Vô vi cư điện các
Ngô Nhân Dụng
Một độc giả điện thoại khuyên nên giải thích khi viết câu “Vô vi cư điện các” trong mục này tuần trước, để các bạn trẻ hiểu được. Người viết có lỗi, vì đã trích những chữ Hán Việt mà không nói rõ ý nghĩa. Nhân lời yêu cầu của ông Trần Ngọc Bình ở tiểu bang South Carolina, nước Mỹ, chúng tôi xin giải thích câu trên.
Câu thơ trên nằm trong bài thơ 5 chữ của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (916 – 991) viết cho vua Lê Đại Hành. Lê Hoàn lên ngôi vua năm 980, năm sau đã đánh đuổi quân nhà Tống xâm lăng, sau lại giao hảo với họ, Pháp Thuận được nhà vua nhờ đón tiếp xứ giả Trung Hoa. Bài thơ 4 câu của Đỗ Pháp Thuận được mô tả như câu trả lời cho Lê Đại Hành khi được nhà vua hỏi về vận nước. Hai câu chót là “Vô vi cư điện các – Xứ xứ tức đao binh.” Nghĩa là: Vô vi ngồi trong cung điện – Khắp nơi dứt việc đao binh.”
Có thể coi đây là lời nhà sư tặng ông vua dùng làm châm ngôn trị quốc, khuyên ông nên theo chủ trương“vô vi,” hoặc nên giữ thái độ “vô vi.” Nhưng vô vi nghĩa là gì?
Vì ngài Pháp Thuận là một tăng sĩ, cho nên Hòa thượng Thiện Siêu từng giải thích hai chữ “vô vi” theo lối Phật giáo: “Vô vi” gốc từ chữ Phạn “asamskrita,” có nghĩa là không nên làm gì để tạo thêm nghiệp xấu. Nhưng các vị cao tăng thời nước ta thành lập cũng là những người tinh thông tam giáo, Nho, Phật, Lão, cho nên cũng có người giải thích hai chữ “vô vi” theo quan niệm chính trị của Hàn Phi Tử, một triết gia người Trung Hoa, khoảng năm 280 đến 233 trước Tây Lịch. Hàn Phi chịu ảnh hưởng đạo “vô vi” của Lão Tử và diễn tả tư tưởng đó trong thuật trị quốc của phái Pháp gia, đặt một nền tảng triết lý chính trị ở Trung Quốc. Ngược lại với đạo của Lão Tử, các Nho gia theo Khổng Tử chủ trương “nhân trị,” dùng đức độ, phán đoán, hành động của vua quan làm cơ sở cho việc cai trị. Các triều đại ở Trung Quốc sau này tuy trên danh nghĩa theo Nho gia, bài xích Pháp gia, nhưng trong thực tế họ vẫn sử dụng những kỹ thuật cai trị mà nhóm Pháp gia đề ra. Nhưng họ chỉ chọn lấy hai điểm của Pháp gia để thi hành, là suy tôn ngôi vị thiên tử và cai trị bằng luật lệ, mà luật lệ thì thường khắc nghiệt. Kết quả là họ “bóp méo” cả Pháp gia lẫn Nho gia. Khi tư tưởng Hàn Phi truyền sang nước ta, đến thế kỷ thứ 9, thì những nhược điểm đó chưa lộ ra, cho nên chúng ta không thấy lạ khi một thiền sư như ngài Pháp Thuận vẫn khuyên vua nên áp dụng chủ trương “vô vi.”
Hàn Phi quan niệm rằng một ông vua không cần “làm” nhiều, tức là không cần mỗi việc lại can thiệp; ông vua chỉ cần ấn định luật pháp rõ ràng để dân chúng và quan lại theo đó mà thi hành. Hàn Phi có thực sự theo đúng tư tưởng Lão Tử hay không, đây là điều mà các học giả sẽ còn bàn cãi. Nhưng những thuật trị quốc mà ông đề nghị với vua nước Tần có lẽ là là những “Bá thuật” được viết ra sớm nhất thế giới, mà sau này Machiavelli ở thành Florence, thế kỷ 16 cũng bàn đến. Khi đọc ta sẽ thấy Hàn Phi đã đi sớm hơn 2000 năm, trước khi Max Weber ở Đức bàn về vai trò của “guồng máy hành chánh – burokratie” vào thế kỷ 19 (Sách Hàn Phi Tử đã được Nguyễn Hiến Lê dịch sang tiếng Việt).
Chúng ta không nên vì chế độ tàn ác của Tần Thủy Hoàng mà bác bỏ tất cả những tư tưởng chính trị của Hàn Phi Tử. Nếu theo đúng tinh thần“vô vi” của Hàn Phi Tử thì những người cầm đầu chính trị một nước không nên can thiệp quá đáng vào thị trường kinh tế cũng như sự phát triển tự do của xã hội công dân (civil society)! Vai trò của nhà nước không phải là trồng lúa thay dân, đánh cá thay dân, hoặc lấy tiền của từ nhóm dân này để chi dùng, đem tài nguyên phân phát cho nhóm dân khác, vân vân. Làm như vậy là “hữu vi!” Trong kinh tế thị trường, nhà nước càng vô vi càng tốt, chỉ nên hữu vi khi cần thực hiện những lợi ích chung ngoài phạm vi kinh tế, như thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sống, vân vân. Tốt nhất là để quốc dân ấn định các luật lệ kinh tế, luật lệ dân sự; và nhà nước chỉ theo các luật lệ đó mà thi hành. Quốc dân ấn định cơ cấu xã hội, qua các đại biểu được bầu lên trong những cuộc bầu cử tự do. Chính sách quốc gia sẽ thay đổi tùy theo nhu cầu của dân chúng, trong từng giai đoạn một. Đó là vô vi.
Trong mục này tuần trước đã bàn về chính trị nước Mỹ, ngay từ đầu đã có khuynh hướng “chính phủ tốt nhất là chính phủ nhỏ nhất” của Thomas Jefferson, vị tổng thống thứ ba của nước Mỹ. Khuynh hướng này bây giờ vẫn được đảng Cộng Hòa đề cao, mặc dù không phải lúc nào họ cũng làm đúng theo tiêu chuẩn đó. Tuần trước, viết tới quan niệm của Jefferson, chúng tôi đã nhắc tới chủ trương “vô vi” mà Thiền sư Pháp Thuận đã trao làm cẩm nang cho vua Lê Đại Hành. Như chúng ta học sử Việt Nam đã biết, có lẽ vì hoàn cảnh đất nước lúc đó, trong gần 30 năm trị vì nhà vua cũng không hoàn toàn theo đúng lời khuyên của vị pháp sư, đến đời các con ông thì triều đại cũng chấm dứt.
Từ đó, thuật trị quốc ở nước ta trong 1000 năm độc lập cũng theo mô thức các triều đại Trung Quốc. Từ đời Hán (2 thế kỷ trước Tây lịch) đến khi chấm dứt nhà Thanh năm 1911, các ông vua Trung Hoa bên ngoài đề cao Nho giáo nhưng trong thực tế vận dụng guồng máy cai trị kiểu Pháp gia để củng cố quân quyền. Phải nói là chính quyền Trung Quốc trong 22 thế kỷ rất hữu vi! Có lẽ vì nước ta nhỏ hơn, vua quan gần gũi với dân hơn, cho nên trong thực tế nền chính trị Việt Nam vẫn có tính giản dị và “vô vi” hơn nước láng giềng phía Bắc – ít nhất cho đến khi triều Nguyễn chịu ảnh hưởng quá nặng của chế độ nhà Thanh bên Trung Quốc.
Ở nước Mỹ, trong đời sống chính trị, hai chủ trương của Jefferson và Hamilton luôn luôn được đưa ra đối đầu với nhau trong 200 năm nay. Khi kinh tế khủng hoảng vào thập niên 1930, để tái lập niềm tin và bảo vệ những người yếu kém, Tổng thống Franklin Roosevelt (Dân Chủ) đã để cho chính phủ can thiệp ào ạt vào thị trường. Trong thời của ông, nhiều chương trình chi tiêu mới được thiết lập, bây giờ vẫn còn áp dụng. Nhiều cơ quan công quyền mới được lập ra, tới nay vẫn hoạt động. Hai vị tổng thống Ronald Reagan và George W. Bush (Cộng Hòa) đều theo chủ trương phải để cho hoạt động kinh tế được tự do hơn, chính phủ phải tự hạn chế, bớt can thiệp vào những lựa chọn của người dân. Họ đã cố gắng nhưng cuối cùng ngân sách vẫn tăng đến mức khiếm hụt nặng, và guồng máy chính phủ trong thời hai ông tổng thống này vẫn to lớn thêm! Câu chuyện bàn tuần trước là về đạo luật mà Tổng thống Bush mới ký giữa tuần này, theo đó chính phủ can thiệp thẳng vào hệ thống tài chánh để cứu các công ty Fannie Mae và Freddie Mac, cùng với thị trường tài trợ địa ốc!
Đảng Cộng Hòa vẫn theo chủ trương “chính phủ càng nhỏ, càng thu thuế nhẹ và chi ít tiền, làm ít việc, thì càng tốt.” Nhưng khi điều kiện kinh tế bắt buộc, các ông tổng thống không thể bảo vệ tư tưởng chính trị của mình mà để cho kinh tế suy yếu. Chủ trương kinh tế tự do luôn luôn đòi hỏi mọi người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Khi mọi người quyết định trong vòng luật pháp, khi hệ thống pháp luật giữ đúng các tiêu chuẩn kinh tế là lợi nhuận cao hay thấp tương xứng với mức may rủi nhiều hay ít, thì kinh tế thị trường sẽ chạy rất tốt. Tức là chính phủ có thể chỉ đóng vai trò trọng tài thi hành pháp luật, “vô vi cư điện các” để cho các cá nhân và xí nghiệp lo chuyện làm ăn của họ. Khi mọi người đều tìm lợi suất cao nhất và tránh rủi ro, thì kinh tế sẽ phát đạt!
Cuộc khủng hoảng về tín dụng địa ốc đang diễn ra cho thấy trong khuôn khổ kinh tế tự do ở Mỹ nhiều người đã quyết định một cách thiếu trách nhiệm: Ngân hàng khuyến khích người ta vay tiền mà không chú ý tới tiêu chuẩn thẩm định độ tín nhiệm của người đi vay; còn những người đi vay mua nhà thì không tự xét đoán khả năng trả nợ của mình trong tương lai. Cả hai bên đã quyết định mà không tính đúng hậu quả, bây giờ cả nước chịu hoạn nạn vì thị trường tín dụng kẹt với những món nợ không đòi được.
Tại sao nhiều người đã quyết định sai lầm, trong một thời gian mấy năm trời như vậy? Chúng ta không thể đổ lỗi cho các cá nhân mà phải tìm những lỗ hổng trong cả hệ thống. Vì trong xã hội tự do mọi người đều có quyền hành động theo suy nghĩ, tính toán tìm lợi lộc mình, miễn là họ không vi phạm pháp luật. Trong một xã hội dân chủ tự do, mọi người đều có quyền kiếm lời tốt đa, trong vòng pháp luật. Kinh tế tiến bộ chính là vì phần lớn mọi người đều theo khuynh hướng tự nhiên đó. Nếu họ đã tính toán sai, nếu họõ “làm ẩu” đến nỗi cả nền kinh tế lâm nguy, thì đó là lỗi lầm của cả hệ thống! Trong hệ thống có những khe hở, để cho nhiều người quyết định thiếu trách nhiệm như vậy. Đáng lẽ ra, hệ thống luật lệ về kinh tế phải giúp người ta ngăn ngừa những quyết định sai lầm gây tai hại cho cả xã hội như thế. Khi “giúp” như vậy, tức là soạn những luật lệ, quy tắc làm ăn để ngăn chặn trước những sai lầm, tức là hữu vi. Nhưng nhờ các quy tắc đó, sẽ tránh được các tai họa khiến chính phủ phải can thiệp trực tiếp, tức là còn hữu vi gấp bội! Nếu luật lệ đẩy đủ hơn thì nhà nước sẽ có thể vô vi nhiều hơn!
Kinh tế bị đe dọa là lúc chính trị phải can thiệp vào kinh tế. Nhưng can thiệp như thế nào? Việc chính phủ lấy tiền công quỹ ra để cứu một số ngân hàng đã cho vay lầm lẫn, hoặc cứu những gia chủ đi vay lầm lẫn, là theo phương pháp “hữu vi!” Đạo luật gia cư mà ông Tổng thống Bush mới ký, là sản phẩm của sự thỏa hiệp giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa; có phần hữu vi nhưng cũng có phần chuẩn bị cho chính sách vô vi. Đạo luật này thay đổi luật lệ về tín dụng địa ốc, thay đổi vai trò của một số cơ quan chính phủ, lập ra cả một cơ chế mới thay thế cơ quan cũ vẫn giám sát hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac, vân vân. Có các luật lệ đầy đủ hơn, có các cơ quan giám sát tốt hơn, thì nhà nước mới vô vi được! Còn việc trực tiếp đem tiền công quỹ đi giúp các chủ nhà vỡ nợ, hoặc giúp các ngân hàng cho họ vay, đều là hữu vi quá đáng cả!
Khi nào các biện pháp “hữu vi” làm sai quy tắc kinh tế tự do, thì bổn phận của giới chuyên môn về kinh tế cùng với các đại biểu quốc hội, là ngăn cản các ông nhà nước, lôi các ông đó trở lại với tinh thần “vô vi.” Một quy tắc lớn trong kinh tế, là tinh thần trách nhiệm. Trong kinh tế thị trường, những người quyết định sai lầm phải chịu hậu quả, nếu không thì người ta sẽ đua nhau làm ẩu! Khi cổ đông của các ngân hàng và Fannie Mae với Freddie Mac bầu lên những người giám đốc, trả lương cao rồi để cho họ quyết định sai lầm, thì chính các cổ đông đó phải chịu mất tiền. Họ phải chịu thiệt, coi như đã bị “thị trường” trừng phạt, trước khi nhà nước bỏ tiền ra bảo vệ các định chế tài chánh đó ngõ hầu kinh tế không hỗn loạn! Những luật lệ, định chế sắp được đặt ra để ngăn ngừa người ta sa ngã, làm ẩu, vừa phải bảo vệ quyền tự do kinh tế, đồng thời phải khích lệ tinh thần trách nhiệm. Có như thế thì nước Mỹ mới bảo vệ được hai ưu điểm của họ, là kinh tế tự do phồn thịnh và xã hội dân chủ.
Tự do dân chủ là giá trị cao quý hơn cả kinh tế tự do, vì đó là nền tảng bảo đảm cho kinh tế phồn thịnh. Vì vậy, ngay trong những lúc chính phủ Mỹ can thiệp mạnh nhất vào thị trường, vào hoạt động của các ngân hàng và xí nghiệp, không bao giờ họ dám xâm phạm đến những quyền tự do của xã hội công dân. Chính trong khuôn khổ các quyền tự do dân chủ đó mà một chính quyền có thể “vô vi cư điện các” trong khi dân chúng vẫn sống chung yên ổn, tương kính, mỗi người làm mọi cách làm giầu, nhờ thế nên “dân giầu nước mạnh.”