Nhận Diện“Phi Chánh Trị”
Giáo Già
Tin được đài RFA loan đi ngày hôm nay, Thứ Tư 19-11-2008, cho biết:
“Báo chí trong nước được hãng thông tấn AP trích thuật cho biết Phó Bí thư Thường trực Thành ủy thành Hồ vừa ký quyết định tạm đình chỉ công tác Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải và Giám đốc Ban Quản lý Dự án Đại lộ Đông - Tây và Môi trường nước đối với ông Hùynh Ngọc Sĩ. Vụ việc này được nhắc đến lâu nay, và mới hôm 12 tháng 11 vừa qua, nhật báo Yomiuri của Nhật cho biết bốn bị cáo là viên chức thuộc Công ty Tư vấn Thái Bình Dương [PCI] thừa nhận trứơc tòa trong ngày 11 tháng 11 là đã đưa tiền hối lộ cho ông Hùynh Ngọc Sĩ. Khỏan tiền hối lộ để được ưu đãi trong các hợp đồng tư vấn cho PCI giai đọan 2001- 2003 lên đến hai triệu sáu trăm ngàn đô la Mỹ, tương đương 10% giá trị hợp đồng. Riêng trong khỏan thời gian từ 2003- 2004, tiền hối lộ là 820 ngàn đô la Mỹ. Bản tin của hãng AP cho biết họ đã cố liên lạc với các quan chức thành Hồ trong ngày hôm nay để hỏi thêm chi tiết nhưng không có ai trả lời”.
Cũng được biết thêm là trong buổi sáng cùng ngày, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành Hồ Lê Hoàng Quân đã ký quyết định tạm đình chỉ công tác đối với Huỳnh Ngọc Sĩ; người đứng đầu dự án từng được báo chí VC ca ngợi là “chắp thêm đôi cánh phát triển cho thành Hồ” trong buổi lễ ký kết hợp đồng xây dựng giữa đại diện Cộng sản Việt Nam và Nhật Bản hôm 11-1-2005.
Cùng ngày 19-11-2008, chuyện nhà ngoại giao Cộng sản Việt Nam từng chối bỏ chuyện lợi dụng chức vụ ngoại giao và tòa đại sứ để buôn lậu cũng được nhắc lại qua bản tin được đài BBC phổ biến. Theo đó, viên Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Nam Phi Trần Duy Thi nói rằng y đã xác định được danh tánh người của tòa đại sứ trong đoạn băng được coi là quay cảnh buôn lậu sừng tê giác mà trước đây tòa đại sứ đã chối là không có nhân viên nào nhận có hành vi tham gia buôn lậu. Đó là bà Vũ Mộc Anh, Bí thư thứ nhất, nhưng “đương sự chưa chịu nhận”, tuy cảnh quay lén vụ 'buôn lậu sừng tê giác' trước sứ quán Việt Nam đã cho thấy rõ theo 2 bức ảnh đính kèm.
Đại sứ Thi còn nói thêm là “Chuyện này rất nghiêm trọng. Người ta quay hình cả lá cờ Việt Nam [cờ đỏ sao vàng] như thế. Quá nhục nhã”. Điều nên biết thêm là cũng theo lời Thi thì hồi năm 2006, một tùy viên thương mại cũng liên quan tới một vụ tương tự và đã bị gọi về nước ngay; và chuyện buôn lậu này đã từng xảy ra và từng bị bắt giữ nhiều lần trong quá khứ. Lần này thì phát ngôn viên Lê Dũng hết cách chối.
Bước sang chuyện Giáo xứ Thái Hà, tin được đài VOA phát đi ngày 18/11/2008 cho biết: “Lực lượng chính quyền địa phương đã tấn công và đập phá ngôi đền Thánh Gerardo thuộc Giáo xứ Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội lần thứ nhì... Tin nói rằng hàng trăm người được sự hậu thuẫn của Ủy ban Nhân dân phường Quang Trung đã tới tấn công ngôi đền khuya thứ Bảy 15 tháng 11. Đây là lần thứ nhì đền thờ Thánh Gerardo bị tấn công. Vụ thứ nhất xảy ra ngày 21 tháng 9 khi một đám người kéo tới phá phách, đập bể tượng, xé kinh sách trên giá kệ trong đền thờ...”
Hãng thông tấn AFP trích dẫn tin trên mạng Vietcatholic.net, về báo cáo từ Thái Hà, qua đó Linh mục Đinh Hữu Thoại, một trong những vị lãnh đạo tinh thần giáo xứ này, thì nhà thờ đã rung chuông báo động kêu gọi giáo dân tập trung đến bảo vệ giáo đường này.
Ngoài ra, Linh mục Nguyễn Văn Thật, một vị lãnh đạo tinh thần khác tại Thái Hà cũng xác nhận đã có cuộc tấn công có tổ chức nhắm vào giáo xứ này, đêm thứ bảy vừa qua. Đồng thời, trả lời Đài Á Châu Tự Do [RFA] hôm thứ Hai 17-11-2008, một giáo dân chứng kiến sự việc cho biết:
“Tôi có mặt lúc đó và thấy có công an, rồi những người xưng là cựu chiến binh và phụ nữ. Họ có những lời không hay đối với nhà thờ; rồi có người tự ôm đầu cho là bị đánh và họ xông vào định đánh những anh trong nhà thờ và muốn tràn vào nhà thờ; nhưng rồi giáo dân đóng cửa không cho họ vào và nhà thờ kéo chuông lên rồi giáo dân từ các giáo xứ quanh đó đến kịp thời. Lúc đầu có tiếng hô đập phá nhưng sau có tiếng nói 'chờ chỉ đạo'.”
Vậy mà Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cộng sản Việt Nam, nói đây là một thông tin bịa đặt, trong khi cảnh sát công an có mặt tại khu vực không hề can thiệp để ngăn chặn vụ đập phá. Từ đó, có câu hỏi được đặt ra là “Chuyện lũ lụt không lo lại lo đi phá nhà thờ?”
Trong lúc Giáo xứ Thái Hà gặp nạn thì Tăng đoàn Làng Mai của Thiền sư Nhất Hạnh cũng bất ngờ gặp nạn mà người biết chuyện đã “phán” thành 2 chữ “đáng đời”.
Theo dõi tình hình Phật giáo Việt Nam, dư luận thấy rõ là sau những lần về thăm Việt Nam và tổ chức lễ đàn giải oan “hoành tráng” ở Sóc Sơn, Thiền sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai đã về hùa với Cộng sản Việt Nam góp phần vẽ nên bức tranh tôn giáo Việt Nam có những bước “lừa mị cải thiện” mới, khiến người ngoài cuộc tưởng chừng như Thiền sư đã tìm được lối về quê hương, với Phật Tử trong nước... để qua đó nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tỏ cho mọi người thấy thiện chí của Nhà nước với các thành phần, tổ chức tôn giáo trong cũng như ngoài nước.
Được biết thêm là trong những lần về trước đó Thiền sư còn giao hảo với Giáo Hội Phật Giáo Quốc doanh để nhờ đó Thiền sư có nhiều sách xuất bản tại Việt Nam, gây được nhiều ảnh hưởng trong Phật tử Việt Nam. Rất đông đồng bào đã quy y theo đạo Phật với Thiền sư, đã xin được xuất gia tu học theo pháp môn Làng Mai. Chẳng mấy chốc Phật tử tu theo pháp môn Làng Mai đã hình thành được hai tu viện: một ở Tổ đình Từ Hiếu ở Huế, và một là Tu viện Bát Nhã tọa lạc trên vùng cao nguyên Bảo Lộc, thuộc tỉnh Lâm Đồng. Điều đáng lưu ý là chỉ mới ba năm xây dựng mà Bát Nhã đã có gần 400 tăng ni sinh tuổi từ 14 đến 35 tu học...
Bất ngờ, Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Nhà nước phổ biến Văn thư 1329/TGCP-PG đề ngày 29-10-2008 cho đọc trên loa phóng thanh, và dán trên các bảng thông cáo của Tu Viện, cho biết:
“...Tăng thân Làng Mai không còn cơ sở pháp lý tối thiểu để ở lại tu viện Bát Nhã nữa mà phải rời khỏi tu viện Bát Nhã... Quý vị giáo thọ Làng Mai mang quốc tịch nước ngoài, nếu visa còn thời hạn mà hoạt động trái pháp luật thì buộc xuất cảnh, nếu visa hết hạn, cho xuất cảnh theo qui định của pháp luật...”
Theo dõi nội vụ có người đã không ngần ngại cho rằng “chỉ còn vài tháng nữa Nguyễn Thế Doanh sẽ nghỉ hưu nên kiếm chuyện để cướp Tu viện Bát Nhã với nhiều công trình kiến trúc và đất đai do Tăng thân Làng Mai tích góp xây dựng trị giá nhiều triệu đô la Mỹ... làm vốn dưỡng già!!!”
Từ chuyện Tăng thân Làng Mai coi như mất trắng Tu viện Bát Nhã và giáo thọ nước ngoài bị đuổi ra khỏi Việt Nam, bước sang chuyện cô Tim Aline Rebeaud, mà chuyện lợi dụng lòng từ thiện của người Việt hải ngoại vẫn còn là vấn nạn làm lộ rõ thêm mặt thật của con buôn từ thiện, từ lâu bị Cộng sản Việt Nam bắt bí làm công cụ tuyên truyền cho chúng. Xin hãy nghe lại câu trả lời của cô Tim với báo Calitoday:
Hỏi: Xin cô cho biết vì lý do gì mà cô không cho treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của thời Việt Nam Cộng Hòa?
Tim Aline Rebeaud trả lời: Tổ chức Nhà May Mắn (Maison Chance) của chúng tôi là một tổ chức Phi Chánh Phủ (NGO: None Government Organization - Phi Chính Phủ - Phi Chính Trị - Phi Tôn Giáo). Chúng tôi chỉ làm công tác từ thiện. Tôi không có quyền ngăn cấm ai cả. Treo cờ, chào cờ là chuyện của ban tổ chức tại mỗi địa phương. Riêng tôi chỉ thuần làm công việc từ thiện và tôi không muốn những vấn đề chính trị ảnh hưởng đến công việc từ thiện của tôi. Nếu Ban Tổ Chức muốn treo cờ hay làm gì đó tùy ý, nhưng trong chương trình của tôi không thể có cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Điều nầy qúy vị biết hơn ai hết, tôi không thể đứng dưới bất kỳ một lá cờ nào cả, và “Tôi làm việc với con Tim, với lòng nhân đạo. Tôi không muốn quý vị gán ghép tôi vào chính trị, điều đó sẽ gây nên hoàn cảnh bất lợi cho trên 300 con người đang đói khổ hiện nay trong Nhà May Mắn và Trung Tâm Chắp Cánh của chúng tôi”.
Tuy không ngang bướng như Madison Nguyễn, người nữ nghị viên ở Thành phố San Jose, California, Hoa Kỳ, đang chờ bị bãi nhiệm vì tội phản bội cử tri, nói láo và trù dập dân chủ, nhưng sự dối trá của Tim Aline Rebeaud đã khiến những người lỡ nghe lời Nguyễn Cao Kỳ Duyên, nghe lời Nguyễn Ngọc Ngạn.. trong DVD Thúy Nga Paris 90, rơi lệ thương Tim Aline Rebeaud và thương “trên 300 con người đang đói khổ hiện nay trong Nhà May Mắn và Trung Tâm Chắp Cánh” ngỡ ngàng, bởi vì qua những bức hình trưng dẫn từ Ban Biên Tập - Vietland sau đó, đã cho thấy Tim nói láo, Tim đứng vỗ tay hát dưới lá cờ đỏ sao vàng, Tim đứng nhận giải “prix-henry-dunant” cạnh hình tượng Hồ Chí Minh, học trò của Tim lên bảng trình bầy về lá cờ đỏ sao vàng...
Chuyện xảy ra khiến Ba nhớ lại chuyến đi Nam California tham dự lễ giỗ cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông [16-11-2008] với lễ vật đặc biệt là cuốn Di Cảo Giáo sư Nguyễn Văn Bông do Mekong-Tynan và Nguyễn Ngọc Huy Foundation tái bản, tình cờ trông thấy lá cờ Quốc gia Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ lừng lững tung bay ở một nghĩa trang xinh xắn, nơi an nghĩ của nhiều cựu quân nhơn Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cạnh khu nhà của bác MTT ở Westminster.
Tất cả cho thấy sự cần thiết phải có một thái độ chánh trị trong những hoàn cảnh chánh trị và những hoàn cảnh tưởng như “phi chánh trị” ; và những người lợi dụng chuyện “không làm chánh trị” , nói chuyện “phi chánh trị”, chỉ khiến họ thành công cụ chánh trị cho Cộng sản Việt Nam khai thác. Từ đó, xin trích lại đây bài viết của cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông được trích trong Di Cảo Giáo sư Nguyễn Văn Bông, vừa được Mekong-Tynan & Nguyễn Ngọc Huy Foundation tái bản để làm tài liệu suy gẫm:
Thái Độ Phi Chánh Trị
Trong những năm qua, tại miền Nam tự do nầy cuộc sinh hoạt chánh trị đã xoay vòng trong mâu thuẫn. Và một trong những mâu thuẫn trầm trọng nhứt có lẽ là thái độ phi chánh trị của đa số công dân và những nhà lãnh đạo trong lúc chính yếu tố chánh trị quyết định sự sống còn của đất nước.
Thật vậy, vì chánh trị và nhân danh chánh trị người ta quay cuồng trong những trò chơi khốn nạn, ném đá giấu tay, người ta dám có những hành động bán nước hại dân để rồi, dư luận xảo trá, bịp bợm, xôi thịt, bè phái được gắn liền với danh từ chánh trị. Và từ đó, công dân chán ghét chánh trị cho chánh trị là một địa hạt không liên quan đến mình, trở về cuộc sống riêng tư và chuyên môn, phó mặc sinh hoạt chánh trị cho những “anh hùng chuyên môn tán dóc”. Thái độ thụ động và bàng quan nầy là một trở ngại cho công cuộc chống Cộng hiện nay và nếu còn tiếp tục sẽ có hậu quả không hay cho tương lai nền dân chủ.
Nếu sự sống cô đơn là ảo tưởng, nếu mối tương quan xã hội là một dữ kiện không thể tránh của con người ngày nay thì dầu chánh trị có được xem là bệnh dịch hạch hay là địa hạt nào của những xảo trá, xôi thịt, con người không thể thoát vòng kềm tỏa của chánh trị. Và dầu có cố ý sống trong tháp ngà hay vô tình lánh xa xã hội, khung cảnh cũng như trật tự pháp lý và những vấn đề chánh trị vẫn chi phối và quấy nhiễu chúng ta.
Trong cuộc sinh hoạt chánh trị hiện nay, người ta nhận thấy có hai trào lưu tư tưởng, hai khuynh hướng. Tuy khác biệt nhau, nhưng chung qui chỉ là hai hình thức của thái độ phi chánh trị. Khuynh hướng thứ nhứt đưa đến sự phủ nhận tính cách chánh trị của hoạt động mình. Khuynh hướng thứ hai nhằm đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.
Vì tầm quan trọng của vấn đề trước viễn ảnh đấu tranh chánh trị, chúng ta thử phân tách và phê bình hai khuynh hướng phổ thông nầy.
Có những người mà hoạt động của họ cũng như hành vi của họ mật thiết liên quan đến sinh hoạt chánh trị. Nhưng họ quả quyết rằng những hành động ấy không có tánh cách chánh trị, họ phủ nhận những hành động của họ, lập trường của họ không có tánh cách chánh trị. Tại sao?
Thái độ phi chánh trị vừa nêu, nghĩ cho cùng, chỉ là một ảo tưởng. Sở dĩ có như thế là vì những người này có một quan niệm quá hẹp hòi, quá khắt khe về chánh trị, đôi khi lại chống chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì chỉ liên quan đến chánh đảng, đến bè phái. Vì vậy, khi mà hoạt động của họ có vẻ trên đảng phái hay ngoài đảng phái thì cho đó là những hành vi không có tánh cách chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì liên quan đến ý thức hệ, đến sự đấu tranh giành quyền lực, cho nên khi hoạt động của họ bề ngoài có tánh cách kỹ thuật, dựa trên kinh nghiệm thực hành, thì không bao giờ họ nhận rằng hành vi ấy là hành vi chánh trị.
Tại sao thái độ vừa nêu là ảo tưởng?
Chúng ta đã biết rằng có nhiều người mà hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách chánh trị, nhưng họ quả quyết phủ nhận tánh cách ấy. Tại sao?
Vì quan niệm quá chật hẹp về chánh trị. Họ không chấp nhận được rằng chánh trị chi phối những địa hạt quan trọng và rộng rãi giữa mối tương quan của con người, chớ không phải vì vỏn vẹn nằm trong lãnh vực định chế và chánh quyền. Họ từ khước việc xem xét, việc cân nhắc những hậu quả chánh trị của hành vi mà họ cho rằng chỉ có tánh cách riêng tư.
Tâm trạng này là tâm trạng của rất nhiều người.
Đó là trường hợp của những đạo sĩ, những vị tu hành. Những vị này, trong những ngày cách mạng, giữa lúc chánh biến, có những hành vi như: góp tiền để giúp tù nhân chánh trị, cho ở trong nhà mình, giấu trong nhà mình những kẻ đối lập chánh trị. Đó là những hành vi hoàn toàn và không thể chối cãi có tánh cách chánh trị. Nhưng vì lòng từ thiện của họ, vì họ cho rằng làm như thế ngoài mục đích chánh trị, mà trái lại vì đó là bổn phận, vì đó là để tránh cho con người những đau khổ. Họ thành thật cho rằng không vì lý do chánh trị, nhưng họ quên rằng những hành vi ấy có hậu quả chánh trị.
Đó là trường hợp của những người cầm bút, của văn sĩ, nghề nghiệp của họ đưa đến một lập trường chánh trị, hoặc có hậu quả chánh trị mà họ không ý thức. Những người cầm bút trong những bộ tiểu thuyết hay những quyển tùy bút, tiểu luận v.. v.. khi họ tố cáo những tệ đoan trong xã hội, khi họ miêu tả chánh giới với những đặc điểm như loạn luân, lãng mạn, những con buôn chánh trị, khi họ tố cáo những thối nát của chánh quyền, thì dù muốn dù không dù cho họ có phủ nhận rằng họ không bao giờ có ý định phán đoán giá trị xã hội mà họ phác họa hay phân tích, dù muốn dù không, hành vi của họ có tánh cách chánh trị, có hậu quả chánh trị, và đôi khi, nhận định của họ có ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sinh hoạt chánh trị.
Đó là trường hợp của những nhà BÁC HỌC: khi họ tố cáo thảm họa của thí nghiệm nguyên tử hay chiến tranh nguyên tử, lời tuyên bố hay hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách khách quan, trên cả ý thức hệ và đảng phái chánh trị. Vẫn biết rằng hành vi ấy chỉ nhằm mục tiêu cao cả, nhân đạo và sự tồn vong của nhân loại, nhưng họ không thể ngăn cản được sự kiện là lời tuyên bố của họ sẽ được khai thác trên phương diện chánh trị, lời tuyên bố của họ không thể có ảnh hưởng chánh trị và là một yếu tố quan trọng trong lãnh vực bang giao quốc tế.
Đây là một vài ví dụ tâm trạng thường thường của nhiều người tưởng mình đứng ngoài chánh trị. Lập trường phi chánh trị này dựa trên những hành vi mà người ta cho rằng tự nó không có tánh cách chánh trị, nhưng đó chỉ là ảo tưởng vì, dù tự do không có tánh cách chánh trị, nó vẫn là hành vi có hậu quả chánh trị. Mà tất cả những hành vi có hậu quả chánh trị là những hành vi chánh trị.
Thái độ phi chánh trị này, chúng ta lại tìm thấy được đề cao bởi những tổ chức, nhưng đây không phải là những ảo tưởng: nó trở thành một chiến thuật.
Vì chánh trị có tiếng không tốt cho nên các lãnh tụ nghiệp đoàn, hiệp hội hay tôn giáo ngại rằng có một thái độ chánh trị rõ rệt hoặc dùng những danh từ hơi chánh trị một chút có thể làm sứt mẻ tình đoàn kết của nhơn viên và làm cho họ hoảng sợ. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo khôn khéo luôn quả quyết rằng lập trường của mình hay quyết định của mình chỉ nhằm việc bảo vệ quyền lợi của đoàn thể ngoài mọi tranh chấp chánh trị. Họ cố tránh những danh từ chánh trị và chỉ nêu lên nào là quyền lợi nghiệp đoàn, nào là quốc gia dân tộc. Mặc dầu họ trực tiếp can thiệp vào chánh quyền và sự can thiệp có tánh cách chánh trị không thể chối cãi, họ cũng vẫn tuyên bố chỉ nhơn danh đoàn thể và đứng ngoài đảng phái và tranh chấp chánh trị.
Tuy nhiên, đó chỉ là thái độ phi chánh trị bề ngoài và ai cũng thừa hiểu rằng những tổ chức không mục tiêu chánh trị luôn luôn có những hành vi chánh trị. Sở dĩ nhà lãnh đạo bao trùm lên những hành vi chánh trị một bức màn có vẻ khách quan, trung lập, đó chỉ là một chiến thuật nhằm đạt được kết quả mong muốn mà thôi.
Thái độ phi chánh trị không những là một ảo tưởng hay ngụy trang mà còn là khuynh hướng đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc. Khuynh hướng này rất phổ thông nhứt là sau một cuộc khủng hoảng chánh trị. Người ta tố cáo chánh trị lấn áp sinh hoạt quốc gia và làm hỏng mọi việc. Người ta lý luận rằng con người trong xã hội chỉ lo sống, một cuộc sống hằng ngày, an thân với những lo âu sung sướng cá nhơn hay gia đình của họ. Đó là vấn đề chính của đa số công dân. Còn những ai theo dõi các vấn đề quốc gia, có ý thức chánh trị, cũng như có ý muốn tham gia vào cuộc sinh hoạt chánh trị rất là hiếm có. Và như vậy rất tốt vì, theo lý luận này, quốc gia nào trong ấy công dân tham gia, thảo luận quá nhiều về chánh trị, quốc gia ấy đến ngày tàn.
Theo khuynh hướng vừa nêu, chánh trị là cái gì cao siêu, phức tạp, khó khăn mà chỉ có một nhóm người am hiểu và đủ thẩm quyền giải quyết. Những kẻ chủ trương thái độ thụ động của công dân là con người dân chủ, hay đúng hơn họ chấp nhận nguyên tắc dân chủ, nhưng họ quan niệm rằng, giữa hai cuộc bầu cử, công dân nên trở về công việc riêng tư, hằng ngày của họ. Tóm lại, thái độ xem sự thụ động của công dân là triệu chứng tốt đẹp của cuộc sinh hoạt chánh trị dựa trên hai ý tưởng chánh:
- QUẦN CHÚNG VÔ THẨM QUYỀN để quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia và, nếu có sự am hiểu đi nữa họ chắc chắn sẽ quyết định theo quyền lợi riêng tư của họ.
- QUYỀN LỰC VÔ CHÁNH TRỊ , tức là một quyền lực tối thượng để giải quyết những vấn đề trọng đại, trên những tranh chấp nhỏ nhen về quyền lợi trong sinh hoạt chánh trị bình thường.
Cần phải khẳng định ngay rằng luận cứ vừa nêu không đứng vững. Quần chúng vô thẩm quyền? Đó là sự xác định vô căn cứ. Thường thường chánh quyền hay bao trùm một màn bí mật trên các vấn đề quốc sự, để rồi núp sau tha hồ định đoạt. Thật ra không có một vấn đề chánh trị nào mà không thể giải thích rõ ràng, và sự kiện quần chúng vô thẩm quyền chỉ là sự bịa đặt hầu gạt sự tham gia của công dân ra ngoài cuộc sinh hoạt chánh trị.
Một quyền lực vô chánh trị, siêu chánh trị để giải quyết những vấn đề trọng đại? Luận cứ chỉ phản ảnh của một ảo tưởng. Cho rằng có thể lấy một quyết định chánh trị và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn, hay quan điểm không chánh trị chỉ ảo tưởng. Khi phải quyết định về phương diện chánh trị, tác giả của nó lấy một quyết định chánh trị và đương nhiên là một nhơn vật chánh trị.
Vẫn biết rằng khi mà công dân có một thái độ tách rời chánh trị, không chú ý nhiều đến cuộc sinh hoạt chánh trị, có thể đó là triệu chứng của một cuộc sinh hoạt ổn định. Khi mà guồng máy chánh trị, hành chánh của quốc gia chạy đều và trong nước có thanh bình, thịnh vượng thì lẽ tất nhiên các vấn đề chánh trị kém phần sôi nổi. Vẫn biết rằng nhà cầm quyền cần có một chút tự do, một phần tự trị nào đối với dư luận. Chánh quyền không thể thi hành sứ mạng của mình một cách hữu hiệu nếu dư luận cứ thọc gậy bánh xe, gán cho danh từ “con rùa” khi mới cầm quyền chưa đầy một tháng. Nếu sự tham gia của công dân đưa đến hậu quả như vậy thì sự tham gia nguy hiểm hơn sự bất tham gia. Những chỉ trích việc tham gia chánh trị của công dân làm cho chúng ta phải để ý đến mực tự trị tương đối của chánh quyền. Nhưng không vì lẽ đó mà lại đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.
Thái độ phi chánh trị là nguyên nhơn của sự suy đồi chánh trị. Rất nhiều chế độ đã bị lật đổ vì đã trốn chánh trị, đã từ khước sự tham gia của công dân. Thay vì giữa chánh quyền và nhơn dân nên có một luồng điện thông cảm và cùng giải quyết các vấn đề, người ta chỉ thấy trong chế độ nầy những diễn văn rườm rà, những danh từ trống rỗng, một tinh thần vô trách nhiệm.
Sinh hoạt chánh trị tại Việt Nam đã dứt khoát hay chưa với thái độ phi chánh trị nầy.
Nguyễn Văn Bông