Những lời nhắn gởi đáng quan tâm
Nguyễn Quang
Trên tinh thần “ Vạn giáo nhất Lý “, để hoà nhịp với tinh thần Đem Đạo vào Đời “ qua bài viết của Ông Nguyễn Anh Tuấn về “ Giáo hội tiên khởi “ của Kitô giáo, tôi mạo
muội góp thêm đôi giòng theo tinh thần Nho giáo về “ con Người Nơi đây và Bây giờ” và “ Xã hội Việt Nam hiện tại “.
I.- Của Đức Dalai La Ma
Có Người hỏi Đức Dalai La Ma:
“Điều gì làm cho Ngài ngạc nhiên nhất trong chúng sinh? “
Ngài đáp :
“ Con Người , bởi vì họ đã tốn bao nhiêu Sức khỏe để kiếm ra Tiền, sau đó họ mất bao nhiêu Tiền để tìm lại Sức khỏe. Và họ nghĩ ngợi lo lắng nhiều về Tương lai gần như quên hẳn Hiện tại, đến độ cuối cùng, họ sống không có Hiện tại lẫn Tương lai.
Họ Sống như thể không bao giờ Chết, và Chết như chưa bao giờ đã từng Sống”.
Ngài Đalai La Ma đã đề cập tới vấn đề cực kỳ quan trọng, đó chính là con Người của mỗi chúng ta.
Tuy sống bình thường trong đời, nhưng phần đông chúng ta đã vô tình đánh mất hướng sống: Con Người bị mắc bẩy vào nếp sống Đa Dục, lao đầu vào nếp sống to thuyền to sóng, cố vùi đầu làm cho nhiều Tiền để Sức khỏe bị hao tổn mà không hay, đến khi Tâm đã hao, Trí đã tổn, mà muốn hồi phục thì phải xài hết Tiền, đã thế mà Sức khỏe chưa chắc đã hồi, nhưng khốn nỗi mình đã trở về với tay không.
Mục đích chính của cuộc đời chúng ta là hạnh phúc, mà cuối cùng chúng ta bị hao tổn hết công sức mà không đem lại chút gì cho cuộc sống hạnh phúc, thì quả là bất hạnh.
Sống mà để cho thân tàn ma dại, mà chẳng tìm đâu thấy được bóng dáng của hạnh phúc thì quả là đã lạc hướng. Thật ra, chúng ta chỉ lao đầu vào con thuyền to để ra sức chống đỡ những cơn song dữ! Đó là một cuộc sống vong Thân.
Hành động lao đầu vào đời sống xa hoa là những cản trở cho cuộc sống hạnh phúc đích thực của chúng ta. Thực ra chúng ta đã đi sai hướng vì hạnh phúc có gốc ở trong Tâm ta, nên nhiều người giàu tiền muôn bạc ức mà vẫn không tìm thấy bóng, nên thất vọng mà có khi tìm đến con đường tự tử, vì họ đi tìm thoả mạn khát vọng vô biên bằng những của ăn vật chất hữu hạn.
Đó là lời nhắn nhủ thứ nhất của Đức Dalai La Ma.
Điều thứ hai là chúng ta cũng đã vong Thời, cuộc sống con Người thường bị bủa vây giữa hai mắt lưới Quá khứ và Tương lai. Con Người thường bị Quá khứ ám ảnh dày vò, trong đầu luôn luôn bị những ý tưởng lưu luyến quá khứ vàng son ám ảnh hay những đau xót lỡ làng dày vò, rồi tìm cách ẩn trốn trong giấc mộng Tương lai để tự an ủi mình, mà quên mất Hiện tại.
Chính Hiện tại mới là thời gian để cho chúng ta lập công để phát triển con Người toàn diện hầu được thành Nhân và thành Thân.
Giây phút nào trong đời sống hàng ngày cũng là hiện tại, hết phút hiện tại này qua hiện tại khác triền miên, không bao giờ ngừng nghỉ, hết Xuân Hạ sang Thu Đông, tứ thời bát tiết nối đuôi nhau vô cùng, nếu chú tâm sống cho trọn vẹn từng giây phút hiện tại triền miên đó, thì đâu còn có thì giờ để bị Quá khứ ám ảnh và mơ màng Tương lai! Có sống trọn vẹn trong hiện tại mới bảo đảm được cho tương lai.
Sống trọn vẹn với từng giây từng phút hiện tại thì làm gì mà chúng ta chẳng tiến triển trên con đường lập Đức, lập Công, lập Ngôn, để đạt tới con Người
Nhân chủ là con Người có khả năng Tự chủ, Tự lực, Tự cường.
Thiếu con Người Nhân chủ thì không thể thoát cảnh nô lệ cách này hay cách khác được.
Bám vào Quá khứ và Tương lại là trụ vào ảo tưởng, nói là sống mà thực sự cũng như không. Cứ mải mê sống trong ảo tưởng đó, cứ ỉ y như là mình sống không bao giờ chết, do đó mà khi đến sắp chết mới lại nhận ra rằng mình chưa bao giờ được sống.
Cha ông chúng ta đã bảo cho chúng ta về “ Hiện tại miên trường “ là chẳng cần chia cắt thời gian ra Quá khứ, Hiện tại và Tương lai ra làm gì!
Hiện tại là Thời gian giúp chúng ta thực hiện cuộc sống viên mãn trong bất cứ Không gian sống nào. Chính thời gian ( Hiện tại ) và không gian ( Nơi
đây ) là hai mạng lưới tạo nên vũ trụ, đó là đầu mối ( Không Thời gian ) giúp con Người chúng ta phát triển.
Quên những điều đó cũng là quên con Người.
II.- Câu chuyện Lạc Hồn
“ Từ mấy chục năm nay, chúng ta hay được nghe tới dân tộc tính.
Nhóm này hô hào phải phục sinh văn hoá dân tộc, phải duy trì dân tộc tính, phải làm sống lại hồn nước, nhóm khác cười nhạo và nếu không nói toạc ra là chẳng có hồn, chẳng có dân tộc tính. Cử chỉ và hành vi họ còn nói điều đó rõ hơn.
Vì thế chúng ta cần phải mở đầu bằng tìm hiểu xem có dân tộc tính chăng. Người thưa “ CÓ “, phải, người thưa “ Không “ mới đúng?
Thiết nghĩ cả hai đều đúng, đúng hết và đó không phải là mỉa mai, nhưng là nói thật, và xin mượn câu chuyện “ Lạc Hồn “ để biểu lộ sự thực đó.
Đây là câu chuyện phim nhan đề “ Một sinh viên thành Prague “.
“ Ở Prague có một sinh viên nghèo đang lâm vào bước quẩn bách quá, không biét tìm đâu ra tiền. Quỷ liền hiện đến đề nghị cho anh một món tiền kệch xù với điều kiện là nhường lại tất cả những gì anh đang có trong phòng.
Ngỡ là điều kiện gì chứ cái đó thì anh khỏi suy nghĩ vì tất cả cơ đồ của anh chỉ là một cái ghế bố đã thủng với một cái gương mẻ, vài đồ chơi rẻ tiền.
Quỷ cứ việc mang tất cả đi và để tiền lại cho anh.
Nhưng trước khi đưa đi, quỷ bảo anh soi vào gương một cái.
Đang khi anh soi thì quỷ làm dấu, bóng anh biến đi và quỷ đem các đồ dông tuốt, để lại tiền cho sinh viên nọ sống cuộc đời đế vương, không chú ý tới chuyện xảy ra nữa.
Anh chỉ thấy hơi phiền một chút là lúc soi gương cạo mặt, không thấy mặt trong gương nữa.
Tuy thế đó là sự bất tiện nhỏ nhoi không đáng quan ngại, nhất là khi người ta có đủ tiền để thuê người cạo mặt.
Nhưng một ngày kia vì có chuyện bất bình với em rể không sao giàn hòa được, nên phải hẹn đánh nhau để phân phải trái. Bố vợ can ngăn hết lời vô ích nên chỉ xin anh đừng có giết em. Điều đó thì anh chịu liền, vì thực bụng chính anh cũng không muốn giết em rể, mà chỉ có ý làm sầy da một chút gọi là đắc thắng có nghĩa là đắc lý. Vì thế, anh lấy danh dự hứa với bố vợ là không giết em.
Khi ngày quyết đấu tới anh lên xe để đến chỗ hẹn ở bên ngoài thành. Dọc đường xe gẫy bánh, anh phải xuống đi bộ một quảng xa, nên không tới đấu trường kịp giờ.
Khi gần tới nơi, anh thấy một người cầm gươm đi lại để đón anh, mặt mày có vẻ giống anh như hệt và đang chùi sạch cây gươm còn nhỏ máu. Thấy thế anh liền giật mình nhận ra đó chính là cái hồn của anh mà anh đã vô tình bán cho quỷ, mà nay có thể là quỷ sai về giết hại em mình.
Nghĩ thế anh liền chạy vội tới đấu trường thì quả đúng rồi, xác em rể đã nằm chết sòng soại, máu tuôn ra lai láng, anh buồn muốn ngát xỉu: Không những vì thương em, nhưng vì còn thẹn với bố vợ là thất hứa. . .
Thật là mọi sự đã xẩy ra ngoài ý muốn của anh, chỉ vì một cử chi như vô thưởng vô phạt: nhường tấm gương soi mặt cho quỷ, mà khiến nên nông nỗi đau thương.
Đành rằng đới sống vật chất của anh có lên cao, nhưng nếu nghĩ đến cái xác vô tội của người em nằm trên vũng máu, nghĩ tới cặp mắt cha vợ đầy oán trách kinh hoàng cho anh là đứa hèn nhát nuốt lời thề. . . thì khó bình tâm ngồi hưởng thụ giàu sang kiếm được bằng giá máu của em.
Đó là câu chuyện mà chúng tôi cho là phản chiếu khá trung thực trạng huống nước ta trong mấy chục năm qua.
Cũng có đủ cả việc Cướp Nước, Bán Nước và bán Hồn Nước.
Và vì đó một số người vào hùa với ngoại bang làm giàu trên xương máu đồng bào trước muôn vàn đau thương của dân tộc. . .
Cũng từ đấy xẩy ra việc nhiều người xem vào những gương Tiên Tổ thì chẳng còn thấy bóng dáng mình đâu nữa. Thấy sao được, vì đã bị ngoại bang dẫn đi rồi. Và Hồn có phải là vật cụ thể hiện ra thù lù trước mắt đâu, nhưng là cái gì u linh, như ẩn như hiện, có mà không, không mà có. Nếu tấm lòng yêu nước thương nòi đã phai nhạt thì xem vào tấm gương mẻ là cái nước chậm tiến lạc hậu này, thấy sao được hồn nữa, nên có nói nước Việt không Hồn, dân tộc Lạc Việt không có tính chất đặc trưng, thì chỉ là nói lên một nhận định chân xác khách quan thôi.
Không những khách quan mà còn đúng tâm lý nữa: ngày nay các nhà Tâm lý đã biến chân lý đó thành các loại trắc nghiệm chiếu giải ( tests projectifs ) dành cho khoa giáo dục để tìm hiểu tâm lý mỗi đứa trẻ như các loại tests gọi là T.A.T ( Thematic apperception test ) nổi tiếng thứ nhì sau loại test của Rorschach được sáng chế năm 1935 do hai người Mỹ l2 các ông Morgan và Murray: nó hệ tạiđưa ra một màn kịch với vài ba nhân vật rồi bảo trẻ đặt mình vào hoàn cảnh của các nhân vật đó để nói lên điều ước muốn ( needs ) hoặc sự bó buộc ( press ) phải đối xử ra sao. . .
Hoặc như trắc nghiệm của ông Szondi cũng gọilà trắc nghiệm vận mệnh: Đua ra 6 bộ hình, mỗi bộ có 8 cái hình người, rồi bảo trẻ con chỉ ra những người nào mà nó có cảm tình nhất. . .
Nhà tâm lý theo đó mà đoán vận mệnh và tìm hiểu tâm tính của tuổi trẻ.
Theo luật tâm lý đó thì phải là người có Hồn mới thấy được Hồn Nước, còn không có Hồn thì không sao thấy được. Bao nhiêu người Việt ngày nay còn gọi được là có Hồn Nước? Nếu còn có Hồn sao lại Việt cộng lại đi sát hại đồng bào cách hăng say thành khẩn như giết quân thù: “ Thề phanh thây uống máu quân thù “. Nếu còn có Hồn, ai đủ cam đảm hát như thế !
Cũng còn được mấy tý Hồn trong số những công chức làm việc giãi đãi, trong những người được địa vị ưu đãi lại thẳng tay bóc lột người dân cách tàn tệ dưới đủ mọi hình thức, từ hối lộ cho đến bắt trả dịch vụ một cách rất xa mức chịu đựng của dân. . .
Đó cũng là một lối giết dần giết mòn. Nhưng giết dần dần hay giết ngay đều là việc bên ngoài ý muốn của hai bên. Đến nỗi nếu ai nói với họ như thế họ sẽ phát đoá cho là vô bằng.
Quả thật sinh viên thành Prague có giết em rể mình đâu, đó là cái hồn của y đã giết em đấy chứ, cái hồn mà y đã nhường đi rồi thì còn quyền điều khiển nữa đâu, soi vào gương còn chưa thấy hồn huống chi điều động sao được. Vì thế đổ cho anh tội giết em là oan, hay có đúng thì chỉ đúng một phần nhỏ vì đó là hậu quả bất ngờ của một việc vô thưởng vô phạt, đúng hơn thưởng nhiều phạt ít, và đối với anh còn thật mãi, vì sau khi em rể bị giết anh vẫn còn giàu sang.
Giới trí thức của ta vẫn thế, chẳng phải ai chịu hết trách nhiệm trạng huống nước nhà, bởi tất cả được đào tạo trong một nền văn hoá không phải của nước ta thì làm chi còn Hồn. Có chăng cũng chỉ còn là cái tình tự suông sẻ hời hợt, không đủ gây nên những công cuộc sâu xa có tính cách quyết định.
Cho nên có thể nói chung là chúng ta không có Hồn, và vấn đề không phải ở tại có bán hay không? Ai bán? Ai có lỗi?
Thành thực mà nói chẳng ai có lỗi cả. Tại họa chúng ta là Hồn không còn ở lại với chúng ta nữa: một mớ thì vọng ngoại, cho nên những người trong giới được ưu đãi bóc lột dân thì tại cái học Duy lý là cái học hoàn toàn mưu sinh trục lợi, không có một khoa nào dậy cho một chữ gì đủ khả năng làm họ nương tay: toàn là trí thức rất dễ dùng để làm hại nhau mà thôi.
Thấy vậy đâm ra phát cáu, một mớ đem gởi hồn sang Nga, để học cách cứu đồng bào như quân thù. . ..
Còn một mớ Hồn nữa không biết bám víu vào đâu thì lạc long như những cô hồn chờn vờn trong làn hơi cháo lú.
Bởi vậy muốn nói nước có Hồn hay không có Hồn cũng đều đúng cả: đúng với tâm trạng của người nói.
Khi tâm thức không còn gì phảng phất Hồn Nước mà cũng nói về Hồn Nước, nói về Dân tộc tính, nói về nền Quốc Học thì cũng chỉ là những lời thiếu chân thật!
Việc khởi đầu do lỗi lầm của một hai người trước đây. Nay có đào bới lên cũng chỉ là chuyện vô tích sự
Điều quan trọng là xét xem Nước phải cần có Hồn chăng và nếu cần thì nên làm thế nào để hú cho Hồn trở lại với Nước cùng Non.”.
( Trích trong Hồn Nước với lễ Gia tiên : Kim Định. Tr. 14 - 19 )
III. Công việc cấp thiết của Nhân dân chúng ta
Nhìn lại tình trạng con Người và Nhân dân Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy gì?
Về con Người: Để phản ảnh cuộc sống của con Người trong chế độ Việt cộng, có người đã chua chát nhận định như sau:
Nếu như Vợ chống chưa lừa gạt nhau, thì đó là thiếu Giáo dục ( theo đường lối đảng CSVN )!
Nếu như cha con chưa lừa gạt nhau, thì là còn thiếu Giáo dục!
Nếu anh chị em chưa lừa gạt nhau thì cũng đều là thiếu Giáo dục!
Đó là chưa nói đến những người ngoài khác, nay cả nước đang vùng lên sống theo cuồng dục mà lừa lọc dẫm đạp lên nhau.
Còn Người Việt hải ngoại còn khá hơn, nhưng không phải là không có nhiều khuyết điểm.
Tại sao vậy?
Thưa: Vì họ không còn thấy được cái Hồn Dân tộc trong nhau, họ không còn được nối kết với nhau bằng luân thường đạo lý, bằng Nhân Nghĩa, bằng Công bằng Bác ái, bằng Bi Trí , nên họ không nhận diện ra tình nghĩa đồng bào trong nhau.
Vì đã đối xử bất nhẫn với nhau, nên ngày nay khi xưng hô hai tiếng Đồng bào, họ áy náy quá, nên đã lẫn tránh mà dùng hai chữ Đồng hương !
Chính cái sảy này, nảy ra cái ung làm con Người giáng cấp, Cộng đồng bị phân hóa trầm trọng, đất nước tan hoang.
Cứ nhìn các cộng động người Việt ở hải ngoại, tuy các công đồng còn giữ được ít nhiều điều tốt, nhưng có nơi đã có hai ba Ban đại diện trong một cộng đồng. Tại sao vậy? Ai mà biết được cái ẩn ý của họ, nhưng chắc chắn là họ còn thiếu Đức và bất Tài, nên không lôi cuốn được mọi người, mà chẳng qua là những nhóm ấy có những hậu ý riêng mà thôi.
Còn quý vị trí thức thì ai cũng tỏ ra giỏi dang hiểu nhiều biết rộng, toàn nói những chuyện cao xa, tránh nói về Mình về con Người, về Gia đình và Xã hội, để tìm cách sống hoà vơi nhau. Khi bàn về vấn đề xã hội thì chỉ tranh biện hơn thua với nhau, chửi bới nhau sát ván, mà không nêu lên điều trái của đối phương và điều phải mình đang sống và ấp ủ, nên làm cho cộng đồng đã phân hóa càng phân hóa thêm.
Lối sống một chiều, không chấp nhận những người khác và không chỉ ra điều hay lẽ phải để cùng theo, đó là nguyên nhân gây nên rối loạn xã hội.
Trong các bộ môn văn hoá thì Nhạc là môn làm cho con người dễ thông cảm mà làm hòa với nhau. Người ta nói hòa nhạc, vì là nhạc có bản tính Hoà. Nhưng nhạc cũng có ba bảy thứ, có thứ thì quá kích dục làm cho tâm trí con Người rối loạn, họ hét lên những lời kích dục với những điệu vụ uốn éo của những thân hình hở hang với những ánh đèn màu cuồng ảo, để khởi động cuồng dục mà lôi cuốn.
Còn thứ khác thì quá ủy mỵ, toàn là những tình cảm yêu thương sướt mướt, xin cho nài nỉ, đau thương chua xót chia lìa cách xa. . .
Nhưng thứ nhạc nuôi dưỡng Tình người đôn hậu, Tình tự trai gái yêu thương lành mạnh, Tình yêu nhà yêu nước tích cực thì lại vắng bóng.
Đây phải là những lời ca, những điệu nhạc ru hồn Trời, hồn Đất hồn Người, khi tấu lên, hát lên thì thấm sâu vào lòng người, để lòng người nghe hoà nhịp cùng vũ trụ cỏ cây.
Cụ Nguyễn Du đã diễn tả:
“ Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là Hồ điệp hay là Trang Sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên
Trong sao châu rỏ duềnh quyên
Ấm sao giọt ngọc Lam Điền mới đông”
( Kiều )
Rõ ràng đây là cung đàn điệu nhạc hoà làm hòa cả 3 cõi: Trời Đất Người.
Nhạc mà không đem lại sự Hoà cho con Người là thứ đã quên con Người quên Nhà và quên Nước, thứ nhạc đó chỉ là những thứ làm rối loạn Tình người.
Muốn sáng tác nhạc có bản chất Hòa thì tâm hồn người nhạc sĩ phải có Tâm tình hòa, muốn có tâm tình hoà thì phải sống với nền văn hoá thái hòa của dân tộc. Bỏ quên gốc này mà đi theo những diệu nhạc kích dục làm rối loạn lòng Người thì quả là điều quá không nên.
Cái khó của nhà làm văn hoá theo ngành nhạc là phải theo thị hiếu của khán thính gỉa ( có thể đã đã mất Hồn ), nếu nay họ không đủ nội lực để lôi cuốn Hồn về thì sẽ bị thất bại trong công việc làm ăn !
Điều quan trọng hơn hết là lãnh vực tâm linh, các nhà lãnh đạo tinh thần
quá chú tâm về việc cứu rỗi, mà còn coi nhẹ việc hướng dẫn các tín đồ sống công bình trong trần thế, nên họ tạo đã ra bất công làm rối loạn xã hội, làm cớ cho CS dựa vào đó mà lừa nhân dân.
Còn CSVN là nguồn gốc của mọi sự bất công xã hội, mà chúng ta chưa thực sự đánh mạnh vào tử điểm này. Vụ Toà Khâm và Thái Hà mới là khởi điểm, việc này chúng ta phải làm thường xuyên, khắp mặt và nhất là cả trong nội bộ chúng ta nữa, để CS không thể dựa vào đâu để trốn tránh vấn đề.
Nhưng chúng ta có thực sự sống với Đạo lý thì mới mong dẹp tan bất công
xã hội được.
Đó là một hai thí dụ trong muôn ngàn thí dụ khác xẩy ra hàng ngày quanh ta.
Đó là những nan đề chúng ta phải trực diện, nếu không thì chúng ta vẫn ngủ mê trong giấc ngủ quên con Người triền miên!
Thường thường khi làm công tác văn hoá, nhiều người chỉ chú trọng đến văn học nghệ thuật. . . mà bỏ lơ hay không biết đến phần triết lý nhân sinh, tức là thứ triết lý quan tâm đến con Người cụ thể Nơi Đây và Bây Giờ, thậm chí có vị còn cho rằng, làm văn hóa mà đề cập tới vấn đề này là thấp kém, không cao thượng, văn hoá theo họ phải bàn tới những chuyện cao xa trên trời xanh mây trắng mới tao nhã, chẳng đả động đến ai, vô thưởng vô phạt, để nhẹ nhàng tấm thân, ở với ai cũng được.
Những câu truyện trên cho chúng ta ý thức rằng, sở dĩ có tình trạng như thế là vì đa số chúng ta đã bị Lạc Hồn, Hồn Tiên Rồng, Âu Cơ Lạc Long của chúng ta đã bị ngoại bang cướp đoạt đem đi nơi khác và đã bị chôn vùi, Xác mất Hồn này được đem đến chốn xa xăm, mà nay còn đang bơ vơ lạc lỏng trên cõi trời Bắc Kinh, trời Tây phương, trời Hoa Thịnh Đốn, trời Cẩm Linh . . ., nên chúng ta ngày nay chẳng khác nào những con diều đứt dây, mỗi người mỗi hướng trong quảng trời mơ, không nhận ra dấu vết đồng bào nơi nhau,vì nguồn Nhân đã cạn, suối Nghĩa đã vơi, tạo nên cảnh phân hóa trầm trọng.
Nguyên do sâu xa là 1000 năm đô hộ Bắc phương và gần 100 năm đô hộ Pháp quốc và hiện nay Hồn chúng ta đang còn bị Vây hãm, đang còn bị ảnh hưởng nặng nề của Bắc và Tây phương làm cho chúng ta quên nền văn hóa thái hòa của chủng tộc Việt, chẳng khác nào người mê ăn phải cháo lú nô lệ, quên đi cái gốc, cái chính, quên luôn cả chính mình, nên đánh mất hết tính chất tự chủ, tự lực, tự cường.
Thiếu con người tự chủ thì chúng ta không thể làm chủ vận hệ chúng ta, gia đình và đất nước chúng ta được, tất nhiên là bị nô lệ mà không hề hay biết.
Lại nữa khi con người quá mê say văn minh vật chất, trở nên duy Lý, bỏ Đạo lý đượm Tình là tiêu chuẩn chung làm Người, mỗi người theo đuổi một ý hướng cá nhân riêng, làm sao mà đoàn kết, vì dân tộc thiếu nơi chốn đồng quy.
Không có đạo lý chung để quy tụ thì lấy gì mà đoàn kết toàn dân.
Khi cả dân tộc có đồng quy để trở thành con Người Phù Đổng, quây quần xung quanh Đạo lý dân tộc mà phát triển bản sắc riêng của mình, để có nội lực tổng hợp, khi đó thì chuyện “ xẻ núi đắp sông “ nào cũng đều có thể.
Cái khó là ở chỗ mỗi người có quyết tâm rèn luyện cái Tâm đạo của mình để mà yêu thương và ăn ở công bằng với nhau được không. ( Tự thiên tử chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản: Từ thiên tử đến người dân ai ai cũng lấy việc tu thân làm gốc: Nho )
Đánh mất Tâm đạo là đánh mất chính mình, gia đình mình và đất nước mình.
Đi tìm hạnh phúc của mình, sự yên ấm của gia đình mình, nền hòa bình của đất nước mình mà chỉ tìm ở ngoài, ở xa là lạc nẻo, vì bên ngoài chỉ là thế giới hiện tượng, luôn luôn biến đổi, không bao giờ để cho cái Tâm của mình được an trụ thảnh thơi, để nhận ra đường ngay lẽ chính, mà sống ở đời cho đạt đạo vi Nhân.
Đi xây dựng gia đình xã hội, mà không bắt đầu nơi chính mình theo đường lối Tu, Tề, Trị, Bình là làm ngọn bỏ gốc. Bỏ gốc thì khi gốc chết, ngọn cũng héo khô.
Thân không tu thì không biết cách thế ăn ở đúng đắn với chính mình, với gia đình mình, thì làm sao mà ăn ở tốt lành với người khác được.
Con Người đã hư đốn, thì gia đình sẽ đổ nát theo và đương nhiên xã hội cũng lần theo băng hoại.
Việc nhỏ chưa làm nên, mà đi ôm đồm chuyện lớn, làm chuyện lực bất tùng tâm, thì chỉ là chuyện châu chấu đá xe.
Làm việc mà bắt đầu từ chỗ xa con Người và vọng Hồn Nước người là quên gốc, mất nền tảng, vì làm việc như thế chỉ hợp cho kẻ khác ở nơi khác, tất nhiên là không đem lại kết quả mong muốn cho chính mình, đất nước mình, rồi ra mới nhận ra mọi lâu đài đều xây dựng trên cát.
( Vật hữu bản mạt, sự hữu thuỷ chung, tri kỳ chung thuỷ, tắc cận đạo hỹ: Vật có gốc ngọn, việc có trước sau, biết làm theo tứ tự trước sau, tất gần với đạo làm Người vậy: Đại học )
Không cùng nhau sống theo Đạo lý là nền tảng chung của đất nước, thì làm sao mà kết hợp vơi nhau để thiết lập được môt xã hội công bằng mà sống hài hoà an vui với nhau được.
Môt xã hội đầy bất công như ngày nay thì có hô hào “ bể cổ đổ họng “ cũng chẳng thể làm cho hòa bình ló dạng được, vì Hòa bình không thể dung dưỡng bất công.
May mắn thay! Cha ông chúng ta ( đại chủng Việt ) đã có một nền văn hóa đáp ứng được những yêu cầu trên, vì bị nô lệ lâu dài mà chúng ta quên mất: Đó là nền văn hoá đặt nền trên Con Người Nơi đây và Bây giờ, có mạch sống nơi ba nhu yếu tối thiết của con Người, đó là Thực, Sắc, Diện ( : của ăn uống, Tính dục và Thể diện) , đó là Thiên tính, không ai có thể từ chối, bản chất của con Người là:
* Nhân chủ là con Người Tự chủ, Tự lực, tự cường ,
* Thái Hòa là vừa Tiến bộ lại Trường tồn, nhờ tính chất quân bình động, và
* Tâm linh tức là Nguồn sống và nguồn Sáng. ( Đã bàn ở bài Tinh Hoa Văn hoá Việt trong cuốn Văn hoá Thái hoà II.)
Ta có thể ví nền văn hoá như một cây cổ thụ , có ba rễ chính hút các chất bổ dưỡng là Thực Sắc, Diện.
Thân cây có ba cành: Nhân Chủ, Thái hòa và Tâm linh, và Hoa Trái toả ra hương vị Thái hoà bát ngát, đây là sự hoà bắt đầu từng cá nhân, lan đến từng gia đình, toa ra cùng xã hội và hoà nhịp cùng tiết điệu vũ trụ, hay nói cách khác: ở cấp cá nhân là sống hoà Tình và Lý, ở cấp gia đình là hòa giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, ở quốc gia là hòa giữa nhân dân và chính quyền, ở cấp quốc tế là tình huynh đệ phổ biến“ Tứ hải giai huynh đệ “ , ở cấp siêu hình là hoà giữa Hữu và Vô.
Đặc biệt là nền văn hoá này Thống Nhất cho cả toàn dân, cả chất gia lẫn văn gia, tuy ở mức độ cao thấp khác nhau, nên rất dễ thông cảm, lại nữa nền văn hoá Đông Nam này đã Trường Tồn qua hàng ngàn năm, và đến nay vì bị áp chế, còn đang âm ỉ trong tâm khảm nhiều con dân đất nước. ( Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Lm Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, cô Phạm Thư Nghiên và vô số người khác đang đứng lên đòi công lý và nhân quyền là ví dụ ).
Một nền văn hoá thái hòa ( Nhân chủ, Thái hòa và Tâm linh ), Thống nhất và Trường tồn là một nền văn hóa vô địch.
Còn ở các nơi khác thì quý tộc có một nền văn hoá giai cấp riêng khác với bàn dân thiên hạ, giai cấp thống trị không cần bàn dân thiên hạ có văn hóa, vì chì cần họ è cổ ra mà bị bóc lột và chịu áp bức.
Một điểm đặc biệt vô cùng quan trọng khác là cha ông chúng ta đã biết cách đem Đạo Lý vào Đời ( hay đem Tâm linh vào Thế sự ) một cách rất tài tình qua con đường Tu, Tề, Trị, Bình ( xin xem bài Tinh hoa văn hóa Việt tộc trong cuốn văn hóa thái hòa II, chưa xuất bản )
Con đường này khác với con đường của Hán Nho, Hán Nho đã đánh mất cái tinh tuý nên đã trở thành hủ Nho, vì không hiểu được nét song trùng lưỡng hợp và cơ cấu Ngũ hành, đây là gốc của đạo Nhân và đức Nghĩa. Nhân là lòng yêu thương mình và yêu thương mọi người, Nghĩa là đức được chi tiết hoá thành Lễ, Trí, Tín, là lối ăn ở “ có đi có lại, để toại lòng nhau “, tức là công bằng với mình và mọi người.
Còn các nơi khác thì Đạo và Đời là hai lãnh vực riêng biệt, Đạo Đời ly cách, nên khó mà đem Đạo lý vào Đời được, do đó mà xã hội mới đầy rẫy bất công.
Những chế độ nô lệ, đế quốc thực dân là những chế độ mà Đạo một đàng, Đời một nẻo, còn Cộng sản thì Đạo chẳng có nên Đời ngày càng tràn ngập bất công.
Không may, đa số chúng ta như những kẻ Lac Hồn lại học theo kỹ thứ văn hoá đó, nên xã hội chúng ta lại càng tệ hại hơn!
Sở dĩ có chuyện đó là vì không hiểu rõ chân lý ngược chiều, cứ theo đàng lý Trí mà chỉ mê mãi trên con đường Thế sự, nên quên mất con đường ngược chiều Tâm linh, là nguồn Sống và nguồn Sáng
Khi hướng ngoại thì phát triển lý trí, nhưng có hướng nội mới phát triển được Tâm linh, Tâm linh là nguồn suối Tình Yêu và Sức Sống.
Đây là chân lý ngược chiều như thở vào thở ra, như thân và cành cây thì mọc ngược, mà rễ cây lại đâm xuống.
Không biết quy tư để đi vào Tâm linh thì không tiếp cận được với nguồn Nhân là cái gốc của con Người, con Người mà đánh mất Tình Người thì lại hóa ra Ngợm.
Đối với những người giả hình, dù miệng lưỡi họ có cao rao bác ái và công bằng, thì cũng chỉ là những câu nói đầu môi chốc lưỡi.
Nói và Làm theo họ cũng chỉ là hai lãnh vực khác nhau, ( năng thuyết bất năng hành ) đây là nguồn gốc của chủ nghĩa Nhân danh, nói một đàng làm một nẻo, đây cũng là ngón đòn nhà nghề của CSVN.
Ngày nay lãnh vực chính trị đã bao trùm lên mọi lãnh vực khác như văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội.
Người ta thường bàn cãi nhiều về vấn đề tách Tôn giáo ra khỏi Chính trị, vì không muốn cho Thần quyền nắm luôn Chính quyền như thời đen tối Trung cổ ở Âu Châu. Nhưng không thể tách Đạo lý ra khỏi Chính trị, một chế độ Chính trị thiếu Đạo lý chỉ là một chế độ Tà trị, Tà trị chỉ mưu phúc lợi cho một ông vua, cho một gia đình, cho một giai cấp, cho một đảng phái, mà bỏ quên phúc lợi của mọi người dân.
Một chế độ bắt nguồn từ triết lý Nhân sinh, có Chủ Đạo Hoà mới là chế độ chính trị từ Dân, do Dân và vì Dân.
Đó là một chế độ chính trị biết xây nền trên văn hóa có ba đặc tính Nhân chủ, Thái hòa, và Tâm linh.
Có đi vào thế giới Tâm linh thì mới đi về nguồn Tình, để tu dưỡng đạo Nhân và đức Nghĩa, là hai căn tính của con Người Nhân chủ, con Người được trang bị với Đạo Nhân và đức Nghĩa thì mới biết cách sống Hòa.
Con Người Nhân chủ mới biết lấy gia đình làm nền tảng và lấy sự Hoà làm đối tượng trong mọi lãnh vực của đời sống. Vì có Hòa thì mới xây dựng được mọi sự cân xứng, có thế mới thể hiện được lẽ Công bằng là cội rễ của sự Hòa.
Đây là con đường khó khăn, lâu dài nhưng bền vững, đòi hỏi mọi người phải có một Tâm đạo, biết hy hiến Thân Tâm cho Chủ Đạo Hòa thì mới mong đạt được.
Chứ cứ a dua theo thời mà mãi mê rong ruổi theo thời đại cao tốc này, mọi người chỉ chuyên lưu tâm đến việc giao tranh lợi không thôi, mà bỏ quên Đạo nghĩa thì không bao giờ đạt được Đạo Thái hòa là nguồn hạnh phúc chân thật của con Người, đành rằng cha ông chúng ta đã khuyên bào “ăn theo chợ ( không gian ), ở theo thời ( thời gian )” : sống thuận theo không gian và thời gian, tức là thuận thiên, thuận với đạo lý “, sống sao cũng được miễn là đừng có rời gốc “ vi Nhân “.
Ngày nay nói đến Nhân Nghĩa bị coi là lạc hậu, lỗi thời, nhưng thiếu các thứ nhân bản cần thiết ấy, mà nhắm mắt cầu lợi, không lý tới “ chuyện phải người phải ta “, cứ sống bừa làm cho xã hội rối beng, đến lúc bế tắc sẽ choảng nhau mà đạp đổ mọi công trình xây dựng của mình xuống sông!
IV.- Tóm lại
Có những vấn đề chúng ta phải cùng nhau quan tâm, tất cả toàn dân phải quan tâm, nhưng đặc biệt là những vị lãnh đạo tinh thần, những vị trí thức phải “ đặc biệt cùng nhau quan tâm “, chỉ có các quý vị đó là những người dẫn đạo cho dân tộc mới mong mọi sự bắt đầu được.
1.- Vấn đề Ý thức.
Cha ông chúng ta đã nói: “ Đạo mất trước, Nước mất sau” . Đạo là gì ?
Là những giá trị của các Tôn giáo như Nho giáo thì có Nhân, Trí, Dũng, Phật giáo thì có Bi, Trí, Dũng, Công giáo thì có Bác ái, Công bằng và Tha thứ. Đó Là những giá trị mà không cần có đức tin tôn giáo mà ai ai cũng có thể chia sẻ cùng nhau được
Đức Dalai La Ma đã có nói: “ Though we may find differences in philosophical views, and rites, the essential message of all religions is very much the same. They all advocate Love, Compassion anh Forgiveness.
And even those who do not believe in religion can appreciate the virtues of basic human values”
( An open heart: Dalai La Ma. p.8- 9 )
Đó là tinh thần “ Vạn giáo nhất lý “ hay là tinh thần “ Tam giáo đồng nguyên “ của cha ông trước đây, cũng như tinh thần Tôn giáo đồng nguyên mà ngày nay chúng ta phải đạt tới.
Đó là Đạo lý hay cái Hồn Nước hay Hồn thiêng sông núi cũng vậy, bỏ các thứ ấy thì chúng ta sẽ mất Hồn trở thành những kẻ xa lạ với nhau, nên đôn đáo tứ phương mà đi rước thứ văn hoá Bá đạo của Bắc phương và văn hoá Duy Lý của Tây phương về mà tàn hại nhau.
Có rước được cái Hồn Tổ tiên trở về thì khi đó chúng ta mới đồng quy, mới đoàn kết với nhau được. Việc nước là việc của mọi người dân, mọi người dân phải cùng đóng góp và cùng nhau chung hưởng. Toàn dân có quy tụ được trên nền đạo nghĩa thì mới có cứ điểm để tu dưỡng Nội lực để lo chuyện những Nước cùng Non.
2.- Vấn đề:Con Người.
Trong các nan đề của chúng ta thì vấn đề con Người là quan trọng nhất, vì với con Người thiếu khả năng và tư cách thì sờ đến việc nào là hư việc đó.
Những kẻ học không hay, cày không biết “ thì làm được gì nên thân!
Chúng ta phải xây dựng lại con Người Nhân Chủ là con Người có khả năng và tư cách làm chủ thì mới mong cứu vãn được tình hình nô lệ nguy cấp hiện nay.
Ngày nay con dân Việt Nam đã có mặt khắp thế giới đã học hỏi được nhiều điều hay điều tốt, nhất là khoa học Kỹ thuật, nếu biết giữ lấy cái gốc con Người và gốc Dân tộc, đem những điều sở đắc mà bồi đắp cho nến Văn hoá dân tộc thêm tốt tươi thì là vạn hạnh cho đất nước.
Nhưng nếu cứ bỏ gốc mà mù quáng theo ngoài một cách thiếu khôn ngoan, để kẻ Đông người Tây, anh Nam tôi Bắc, mỗi người một hướng, một cỗ xe xã hội mà có bốn con ngựa kéo bốn bên thì cỗ xe đi hướng nào đây ? !
Đó là điều bất hạnh như ta đã hằng thấy!
3.- Đạo lý làm Người.
Chúng ta nhất là các vị lãnh đạo tinh thần, các vị trí thức phải lãnh nhận cùng nhau giúp mọi người dân khôi phục lại nền Đạo lý Tổ tiên, để có nội lực mà sửa mình mà xây dựng gia đình và đất nước. Đây là việc khởi đầu từ mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, và phải làm đồng loạt thì mới mong chuyển được tình thế ù lì hiện nay, sức ù lì này đã ứ đọng cả hàng
ngàn ăm,.nếu cứ làm lẻ tẻ thì chẳng bao giờ đạt kết quả.
Mỗi Tôn giáo có những giá trị cao quý được diễn đạt cách riêng, mỗi tôn giáo phải đi sâu vào tinh tuý của Đạo mình mà hướng dẫn cho mọi người hiểu rõ tinh tuý của đạo, sống đạo và nhất là đem tinh thần đạo sống hàng ngày giữa đời, mà phục vụ nhau để cho đạo Nói và đạo Làm là Một.
Nhât là hướng dẫn cho mọi người hiểu rõ là muốn hoà bình, hạnh phúc thì phải yêu thương nhau và ăn ở công bình với nhau. Đây là vấn đế rất đơn giản nhưng rất khó thực hiện. Xin đừng coi thường và đừng có tìm ở đâu xa.
4.- Chủ đạo quốc gia hay sách lược quốc gia.
Tìm cho ra một Chủ đạo quốc gia, đó là chủ đạo Hoà để giải quyết nạn bất công trong mọi lãnh vực, mà mọi người đều vui vẻ tuân theo.
Phải đem tinh thần công bằng vào trong các cơ chế xã hội như Chính trị, Giáo dục, kinh tế, xã hội. . . để mọi người có cơ phát triển và sống hoà với nhau, đóng góp và chia sẻ cùng nhau.
Có chủ đạo như thế thì mới giải quyết được nạn Bất hòa, do lối sống Bất Công truyền kiếp mà ra.
5.- Đem Đạo lý vào Đời.
Dùng phương pháp khoa học kỹ thuật tân tiến hiện nay để đem tinh thần Đạo lý đó ( sự công bằng tương đối trong mọi lãnh vực ) vào mọi cơ chế xã hội để thực hiện sự công bằng thì tất nhiên xã hội sẽ ổn định và con Người mới mong hưởng được chút hạnh phúc trần gian.
CSVN đã bỏ Đạo lý dân tộc làm cho con Người giáng cấp, gia đình tan nát, xã hội điêu tàn, nay, CSVN một mặt cứ rước các nhà đầu tư ngoại quốc về, làm đốc công để bóc lột nhân dân, và buôn người để chài vét, mặt khác lại chạy xung quanh hiện tượng rối ren mà sửa chữa để tồn tại, đây chỉ là việc bôi dầu cù là cho bệnh nội thương. Con Người hư đốn đến cùng, xã hội cực kỳ bất công, cứ mù quáng theo kẻ thù truyền kiếp để chạy trốn thực tế là
một ảo tưởng khác lớn hơn ào tưởng thiên đường trần gian.
Chống cộng sản là chống sự Bất công, nguồn gốc của nó là ở Gốc vô thần, thiếu Tình Người, nếu không kíp sửa chữa, không chóng thì chầy đất nước ta sẽ hết đường cứu chữa.
Chúng ta thách đố đảng CSVN “ trao đổi về và sống với Đạo lý dân tộc và chống Bất công xã hội “.
Đó là điều Đảng CSVN đã cao rao gần thế kỷ nay. Nhất định không bàn loanh quanh tới những gì ngoài vấn đề cốt tuỷ chính yếu trên.
Đây là lối minh minh đức, lối trao đổi trên tinh thần đạo lý, biết tôn trọng Đạo lý, tôn trọng phẩm gía con Người, không phải là lối tranh biện chửi bới nhau vô ích.
( Theo sự soi đường chỉ lối độc đáo của triết gia Kim Định, tôi đã Trích dẫn các tài liệu của Giáo sư, và Dẫn giải một số qua hai cuốn Văn hoá Thái hòa I và II, và viết một số bài đem Đạo lý vào Đời trong cuốn Văn hoá Thái hòa III để mong mỏi đóng góp được chút gì cho công việc chung. ( Các sách này dày chừng 2000 trang, chưa được xuất bản )
Các bài trong cuốn III đều là những bài đáp ứng cho thời cuộc Việt Nam theo Chủ Đạo Hòa của nền văn hoá Việt.)
Trân trọng,
Nguyễn Quang.