

Cộng Sản không bao giờ chấp nhận người dân, tập thể, cộng đồng… có quyền tư hữu. Vì vậy, đất Thái Hà, dù khoảnh đất đang được giáo phận xử dụng, hay phần đất đã bị lấy đi, dù có đủ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, xử dụng, thì những giấy tờ đó chẳng có giá trị gì cả trong chế độ công hữu, diện tích đất đai đó bao giờ cũng chỉ là “Nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý.”

Hệ quả giây chuyền:


Nếu bây giờ chính phủ Cộng Sản Hà Nội trả khu đất cũ cho giáo dân Thái Hà, chuyện gì sẽ xảy ra?

Chắc chắn, một hệ quả giây chuyền sẽ xảy ra. Trả đất, có nghĩa là Cộng Sản chịu thua, giáo dân thắng. Phía thua sẽ thua nữa, phía thắng, sẽ thừa thắng xông lên, đòi thêm.

Giáo dân hay nói đích thực là giáo hội sẽ đòi gì thêm?

Đòi lại tất cả những tài sản của giáo hội, của nhà thờ, của giáo xứ, của họ đạo đã bị Việt Cộng tước đoạt từ năm 1954, - khi Cộng Sản Hà Nội tiếp thu miền Bắc - và trên toàn bộ đất nước sau 1975.

Dĩ nhiên, tài sản đó nhiều lắm: Trước hết là những nhà thờ, giáo đường, nhà nguyện bị Việt Cộng tịch thu. Đó là các trường học lớn nhỏ ở ngay Hà Nội, Saigon, Huế hay các tỉnh, các quận, huyện, xã, ấp. Đó là các tu viện, các trường Dòng, các cơ sở tu hành của giáo dân, tín đồ. Đó là các sơ sở y tế như bệnh viện, nhà thương phung, nhà thương lao, nhà dưỡng lão, nhà nuôi trẻ mồ côi, thương tật, v.v… Đó là ruộng đất của các giáo xứ, của các họ đạo, v.v…

Phải thành thực nói rằng, trong tất cả các tài sản đó, có những thứ giáo hội, giáo xứ có được một cách hợp lý, hợp pháp; có những cái có được nhờ dựa vào thế lực của thực dân Pháp, thế lực của giới cầm quyền.

Trong quá trình xây dựng và phát triển bất động sản của giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, có thể coi như hầu hết những bất động sản đó đều được chính quyền lúc bấy giờ cấp phát giấy phép đầy đủ. Giáo hội biết luật pháp, những chứng từ cần thiết để xác nhận quyền sở hữu nên giáo hội không để cho một sơ hở nào xảy ra. Có những bất động sản được xây dựng trên bất động sản đã có sở hữu chủ từ trước, như địa điểm các chùa chiền bị chiến tranh tàn phá, hay thiếu người chăm sóc, hoang phế đã biến thành địa điểm xây dựng các giáo đường, nhà thờ. Sách “Saigon Năm Xưa” của Vương Hồng Sển kể rằng chỗ đất nhà thờ Đức Bà Saigon bây giờ, là một ngôi chùa trước khi Pháp chiếm Nam phần. Theo dân chúng Huế, địa điểm nhà thờ Tây Lộc ở Huế ngày trước là đền Linh Hựu, chỗ đất nhà thờ Thái Hà bây giờ, trước cũng là một ngôi chùa….

Trong tình cảnh bại trận và bị đô hộ, giang sơn tổ quốc cha ông để lại còn mất vào tay giặc thì sá chi một ngôi chùa hay chỗ đất cũ của một ngôi chùa bị mất đi. Bên cạnh tình cảnh nô lệ, cũng không thiếu người quay lưng theo giặc, cũng không thiếu người hèn nhát, tham sinh úy tử, không dám lên tiếng phản kháng, dù là kẻ tu hành.

Một số người rao giảng đạo Thiên Chúa cũng không bỏ lỡ cơ hội, bắt tay với bọn xâm lược để truyền bá, phát triển tôn giáo của mình.

Ngay chính thời Ngô Đình Diệm, biết bao nhiêu cơ sở, quyền lợi là “của đức cha”: Các sở đất nguyên là rừng cao su ở ngã tư Bảy Hiền do các chủ đồn điền cao su người Pháp “cúng” lại cho “đức cha”, thương xá Tax cũng là của “đức cha”. Khi ông Ngô Đình Thục về làm giám mục địa phận Huế, tất cả các “Ruộng Ngự” (Công điền) (1) cũng như sáu ngọn đồi (Công thổ) quanh Dòng Tu Thiên An (2) trở thành bất động sản của giáo phận.

Tất cả những bất động sản bị chiếm để xây nhà thờ, sở hữu chủ cũ (chùa chiền) nay chẳng còn ai, và cũng chẳng có giấy tờ gì xác minh quyền sở hữu ấy. Thủ tục hành chánh trước thời thực dân Pháp không có văn tự cấp đất xây chùa. Những chùa nổi tiếng chỉ có thể được nhà vua ban cho sắc chỉ, chẳng hạn như chùa Tịnh Quang (Thường gọi là Sắc Tứ Tịnh Quang hay Chùa Sắc Tứ) nằm trong khu vực truông Ái Tử thuộc tỉnh Quảng Trị. Địa điểm nầy vừa có tính cách lịch sử (Địa điểm đầu tiên chúa Nguyễn Hoàng đóng quân khi vào Nam. Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai là căn cứ lớn của quân đội Mỹ). Chùa Sắc tứ bị cả hai phía - Việt Minh và Pháp phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh Pháp Việt 1945-54 -. Chùa được xây dựng lại khá lớn, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Việt Cộng thường pháo kích vào căn cứ Mỹ ở Ái Tử, may mắn chùa không bị trúng đạn. Binh lính Mỹ không hề phá phách ngôi chùa nầy).

Rất nhiều chùa chiền như chùa Báo Quốc, chùa Từ Đàm, chùa Thiên Mụ ở Huế, v.v… là do nhà vua cho xuất công quỹ ra xây dựng. Đó là tài sản quốc gia, không thuộc tài sản của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhứt cũ (trước 1975) hay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam mới (“quốc doanh”, sau 1975). Phía đạo Thiên Chúa cũng vậy. Phần nhiều nhà thờ do Giáo Hội Thiên Chúa bỏ công của ra xây dựng. Bên cạnh đó, cũng có một số rất ít nhà thờ đuợc xây dựng do ngân sách chính phủ thuộc địa nên người ta thường gọi những nhà thờ đó là “Nhà thờ nhà nước.”

Tài sản của các tôn giáo khác:


Nếu Cộng Sản trả lại tài sản cho giáo hội Thiên Chúa, không lý nào họ không trả cho Phật Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, Ấn Giáo, Bahai, v.v…

Trả đất cho giáo hội, sao lại có thể không trả lại đất ruộng của các nhà thờ, các họ đạo. Nếu trả ruộng cho nhà thờ, họ đạo, tất phải trả lại ruộng đất cho nông dân, công dân. Cả một giây chuyền dài dằng dặc mà chính quyền Cộng Sản phải trả hết.

Trả lại tài sản là đụng chạm tới tới quyền lợi đất đai của giai cấp thống trị hiện nay, trong khi họ muốn lấy những khu đất ruộng nầy, bán hoặc cho thuê để các công ty ngoại quốc xử dụng, với những món tiền khổng lồ. Do đó, họ triệt để lợi dụng tư tưởng Mác trong chủ nghĩa công hữu để giành đất, mặt khác lợi dụng tình hình kinh tế phát triển để bán đất, bán ruộng mà làm giàu.

Đường lối chung:


Trong tình hình hiện tại, một mình giáo dân Thái Hà hay một mình giáo hội Thiên Chúa không thể nào đòi lại các bất động sản bị Việt Cộng cướp mất. Không một tôn giáo nào có thể tự mình đủ sức đòi lại tài sản.

Rõ ràng, tình hình trước mắt là nhân vụ Thái Hà, tất cả các tôn giáo “hiệp nhất” - nói rõ ra là đoàn kết, kết hợp, thống nhứt chủ trương, đường lối hành động, đấu tranh, đòi hỏi chính quyền trả lại tất cả tài sản cho tất cả các tôn giáo. Trước 1954, các tôn giáo ở miền Bắc vĩ tuyến 17 có gì, chính phủ Hà Nội trả đủ những gì họ đã tịch thu. Việt Cộng cũng phải trả lại những tài sản nào họ đã tước đoạt của các tôn giáo sau 1975.

Sự đấu tranh của các tôn giáo là nguồn hứng khởi, là động lực thúc đẩy cho các nông dân, công dân bị cướp ruộng cướp đất. Họ sẽ đứng chung với các tôn giáo đòi lại bất động sản của mình. Trong tình hình đó, đồng bào hải ngoại cũng không ngần ngại đòi lại tài sản của họ đã bị Việt Cộng cướp đoạt khi họ di tản hồi 30 tháng tư – 1975, hay tài sản của họ bị tịch thu khi họ vượt biên.

Nhìn chung, tình trạng đó là một khối rất lớn gồm các tôn giao và nông dân, công dân đòi lại đất ruộng của mình.

Nếu chế độ Cộng Sản còn tồn tại, chẳng ai đòi được gì hết. Tôn giáo chỉ có thể lấy lại bất động sản của mình, nông dân công dân chỉ có thể lấy lại ruộng đất khi chế độ Cộng Sản không còn. Trong viễn tượng đó, công việc đấu tranh đòi tài sản đất đòi ruộng là cuộc đấu tranh một mất một còn. Cộng Sản còn, chúng ta không đòi được một cục đất khô. Cộng Sản sụp đổ, chúng ta hy vọng chính quyền hậu Cộng Sản sẽ trả lại cho các tôn giáo và dân chúng tài sản của họ. Đơn giản chỉ có vậy.

Cách giải quyết của chính quyền mới:


Chính quyền Cộng Sản rõ ràng không phải là một chính quyền của dân. Chính quyền của dân thì phục vụ dân chúng như Tây phương chủ trương: Của Dân, Do Dân, Vì Dân.

Một chính quyền của dân, do dân là một một chính quyền có luật pháp, không dùng bọn xã hội đen, không dùng những phương cách của xã hội đen.

Chính quyền xã hội đen là chính quyền của bọn Mafia, của bọn đầu trâu mặt ngựa. Cộng Sản biết rõ như thế, nhưng vốn bản chất là một chủ nghĩa bá đạo, một thứ đảng phái đấu tranh không vì công lý mà vì quyền lợi riêng. Do đó, việc làm của chúng như thế là một phương cách không thể nào khác.

Hơn thế nữa, dùng bọn xã hội đen, chúng để đánh lừa, vu cáo chụp mũ, gây mâu thuẫn, chia rẽ các tôn giáo, dân chúng để đàn áp cai trị. Dùng bọn xã hội đen tấn công giáo dân, chúng sẽ hô hoán lên là đồng bào Phật tử tấn công đồng bào Thiên Chúa Giáo, gây xung đôt giữa hai tôn giáo. Khi hai hay ba tôn giáo đấu đá xâu xé nhau, chúng là “ngư ông đắc lợi.”

Một chính quyền của nhân dân sẽ trả lại cho các tôn giáo, dân chúng tài sản đã bị Cộng Sản cướp đoạt. Trong tình hình có hai hay nhiều tôn giáo tranh chấp một tài sản, vấn đề cũng không khó giải quyết khi chính quyền thực tâm muốn giải quyết. Một hội đồng liên tịch gồm có các nhà sử học, luật học, chuyên môn có đủ trình độ để đưa ra một đường lối giải quyết tương đối thỏa đáng cho mỗi bên tranh chấp.

Con đường đó gần nếu chính quyền Cộng Sản sụp đổ sớm. Con đường đó còn xa vời nếu đảng Mafia còn ngồi lâu ở Bắc Bộ phủ./


hoànglonghải




(1) Ruộng Ngự là một đồng lúa khá lớn ở hai bên đường Duy Tân, đoạn từ “Bót Cò” (ngã năm) tới ngã tư bến xe An Cựu, xưa dùng để trồng “lúa de” là một thứ gạo thơm để vua và hoàng tộc dùng. Sau khi Bảo Đại thoái vị, ruộng nầy thuộc quyền quản lý của tòa hành chánh thị xã Huế, được cho tá canh. Khi thuộc tài sản của giáo phận, ruộng được chia thành nhiều khoảnh bán cho tư nhân để xây biệt thự và khách sạn.

(2) Hiện giờ Việt Cộng lấy lại khu công thổ sáu ngọn đồi quanh Dòng Tu Thiên An, khiến dòng tu nầy không có đường ra vào.



Phụ lục:


Thân Thể - Huy Cận


Hỡi Thượng Đế!

Người nhìn xem, Người đã cho thân thể,

Bình thịt xương để đựng chứa linh hồn.


Người đã cho những bàn tay hoa nở,

Những cây chân, chồi mạnh búp tơ măng;

Người thu góp gió mây trong miệng thở,

Nơi mắt ngời, Người gửi ánh sao trăng;


Mắt nâu sáng thắp đèn soi vũ trụ,

Và tai rền thu cất nhạc không gian;

Và tơ tóc ướp vạn mùa hương ủ,

Và ngực vang âm điệu nhịp hoàn toàn


Và cổ đứng như mình cây vững chãi,

Và vai ngang như mặt nước xuôi dài:

Hỡi Thượng Đế, Người công phu biết mấy!

- Nhưng mọt sâu nương núp giữa lâu đài.


Nghìn yếu đuối theo sau nghìn yếu đuối,

Bước ngày mai sẽ chồng dấu hôm nay.

A! thân thể! một cái bình tội lỗi!

Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy.


Xương với máu có bao giờ mỏi mệt,

Miệng bao giờ buông nhả vú chua cay!

Thân không chán đau, ngực sầu thở chết,

Tay bồng thân, và tay nữa ôm mồ.


Xin thương lấy những mầm khô, trứng dập;

Những thân teo, xin Thượng Đế dung thương!

Thân quá nặng nên hồn sa xuống thấp,

Chớ giận chi những kẻ mất thiên đường!


Nếu Chúa biết bao nhiêu lòng hốt hoảng,

Trong sầu đen đã gẫy cánh như dơi;

Nếu Chúa biết bao nhiêu giòng lệ đắng,

Chảy như sông, không rửa sạch sầu đời;


Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi:

Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,

Đã sinh ra thân thể của con người.