|
Nhận diện sự thật lịch sử
Tú Gàn
Thông cáo báo chí ngày 19.12.2005 của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã mô tả lại Đại lễ kỷ niệm 30 năm Giáo Hội Ấn Quang “vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ” tại chùa Diệu Pháp ở Los Angeles hôm 18.12.2005 gồm những điểm chính như sau:
“80 chư Tăng Ni đã vân tập về trụ sở Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngọai tại Hoa Kỳ - Văn phòng II Viện Hóa Đạo cùng với 2000 đồng bào các giới và đồng bào Phật tử tham dự “Đại lễ kỷ niệm 30 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” tại chùa Diệu Pháp, thị trấn San Gabriel, miền Nam bang California, vào lúc 11 giờ sáng ngày chủ nhật 18.12.2005...
“Khoác những chiếc y vàng tươi hay nâu dà, 22 Hòa thượng, Thượng tọa Việt Nam đại diện Giáo hội tại Hoa Kỳ và Canada, cùng chư Tăng Thái Lan, Tích Lan, Hoa Kỳ trang nghiêm bước lên lễ đài dâng vòng hoa tưởng niệm và cắm 22 ngọn đuốc dưới 22 linh vị ghi tên tuổi 22 chư Tăng Ni, Phật tử vị pháp vong thân trong thời gian 30 năm qua để cho đạo pháp và dân tộc trường tồn...”
Trong buổi lễ, có diễn văn khai mạc của Hòa Thượng Thích Hộ Giác, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, kiêm Chủ tịch Hội đồng Điều hành; có đạo từ của Hòa Thượng Huyền Quang, Viện Trưởng Viện Tăng Thống; huấn từ của Hòa Thượng Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo; lời chào mừng của Tổng Thống George W. Bush; thông điệp chào mừng Đại lễ của bà Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ Dianne Feinstein, Dân biểu Christopher Smith, bà Dân biểu Loretta Sanchez, Dân biểu Quốc hội Châu Âu Ryszard Czarnecki, v.v. MỘT SỐ SỰ KIỆN TRANH LUẬN Trong bài diển văn khai mạc, Hòa Thượng Thích Hộ Giác đã “cảnh giác Phật giáo đồ các luận điệu sai lầm về thực tại Việt Nam, về công cuộc vận động quốc tế, mà các thế lực đen tối tung ra nhằm phá họai nỗ lực vận động của Giáo hội cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ.” Hòa Thượng nói:
"... Ba mươi năm qua là một thời kỳ mà dân tộc và đạo pháp đi vào tình trạng cực kỳ phức tạp. Tuy chiến tranh chấm dứt, nhưng không thể gọi là hòa bình. Cả nước cùnag chế độ, nhưng khó nói là thống nhất. Đổi mới thật nhiều, nhưng lúc nào cũng lạc hậu. Cộng cuộc vận động cho nhân quyền, dân chủ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong suốt giai đọan đó là một thể hiện cực kỳ quan trọng của dân tộc không thể không nhận định nghiêm túc bởi bất kỳ ai quan tâm đến sự thịnh suy của đất nước. Giáo hội đã lên tiếng thật sớm, ngay từ những ngày đầu sau 30.4.1975 về những đàn áp bất công đối với tôn giáo và dân chúng. Đó là thời điểm mà khí thế và uy quyền tuyệt đối của kẻ thắng trận phủ ngợp lấy Việt Nam. Những Tăng Ni của Giáo hội đã thắp lên Ngọn Đuốc sáng cho nhân quyền trước bạo lực, khi mọi tiếng nói của lẽ phải bị bóp chết. Hàng giáo phẩm sẵn sàng vào tù ra khám và bức tử vì thái độ độc lập với chánh quyền. Giáo hội đã tiếp tục hiện hữu trong sự giam cầm cùng tình trạng của dân tộc tồn tại trong xích xiềng kềm kẹp. Cho đến hôm nay, trong thông điệp của Giáo hội gửi cho tòan thể cộng đồng nhân lọai, là nhân quyền không thể thật sự có được, nếu thiếu dân chủ. Ý nghĩa đó là nhất quán không gì thay đổi từ ngay buổi ban đầu cho đến hôm nay...
"Tổ chức lễ kỷ niệm này, chúng ta hãy trang trọng trao cho thế hệ mai hậu những trang sử bi hùng của những người Phật tử, những người con Việt, không vì bạo tàn mà khuất phục, không vì yên ấm bản thân mà quên đi nỗi khổ của giống nòi. Không vì thời gian mà xóa đi những hình ảnh hy sinh âm thầm của những con người sống và chết vì lẽ phải. Những bài học lịch sử cho thấy rằng, sinh lộ của dân tộc không nằm ở chủ nghĩa cơ hội, mà ở ý thức minh mẫn của con dân đất nước trước những đảo điên của thời thế.
"Bằng tất cả tấm lòng thâm tạ, xin thắp lên nén tâm hương tưởng nhớ những anh linh nằm xuống vì Đạo và Đời. Xin đại diện cho Hội đồng Lưỡng viện chân thành biết ơn sự hiện diện đầy ý nghĩa của chư liệt vị hôm nay".
Diễn văn khai mạc này và những đạo từ, huấn từ hay những lời chào mừng trong đại lễ đã đặt ra nhiều vấn đề về sự thật lịch sử cần được làm sáng tỏ. Hôm nay, trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nêu lên một vấn đề lịch sử, đó là vai trò chống Cộng hàng đầu của Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang sau 30.4.1975. Hòa Thượng Hộ Giác đã nói: “Giáo hội (Ấn Quang) đã lên tiếng thật sớm, ngay từ những ngày đầu sau 30.4.1975 về những đàn áp bất công đối với tôn giáo và dân chúng.” Sự thật như thế nào? Vì Hoa Thượng xác định "Tổ chức lễ kỷ niệm này, chúng ta hãy trang trọng trao cho thế hệ mai hậu những trang sử bi hùng của những người Phật tử...” nên chúng tôi thấy không thể không bàn đến, mặc dầu đây là một vấn đề được coi là tế nhị. MỪNG “GIẢI PHÓNG” VÀ SINH NHẬT “BÁC HỒ”! Không ai có thể chối cãi được trước 30.4.1975, sau khi bị chính phủ Hoa Kỳ bật đèn xanh cho Tướng Nguyễn Cao Kỳ đánh bại cuộc nổi dậy cướp chính quyền miền Nam của Giáo Hội Ấn Quang một cách thê thảm, Giáo Hội Ấn Quang đã đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Hà Nội chống lại VNCH. Trong khi Hòa Thượng Đôn Hậu ra Hà Nội làm công cụ tuyên truyền cho Cộng Sản, hai Thượng Tọa Trí Quang và Thiện Minh mở các cuộc đánh phá tại quốc nội, Thiền sư Nhất Hạnh đi đánh phá ở ngoại quốc, Giáo Hội Ấn Quang nhất quyết “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào”.
Ngày 30.4.1975, trong khi mọi người lo tìm đường tẩu thoát, Thượng Tọa Thích Minh Châu đã cùng Ban Giảng Huấn và sinh viên Đại Học Vạn Hạnh ra Ngã Tư Bảy Hiền đón “quân giải phóng” . Sau đó, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang tổ chức mừng chiến thắng và sinh nhật Hồ Chí Minh.
Trong cuốn “Bảo qua cổng chùa” , Hòa Thượng Thích Mãn Giác cho biết sau khi Việt Cộng mới chiếm được miền Nam Việt Nam, mặc dầu không có lời yêu cầu của nhà cầm quyền cộng sản, Hội Đồng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã họp và quyết định tham gia tổ chức “mừng giải phóng” với nhà cầm quyền, đồng thời tổ chức mừng sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang. Hòa Thượng viết:
“ Lần đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam , Giáo Hội đã tổ chức một buỗi lễ hết sức long trọng để mừng sinh nhật của một cá nhân. Ngay trong thời kỳ phong kiến quân chủ, Giáo Hội cũng không làm như vậy. Mỗi chùa riêng tư có lễ chúc tụng Vua, nhưng không phải làm tập thể Giáo Hội. Tại sao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã làm như vậy? Vì kính ngưỡng Hồ Chủ Tịch? Vì muốn chứng tỏ thiện chí hợp tác?
“Giáo Hội đã thành lập một Ủy Ban Tổ Chức lấy tên là Ủy Ban Tổ Chức Đón Mừng Hòa Bình và Kỹ Niệm ngày 19 tháng 5 , chúng tôi được cử làm Trưởng Ban.”
Không trả lời những câu hỏi do chính ông đặt ra, Hòa Thượng Mãn Giác đã cho đăng lại bản Thông Cáo số 66-VHD/VP/TC ngày 8.5.1975 của Viện Hóa Đạo Ấn Quang về tổ chức đón mừng hòa bình và kỷ niệm ngày 19 tháng 5, như một hình thức trả lời gián tiếp. Mở đầu Thông Cáo này, có câu như sau:
“Sau bao năm tranh đấu, nguyện vọng của Giáo Hội và toàn dân là Hòa Bình, Độc Lập và Thống Nhất đất nước. Cơ duyên ấy nay đã đến. ”
Trong cuốn Bạch Thư công bố ngày 31.12.1993, Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã viết:
- “Ngày 30.4.1974 là ngày cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Những bộ mặt thân Cộng Sản đã lộ rõ nguyên hình , không ai mà không rõ.
- Khi quân Cộng Sản từ rừng về Saigon, đã có gần 500 Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào.
- Ngày 19.5.1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.
- Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam Bắc của Cộng Sản, một Thượng Tọa của phe Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh Cộng Sản, kể công của Ấn Quang và đã kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu”.
Cũng trong cuốn “Bảo Qua Cổng Chùa” , Hòa Thượng Mãn Giác viết tiếp:
“Tin tưởng vào những hứa hẹn về hòa hợp hòa giải dân tộc của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời, sau ngày giải phóng, Phật Tử Việt Nam đã tận tình hợp tác với Chính Phủ Cách Mạng. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được mời tham dự buổi lễ Mừng Chiến Thắng do chính phủ tổ chức ngày 15 tháng 5, 1975, nhưng Giáo Hội, với thiện chí sẵn có vẫn hợp tác trong nhiệm vụ đoàn kết dân tộc và tái thiết xứ sở, đã động viên trên 900 Tăng Ni trong thành phố Hồ Chí Minh để tham dự cuộc meeting trên.
Ban tổ chức không chịu nhường chỗ đứng cho phái đoàn Phật Giáo tại khán đài, nhưng Giáo Hội vẫn kiên chí tham gia trong buổi lễ. Ngày 19 tháng 5, 1975 hơn 20.000 Phật tử đã tề tựu tại chùa Ấn Quang để làm lễ sinh nhật Hồ Chủ Tịch.
Đây là một số lượng đáng kể vì ngoài chính phủ ra, không có đoàn thể nhân dân nào có thể huy động số người tham dự buổi lễ đông đảo như vậy.”
Trong khi các tổ chức thuộc các giáo hội Thiên Chúa Giáo, Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo tìm cách đương đầu với Cộng Sản và bị đàn áp dã man, khoảng 900 tăng sĩ thuộc Giáo Hội Ấn Quang đã tham dự meeting “mừng giải phóng” ngày 15.5.1975. Hòa Thượng Mãn Giác đã đọc một bài diễn văn rất thống thiết, trong đó có đoạn sau đây:
“Trong những năm dài sống dưới ách nô lệ thực dân mớ , Phật Giáo chỉ nuôi một ước vọng sâu kín: độc lập và thống nhất. Vì nguyện vọng cũng là ý chí thống nhất ấy, mà biết bao nhiêu thế hệ Phật tử đã lao mình vào đấu tranh chống lại kẻ thù gây chia rẽ. Hết thực dân Pháp chia rẽ Bắc Kỳ, đến đế quốc Mỹ chia rẽ Nam Bắc....
“Ngày nay, ước vọng đó đã hiện thực. Hiện thực ấy ngày càng rõ nét trong đời sống dân tộc, làm vang vọng lời xác quyết của Hồ Chủ Tịch “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”... Bác Hồ kính yêu đã thay lời tổ tiên nói lên...”
“Cuộc đấu tranh của Phật Giáo cho nền thống nhất tổ quốc cùng là một với cuộc đấu tranh vì CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ... "
Chúng tôi còn giữ được một số hình ảnh các tăng ni thuộc Giáo Hội Ấn Quang hàng hàng lớp lớp cầm cờ đỏ sao vàng đi dự “lễ Mừng Chiến Thắng” 1975 và mừng sinh nhật Hồ Chí Minh năm 1976 trên đường Công Lý trước dinh Độc Lập!
Phải chăng đây là “Giáo hội (Ấn Quang) đã lên tiếng thật sớm, ngay từ những ngày đầu sau 30.4.1975 về những đàn áp bất công đối với tôn giáo và dân chúng”? MỘNG LÀM BÁ CHỦ PHẬT GIÁO Khi nhà cầm quyền Hà Nội quyết định dẹp bỏ chiêu bài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và thống nhất hai miền Nam Bắc thì Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang cũng muốn thu cả Phật Giáo Nam Bắc về một mối và đặt dưới sự lãnh đạo của họ.
Trong khi các tông phái Phật Giáo khác như Giáo Hội Việt Nam Quốc Tự, Tổng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo Hội Théravada, Hội Phật Học Nam Việt v.v... án binh bất động để xem xét tình thế thì Giáo Hội Ấn Quang bắt đầu thực hiện ý đồ của mình một cách vội vàng và tự tin. Trong “Đơn xin cứu xét nhiều việc” đề ngày 25.6.1992 của Hòa Thượng Huyền Quang cho biết:
“Sau ngày thống nhất đất nước, Giáo Hội chúng tôi gởi thơ ra Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam tại Hà Nội, kêu gọi thống nhất Phật Giáo Nam Bắc, nhưng Hội Phật Giáo Hà Nội không đáp ứng. Sau đó Giáo Hội chúng tôi cử Hòa Thượng Thích Đôn Hậu từ miền Bắc về đại diện cho Giáo Hội chúng tôi, đến xin gặp ông Nguyễn Văn Hiếu. Lúc bấy giờ ông Hiếu đang giữ chức Bộ Trưởng Văn Hóa. Hòa Thượng chúng tôi xin phép cho Giáo Hội chúng tôi vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam, sau đó tiến đến thống nhất Phật Giáo hai miền. Nhưng bị ông Bộ Trưởng Văn Hóa từ chối với lý do: Thống nhất Phật Giáo thì tốt, nhưng thống nhất với Phật Giáo cách mạng, chứ thống nhất làm gì với Phật Giáo phản động! Hòa Thượng chúng tôi hỏi: Phật Giáo phản động là ai? Ông Bộ Trưởng Hiếu không trả lời (Ông Hiếu ám chỉ Giáo Hội chúng tôi là phản động)”.
Khi đi làm công việc nói trên, Giáo Hội Ấn Quang đã phạm những sai lầm sau đây:
Sai lầm thứ nhất: Các tăng sĩ lãnh đạo Giáo Hội Ấn Quang đã đánh giá quá cao sức mạnh của mình. Họ lầm tưởng rằng họ là một lực lượng đại diện cho “80% dân chúng già trẻ lớn bé”, (có khi lên đến 120%!) nên thế nào cũng được nhà cầm quyền Cộng Sản kiêng nể. Nhưng thực tế không phải như vậy. Chỉ qua trận đấu với chính phủ Nguyễn Cao Kỳ năm 1966, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chưa bị vỡ làm hai, người ta cũng thấy sức mạnh của Phật Giáo không phải là “sức mạnh vạn năng” như nhiều tăng ni và Phật tử đã tưởng. Vụ đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963 là do cơ quan tình báo Hoa Kỳ dùng Phật Giáo làm công cụ để thực hiện chứ không phải do chính Phật Giáo tạo được.
Sai lầm thứ hai: Các tăng sĩ lãnh đạo Giáo Hội Ấn Quang không hiểu biết nhiều về chính sách của Cộng Sản đối với tôn giáo. Không một chế độ cộng sản nào trên thế giới muốn để cho tôn giáo phát triển. Cộng Sản và tôn giáo là hai thái cực bất khả dung hợp. Chủ trương của Karl Marx là chủ trương xóa bỏ tôn giáo. Nơi nào không xóa bỏ được, Cộng Sản biến thành công cụ của chính quyền hoặc khống chế.
Sai lầm thứ ba: Các tăng sĩ lãnh đạo Giáo Hội Ấn Quang đã để lộ cho nhà cầm quyền Cộng Sản thấy rõ ý đồ và tham vọng của họ. Đây là một sai lầm rất tai hại. Xuân Thủy, Bí Thư Trung Ương Đảng CSVN, đã nhận ra được ý đồ đó khi nhận được kiến nghị xin “thống nhất” Phật Giáo của Hòa Thượng Đôn Hậu và Hòa Thượng Huyền Quang. Ông đã lưu ý ông Đỗ Trung Hiếu khi giao cho ông này nhiệm vụ đi “thống nhất Phật giáo” như sau:
“Nếu thống nhất theo kiến nghị của cụ Đôn Hậu, có nghĩa là giải thể Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước, sát nhập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (ở Miền Bắc) vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và chịu sự lãnh đạo của họ. Như thế Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phát triển ra toàn lãnh thổ Việt Nam chứ không chỉ ở miền Nam như trước năm 1975.
"Quan trọng là Đảng không bao giờ lãnh đạo được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà ngược lại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Đảng và chính phủ Việt Nam. ”
Không phải chỉ Việt Cộng, bất cứ chính quyền nào cũng không muốn duy trì một giáo hội có thành tích gây rối, đòi hỏi hết quyền lợi này đến quyền lợi khác như Giáo Hội Ấn Quang. Thủ Tướng Trần Văn Hương thành lập thêm Tổng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam để chia quyền, còn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã yểm trợ Giáo Hội Việt Nam Quốc Tự và đặt Giáo Hội Ấn Quang ra ngoài vòng pháp luật. Chúng tôi tin rằng một chính phủ hậu Cộng Sản rồi cũng phải làm như thế chứ không thể làm khác. HÀNH ĐỘNG ĐỐI KHÁNG NÔNG NỖI: Sau khi thương lượng với nhà cầm quyền để thống lãnh Phật Giáo Việt Nam bị thất bại và còn bị ám chỉ là “Phật Giáo phản động” , các tăng sĩ lãnh đạo Giáo Hội Ấn Quang đã trở về tìm mọi cách để đối phó với nhà cầm quyền. Nhưng các tăng sĩ này không hiểu nhiều về chế độ cộng sản, cứ tưởng như đang sống dưới thời Đệ Nhất hay Đệ Nhị VNCH của miền Nam, nên đã có những hành động đối kháng nông nỗi, không theo một chiến lược và chiến thuật nào cả. Họ đã lầm tưởng rằng nếu hoạt động chống đối của họ có bị đàn áp như năm 1966 thì chỉ các Phật tử phải gánh chịu, còn các tăng sĩ sẽ vẫn bình an vô sự vì đã được chiếc áo thầy tu che chở. Với ý nghĩ như vậy, một số tăng sĩ trong Giáo Hội Ấn Quang đã thảm nhiên hoạt động như dưới thời VNCH.
Trước hết, Giáo Hội Ấn Quang quyết định triệu tập Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc kỳ VII tại chùa Ấn Quang trong ba ngày từ 21 đến 23.1.1977 với đầy đủ đại diện Phật Giáo các tỉnh miền Nam về tham dự. Trước quyết định này, nhà cầm quyền Cộng Sản chưa có biện pháp đối phó quyết liệt vì các lý do sau đây:- (1) Công an chưa nhận diện được đầy đủ và chính xác các thành phần có khả năng lãnh đạo các cuộc chống đối trong Giáo Hội Ấn Quang từ trung ương đến địa phương.
Tại miền Bắc, khi muốn bắt các thành phần ưu tú trong Giáo Hội Công Giáo, nhà cầm quyền đãcung cấp cho một số giáo xứ và giáo phận tiền và phương tiện để những nơi này tổ chức các nghi lễ tôn giáo to lớn và qua công việc tổ chức đó, công an nhận diện các thành phần ưu tú rồi sau đó bắt đi cải tạo hoặc cô lập. Trong vụ Thiên An Môn vào tháng 5 năm 1989, công an Trung Quốc cũng đã kéo dài vụ rối loạn, chờ cho các phần tử chống đối tưởng thời cơ đã đến, xuất đầu lộ diện, sau đó mới dẹp tan cuộc nổi loạn và bắt đi thủ tiêu những thành phần bị coi là nguy hiểm cho chế độ.
Việc Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang tổ chức Đại Hội là một cơ hội tốt cho công an theo dõi và lập danh sách các thành phần “phản động” phải thanh toán sau này.
- (2) Công an chưa huấn luyện xong các tăng sĩ mật vụ có khả năng lãnh đạo Phật Giáo và gài vào mọi cơ cấu Phật Giáo từ trung ương đến địa phương. Khi chưa hoàn thành công tác này thì chưa thể tổ chức một Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh được.
Sau khi Đại Hội kỳ VII đạt được nhiều “thắng lợi vô cùng to lớn”, không thấy nhà cầm quyền phản ứng gì, các tăng sĩ trong Giáo Hội Ấn Quang lại thừa thắng xông lên.
Ngày 17.3.1977, Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang, đã gởi đến nhà cầm quyền Hà Nội một văn thư khiếu nại 84 vụ đàn áp Phật Giáo tại miền Nam như tịch thu các cơ sở giáo dục và xã hội của Phật Giáo, buộc các học tăng phải trở về nguyên quán làm ăn, lấy chùa làm nhà trẻ, đập phá tượng Phật, bắt bớ các tăng ni, v.v. Ngày 23.3.1977, Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo gởi thêm một văn thư thứ hai khiếu nại về việc công an bắt giam một số tăng ni ở các địa phương và việc chính quyền chiếm dụng chùa chiền, v.v. Hòa Thượng yêu cầu chính quyền mở cuộc điều tra và xét xử phân minh.
NHỮNG CÚ ĐÁNH PHỦ ĐẦU Trước những khiếu nại liên tục như trên, nhà cầm quyền CSVN quyết định đánh phủ đầu để làm giảm áp lực. Tại các tỉnh, sau khi nhận diện được các thành phần tích cực trong các Tỉnh Hội của Giáo Hội Ấn Quang, công an bắt đầu bắn tỉa dần: Tại chùa Linh Sơn ở Vũng Tàu, các tăng sĩ Tắc Phước, Quảng Liên, Thiên Tài và Liễu Minh đã bị bắt. Tại Cần Thơ, các tăng sĩ Giác Hưng, Giác Bạch và Giác Ưng bị tố cáo âm mưu chống chính quyền nên bị bắt giam truy tố ra tòa. Những nơi khác cũng xẩy ra tình trạng tương tự.
Đêm 6.4.1977, nhà cầm quyền đã quyết định đánh vào đầu não của Giáo Hội Ấn Quang bằng cách cho lực lượng an ninh đến bao vây và lục soát chùa Ấn Quang, tịch thu nhiều giấy tờ, vật dụng và bắt giam các tăng sĩ sau đây:
- Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo.
- Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo.
- Thượng Tọa Thích Thuyền Ấn, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp.
- Đại Đức Thích Thông Bửu, Quyền Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ.
- Đại Đức Thích Thanh Thế, Trưởng Ban Thanh Tra Ủy Ban Thanh Niên Tăng Ni Kinh Tế Tự Túc.
- Đại Đức Thích Thông Huệ, Chánh Đại Diện Chánh Giáo Hội Quận Gò Vấp.
Thượng Tọa Thích Thiện Minh cũng đã bị bắt giam sau đó.
Chùa Ấn Quang bị đặt trong tình trạng kiểm soát của công an, mọi sự ra vào đều phải xin phép. Báo Saigon Giải Phóng loan tin rằng các tăng sĩ nói trên bị bắt vì tuyên truyền chống chế độ và liên lạc với các thế lực nước ngoài để âm mưu tạo phản.
Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thượng Tọa Thích Quảng Độ đã bị đưa ra xét xử trong phiên tòa ngày 8.12.1978 tại Saigon. Viện Kiểm Sát Nhân Dân đã đọc lời thú nhận của Thượng Tọa Huyền Quang như sau: “Từ trước đến nay, chủ trương của chúng tôi là bất hợp tác với chính quyền. Chúng tôi xin xác nhận rằng, trong quá khứ cũng như sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, chúng tôi có những việc làm sai trái với đường lối, chính sách, pháp luật của chính quyền. Những tội lỗi là do chúng tôi gây ra” . Tòa đã cảnh cáo và phạt ông 2 năm tù treo. Thượng Tọa Thích Quảng Độ được tha bổng.
Phải chăng đây là “Giáo hội (Ấn Quang) đã lên tiếng thật sớm, ngay từ những ngày đầu sau 30.4.1975 về những đàn áp bất công đối với tôn giáo và dân chúng”?
Đến đây các tăng sĩ thuốc Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã ý thức được rằng thành tích “tham gia cách mạng” của họ trong quá khứ không có giá trị gì đối với Đảng CSVN! Các tăng sĩ Phật giáo bắt đầu tìm đường tẩu thoát. QUỐC DOANH HÓA GIÁO HỘI ẤN QUANG Năm 1980, Ủy Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo được thành lập, Thượng Tọa Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang làm Trưởng Ban, còn Hòa Thượng Đôn Hậu, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, làm Cố Vấn.
Ngày 4.11.1981, Đại Hội Đại Biểu Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam đã được triệu tập tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Theo Nhật Báo Nhân Dân ngày 5.11.1981, “dự hội nghị có 164 đại biểu các tổ chức, giáo hội, hệ phái: Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam (miền Bắc), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (Ấn Quang), Giáo Hội Phật Giáo Cổ truyền Việt Nam, Ban Liên Lạc Phật Giáo Yêu Nước Thành Phố Hồ Chí Minh ... ”
Nhật báo Nhân Dân ngày 8.11.1981 cho biết sau 4 ngày làm việc tại chùa Quán Sứ Hà Nội hôm 7.11.1981, hội nghị đã kết thúc “tốt đẹp”, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thông qua Hiến Chương và đại cương chương trình hoạt động, giới thiệu và suy tôn Hội Đồng Chứng Minh do Hòa Thượng Đức Nhuận (quốc doanh miền Bắc) làm Pháp Chủ, Hòa Thượng Đôn Hậu (Ấn Quang) được bầu làm Phó Pháp Chủ kiêm Giám Luật Hội Đồng Chứng Minh, giới thiệu và cử Hội Đồng Trị Sự do Hòa Thượng Trí Thủ (Ấn Quang) làm Chủ Tịch. Khi ra chào mừng, Hòa Thượng Trí Thủ đã đọc một bức thư gởi Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước Trường Chinh, trong đó có đoạn như sau:
“Suốt ba mươi năm chống Pháp, chống Mỹ, nhiều chùa là cơ sở của cách mạng (kể cả Đại Học Vạn Hạnh Saigon!), nhiều tăng ni tạm thời rời bỏ Thiền môn, hăng hái tòng quân đánh giặc cứu nước. Bác Hồ dạy: “Không gì quý hơn độc lập tự do!”, toàn thể tăng ni và Phật tử Việt Nam ghi lòng tạc dạ lời dạy đó của Bác , nhận thức rõ lý tưởng giải thoát của người tu hành không thể tách rời sự nghiệp giải phóng dân tộc, do Hồ Chủ Tịch và Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo.”
Phải chăng đây cũng là “Giáo hội (Ấn Quang) đã lên tiếng thật sớm, ngay từ những ngày đầu sau 30.4.1975 về những đàn áp bất công đối với tôn giáo và dân chúng”?
CIA PHẢI NHÚNG TAY VÀO
Trong khi Thiên Chúa Giáo, Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo có rất nhiều tổ chức đối kháng với Cộng Sản, Phật giáo bị chia năm xẻ bảy: Các nhóm Nhất Hạnh, Giao Điểm, Đỗ Mậu, Cao Huy Thuần ... đòi trở về với Giáo Hội quốc doanh. Vì thế, CIA phải nhúng tay vào. Qua “The National Endowment for Democracy” , viết tắt là NED , hàng năm CIA đã cấp cho Võ Văn Ái một số tiền để vực phong trào tranh đấu của Phật Giáo lên.
NED được Tổng Thống Ronald Reagan thiết lập năm 1982. Theo định nghĩa chính thức, NED là một tổ chức tư, bất vụ lợi, được thành lập để đẩy mạnh các định chế dân chủ trên thế giới bằng những nỗ lực không do chính phủ. NED được cai quản bởi một Ban Giám Đốc độc lập và không đảng phái, hoạt động bằng ngân khoản do Quốc Hội Hoa Kỳ cung cấp hàng năm.
Số tiền NED được cung cấp hàng năm là bao nhiêu? Có năm nhiều, có năm ít, trung bình từ 30 triệu đến 40 triệu USD. Nhưng năm 2002 số tiền này lên tớiø 48,5 triệu USD, v.v.
Võ Văn Ái được cấp mỗi năm bao nhiêu? Theocác bản phúc trình hàng năm của NED, Võ Văn Ái được cấp $90.000 năm 1997, $95.000 năm 1998, $70.000 năm 1999, $70.000 năm 2001, $70.000 năm 2003, v.v.
Ông Võ Văn Ái lãnh tiền của NED để làm gì? Theo tài liệu chính thức, Võ Văn Ái được NED giao phó: “Xuất bản tờ Quê Mẹ bằng tiếng Việt, hai tháng một lần, một nguồn tin tức và thảo luận về những ý tưởng dân chủ không bị kiểm duyệt ở Việt Nam. Quê Mẹ cũng phải in và phân phối 50.000 bản tin ngắn về nhân quyền và quyền của người lao động khẩn cấp ở Việt Nam.” ( To publish Que Me, a bi-monthly Vietnamese-language magazine, a source of uncensored news and discussion of democratic ideas in Vietnam.The association will also publish and distribute 50,000 copies of a mini-bulletin on urgent human and worker rights in Vietnam ).
Nói một cách đơn giản, nhiệm vụ được NED giao phó cho Võ Văn Ái là đánh phèng la để giúp Hoa Kỳ làm áp lực . Hình như số tiền được cấp hàng năm nhiều hay ít tuy thuộc vào khả năng đánh phèng la? Nhóm Phong Trào Giáo Dân và Diễn Đàn Giáo Dân không biết chuyện này nên cứ thắc mắc tại sao bên Công Giáo không chịu đánh phèng la như Võ Văn Ái!
Ông Võ Văn Ái nói tiền do Quốc Hội Hoa Kỳ cấp không phải là tiền của CIA. Nhưng đây là vấn đề không cần phải tranh luận nữa, vì một số dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ đã đưa ra ánh sáng nhiều hoạt động mờ ám của các tổ chức được NED cung cấp tiền bạc và CIA điều khiển.
Ông Võ Văn Ái đã và đang hoạt động dưới danh nghĩa “Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”, nhưng do CIA trả tiền.
Những chuyện về Võ Văn Ái được Đỗ Mậu ghi lại trong cuốn Tâm Thư là bịa đặt. Tú Gàn nhớ bác Võ Văn Báu, thân phụ ông Ái, thường ngồi sửa đồng hồ ở bên cạnh tiệm đóng giày Đồng Dụng trên đường Trần Hưng Đạo ở Huế. Khi ở Việt Nam, Võ Văn Ái chỉ mới là “điệu” ở một chùa tại Đà Lạt. Chữ “điệu” được người Huế dùng để gọi các sa di hay chú tiểu. Sau đó Võ Văn Ái bỏ chùa ra hoạt động gia đình Phật tử trước khi đi Pháp, mặc dầu học chưa xong trung học. Nhưng nay trong chức vụ phát ngôn viên của Giáo Hội Ấn Quang, ông Ái gần như đang đóng vai trò đại diện chính thức của Giáo Hội này chứ không phải Đức Tăng Thống Huyền Quang hay bất cứ một tăng sĩ nào khác!
Mặc dầu đã có CIA cầm tinh, thỉnh thoảng cũng có những chuyện bất trắc xẩy ra. Sau đây là ba biến cố nguy hiểm cần lưu ý:
Biến cố thứ nhất: Ngày 1.10.2000, Hòa Thượng Quảng Liên đến thăm Hoa Kỳ. Trong “bửa cơm đạo vị và thân mật” tại chùa Liên Hoa của Hòa Thượng Thích Chơn Thành ở số 9561 Byxby Ave., Garden Grove, California, có sự tham dự “đông đủ Tăng Ni đoàn, cư sĩ Phật tử, gia đình Phật tử, v.v...”, các vị đã “bày tỏ tâm tình chân thật muốn trông thấy hai Giáo Hội Việt Nam được hòa hợp lại với nhau , làm Phật sự chung và góp phần xây dựng Tổ Quốc Việt Nam được giàu mạnh tự do dân chủ.” Các vị đã nhất trí giao phó cho Hòa Thượng Quảng Liên khi trở về nước phải bằng mọi cách “tạo hòa giải hòa hợp Phật giáo”.
Biến cố thứ hai: Ngày 7.5.2003, Hòa Thượng Huyền Quang gặp ông Lê Thanh Hải, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Sài Gòn. Hòa Thượng có tiềt lộ: “Thủ Tướng Phan Văn Khải có hứa với tôi rằng mọi việc từ nay chính phủ sẽ giải quyết bằng lòng từ bi. Nếu được như thế, chúng tôi cũng sẽ giải quyết bằng lòng hỷ xả. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là Phật Giáo chúng tôi phải được quyền chỉnh đốn nội bộ để tiến đến việc thống nhất Phật Giáo.” Lúc đó, nhiều người tưởng Giáo Hội Ấn Quang sắp đi đong rồi!
Biến cố thứ ba: Đầu năm 2005, Thiền sư Nhất Hạnh đã dẫn một phái đoàn đi Việt Nam kéo dài từ 12.1.2005 đến 11.4.2005, dưới danh nghĩa là “du hành thuyết pháp”, nhưng bên trong là dàn xếp sát nhập Giáo Hội Ấn Quang vào Giáo Hội quốc doanh.
Nhưng “mưu sự tại các chư tăng, thạnh sự tại CIA” nên việc không thành. Thank you, CIA!
MONG CHỜ HÒA THƯỢNG QUẢNG ĐỘ
Trong huấn từ đọc tại “Đại lễ kỷ niệm 30 năm” ở chùa Diệu Pháp, Hòa Thượng Quảng Độ có xác định rằng Giáo hội và chư tôn không làm chính trị, nhưng phải có thái độ chính trị. Lời xác nhận này hoàn toàn phù hợp với một giáo hội. Nhưng trong thực tế, từ năm 1964 đến nay, Giáo Hội Ấn Quang và các chư tôn của giáo hội này đã làm chính trị gây ra không biết bao nhiêu thảm họa cho dân tộc. Nay, thay vì coi Giáo Hội Ấn Quang chỉ là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc, có bổn phận góp phần với các cộng đồng khác trong việc đấu tranh đưa đất nước ra khỏi áp bức và nghèo đói, Giáo Hội Ấn Quang nấp dưới chiêu bài “đạo pháp và dân tộc” , luôn tự coi mình là tổ chức lãnh đạo, không liên kết với cộng đồng nào và chỉ muốn các cộng dồng khác, kể cả các tông phái Phật Giáo, phải đi theo mình, với ý nghĩ rằng Giáo Hợi Ấn Quang phải lãnh đạo quốc gia trong gian đoạn lịch sử sắp đến. Mưu đồ này xuất hiện rất rõ nét trong Thông Điệp Thế Kỷ 21.
Làm chính trị thì phải dùng thủ đoạn. Một trong những thủ đoạn mà một số tăng sĩ Ấn Quang thường dùng là VỌNG NGỮ . Sách Trí Độ Luận, quyển 14, có viết: “Vọng ngữ là cái tâm không trong sạch, luôn muốn nói dối trá, che dấu sự thật, nói sai sự thật và sinh khẩu nghiệp.” Vì làm chính trị, một số cao tăng như Thiền sư Nhất Hạnh, Hòa Thượng Đức Nhuận, Hòa Thượng Mãn Giác... đều viết lịch sử đấu tranh bằng vọng ngữ! Bài diễn từ của Hòa Thượng Hộ Giác nói trên cũng đã chứa đựng nhiều vọng ngữ.
Chúng tôi mong rằng Hòa Thượng Quảng Độ, một nhà chân tu thật sự và được mọi người tôn kính, nếu quả thực Hòa Thượng có thực quyền trong Giáo Hội Ấn Quang, sẽ nỗ lực đưa Giáo Hội này ra khỏi chính tri và tiến bước chung với các tông phái Phật Giáo khác, để đưa Phật Giáo và Đất Nước đi lên.
Tú Gàn
|