Obama Và July 4, 2008
VI ANH
Vài ngày trước lễ Độc Lập, ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng Hoà, một người Mỹ Da Trắng, tín đồ Ky tô giáo, là Thượng Nghị sĩ McCain thong dong đi vận động cử tri Tin Lành. Còn ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân Chủ, một người Mỹ lai Da Đen, là Thượng Nghị sĩ Obama phải tất tả ngược xuôi lo bảo vệ lòng yêu Tổ Quốc Mỹ của mình với cử tri. Ô Obama lo buồn là phải vì hai xôi nhồi một chõ. Ông là người Mỹ Da Đen đang ứng cử làm tổng thống của một nước chưa bao giờ có một tổng thống Da Đen. Ông bị người ta tung tin, gây nghi ngờ là Ong một tín đồ Hồi Giáo ở một nước mà ác cảm chưa chấm dứt đối với Hồi Giáo Cực cực đoan hãy con sau cuộc khủng bố 911 kinh hoàng.
Thoáng nhìn trở lại một vài nét lịch sử về Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ là ngày của tình yêu Tổ Quốc Mỹ. June 1776, Uy Ban soạn thảo Tuyên ngôn Độc Lập được thành lập do những nhân vật khả kính như Thomas Jefferson làm Chủ Tịch và John Adams, Benjamin Franklin, Philip Livingston and Roger Sherman cộng tác của. June 28, 1776 - Jefferson trình dự thảo đầu tiên lên Quốc Hội. July 4, 1776 Quốc Hội thảo luận, thêm bớt gay go đến chiều mới biểu quyết thông qua. Có 13 thuộc địa, thì 9 giơ tay thuận,, 2 không (Pennsylvania và South Carolina); Delaware không bỏ phiếu và New York vắng mặt. John Hancock, Chủ Tịch Quốc Hội là người đầu tiên ký Tuyên Ngôn Độc Lập. Tương truyền rằng chữ ký của Ông bay bướm và to lớn hơn thường đến nỗi Vua George của Anh đọc không cần kiến. July 6, 1776 -báo The Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng Tuyên Ngôn. July 8, 1776 -Tuyên Ngôn Độc Lập được công khai, long trong tuyên đọc công bố tại Công Trường Philadelphia's Independence Square. Chuông của Independence Hall lúc bấy giờ gọi là "Province Bell" vang lên, chuông này sau đổi tên lại thành chuông "Liberty Bell" sau khi khắc lên câu "Proclaim Liberty Throughout All the Land Unto All the Inhabitants Thereof." August 1776 - Công tác bắt đầu vào July 4, việc ký Tuyên Ngôn Độc Lập thực sự kéo dài đến tháng August mới xong. Tuy nhiên ngày 4th of July được công nhận là ngày lễ chánh thức Hiệp Chũng Quốc Hoa kỳ trở thành độc lập đối với nước Anh. July 4, 1777 là ngày Lễ Độc Lập đầu tiên của Mỹ được cử hành. Nghi thức ban đầu giản dị nhưng long trọng và truyền thống ấy ngày càng long trọng và rầm rộ thêm trong những thập niên 1800 với các nghi thức diển hành, ăn ngoài trời, đốt pháo trở thành truyền thống có tính văn hoá của Mỹ.
Ngày Lễ Độc Lập July 4, năm 2008 này, gần 232 năm sau, một sự kiện mới lạ đầu tiên trong lịch sử Mỹ. Nhiều dân tộc trên thế giới, các học giả Mỹ tự hỏi đây là một hiện tượng hay một cuộc cách mạng của Mỹ. Trước đây hầu hết những chức vụ lãnh đạo quốc gia như Tổng Thống, Phó Tổng Thống kiêm Chủ Tịch Thượng Viện và Chủ Tịch Hạ Nghị Viện do dân Mỹ bầu, đều là người Mỹ Da Trắng, tín đồ Ky Tô Giáo (Tin Lành hay Công Giáo La mã). Chỉ có July 4 năm 2008 này, người ta thấy có Barack Obama ứng cử viên tổng thống Mỹ là một người Mỹ lai Da Đen mà thăm dò trước ngày Lễ Độc Lập còn dẫn đầu ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng Hoà là John McCain là người Mỹ Da Trắng.
Vài ngày trước lễ Độc Lập, người ứng cử viên Da Trắng McCain theo thói quen mùa Lễ Độc Lập thong dong đi vận động cử tri Tin Lành là khối cử tri đã từng ủng hộ TT Bush cũng là một người Mỹ Da Trắng. Còn Obama lại phải tất tả ngược xuôi lo bảo vệ lòng yêu Tổ Quốc Mỹ của mình với cử tri. Obama bắt đầu tuần lễ của Lễ Độc Lập bằng một bài diễn văn vinh danh một cách qui mô những đức tính của người Mỹ. Ông Obama nói những nghi ngờ về lòng yêu nước của người Mỹ này người Mỹ nọ, đó là những di chứng độc hại của những năm 1960 và những xung đột lúc bấy giờ. Điều đó cho thấy luận điệu tuyên truyền của đối phương gây nghi ngờ về lòng yêu nước của Obama là một mối lo của bộ tham mưu chiến dịch tranh cử của Ông. Ông Obama nghiêm khắc và cứng rắn phản bác luận điệu của đối phương tuyên truyền xám, gieo nghi ngờ về lòng yêu Tổ Quốc Mỹ của Ông. Tại thư viện của TT Harry Truman ở Missouri, Ô. Obama nhấn mạnh trong bài diễn văn, rằng Ông không khoanh tay trước những đối thủ đã gieo nghi ngờ về lòng yêu nước Mỹ của Ông. Ông nói, "Tôi không bao giờ nghi ngờ lòng yêu nước của người này người nọ trong cuộc vận động này. Tôi sẽ không khoanh tay khi nghe người nào đó đặt lại vấn đề ấy đối với tôi."
Phản bác thì Ô. Obama cứ phản bác. Nhưng không thể không có những câu hỏi, tin đồn và dư luận về người ứng cử viên Mỹ Da Đen lai này ở Mỹ. Một người mang tên Barack Hussein Obama liệu có thể làm tổng thống Mỹ được không. Trong những ngày đầu xuất hiện trên chánh trường quốc gia, Ô Obama dùnh hình thức khôi hài qua lời tán gẩu để thiên hạ coi thường hai lổ tai to lớn và cái tên mắc cười có chữ Hussein của Ông. Đến nay thì hai lổ tai to không có sao nhưng cái họ thứ hai lấy làm chữ lót của Ông thì có vấn đề. Chữ lót Hussein là dề tài tạo nhiểu đàm luận, nhiều tin đồn kéo dài , rằng Obama là tín đồ Hồi Giáo.
Ngay trước khi chiến dịch tranh cử bắt đầu, phát ngôn viên của Ông đã phổ biến một thông cáo báo chí, "thượng nghị sĩ không bao giờ là một tín đồ Hồi Giáo, không bao giờ được giáo dục như một người Hồi Giáo, Ong là một tín đồ Ky tô giáo thuần thành." Vị mục sư của Ông tốn rất nhiều giấy mực để nhắc nhở người Mỹ rằng Obama đi nhà thờ đều đều.
Nhưng một năm sau ngày Ông bắt đầu vận động tranh cử, một thăm dò thấy được trên CNN, cho biết cứ 10 người Mỹ được hỏi thì có 1 người tin Ô Obama là tín đồ Hồi Giáo. Còn ờ vùng nông thôn thì cứ 5 người thì có 2 ngườ tin Ong là tín đồ Hồi Giáo. Tỷ lệ đó là nguy cơ làm lung lay cuộc tranh cử của Ô Obama!
Nên bộ tham mưu chiến dịch của Ô. Obama có cả một ế kíp chuyên môn chống lại những tin đồn liên quan đến tôn giáo của Ông. Còn Ô Obama thì phủ nhận nhiều lần trong những bài diển văn tranh cử. Và những người ủng hộ và vận động cho Ong cũng làm những gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào để làm như thế. Có cả một trang nhà trên Internet, ủng hộ Obama chuyên làm việc đó, có tên là "FightTheSmears.com" (Chống Những Vu Khống).
Nhưng đằng sau đó, sự thật là cái gì mà bộ tham mưu tranh cử lo ngại dữ vậy? Là người theo Hồi Giáo có gì lợi hại quan trọng không? Tại sao gọi đó là vu khống?
Hành động và sự kiện lạnh lùng sẽ giúp nhận định. Bộ tham mưu tranh cử của Ô Obama đã từng ngăn cản hai nữ tín đồ Hồi giáo xuất hiện bên cạnh Ô Obama trước ống kính truyền hình ở Detroit sau khi hai người ấy từ chối không lột khăn choàng ra. Ô Obama phải đích thân gọi hai người ấy lại để xin lỗi. Hoàn cảnh của Ô Obama không dễ dàng thuận lợi trong hai vấn đề cực kỳ nhậy cảm nhưng ít người nói ra bằng lời: kỳ thị màu da có tính lịch sử chưa chấm dứt và ác cảm với Hồi Giáo cực đoan chưa nguôi ngoai sau cuộc khủng bố 911. Cho đến bây giờ tất cả những tổng thống Mỹ đắc cử đều là người Da Trắng và tín đồ Ky tô giáo (Tin Lành hay Công Giáo La Mã). Obama là ngưới Mỹ gốc Phi Châu, da đen. Ô Obama đang cố gắng đi vào lịch sử Mỹ, một nước mà nạn kỳ thị màu chưa dứt. Thêm vào đó người Hồi Giáo Cực Đoan đã làm một cuộc khủng bố vô tiền khoáng hậu và đầy xúc phạm vào nước Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 , ác cảm của người Mỹ đối với Hồi Giáo Cực đoan hãy còn. Ô. Obama ít khi xài cái họ thứ hai, chữ lót Hussein, và màu da đen ngâm của Ong, người khác khó có thể quên.
Nhân ngày 1-7 Tổng thống Pháp làm Chủ tịch luân phiên Âu châu , Thử đọc lại bản Quyết Nghị 1481 lên án cộng sản
Nguyễn văn Trần
*Hân hoan đón nhận
* Phản đối vì cộng sản bị đồng hóa với quốc- xã
* Nhắc lại diển tiến thông qua Quyết Nghị 1481
Bản dự thảo Quyết Nghị kêu gọi kết án tội ác của các chế độ cộng sản đã được Quốc Hội Âu châu thông qua với số phiếu đa số thuận 99/42. Từ nay, Quốc Hội Âu châu trở thành một tổ chức quốc tế đầu tiên lên án tội ác của các chế độ cộng sản độc tài toàn trị.
Từ trước giờ, những tội ác cộng sản chưa hề bị cộng đồng thế giới lên án như đã lên án tội ác quốc-xã Đức. Thế giới dường như chẳng mấy quan tâm đến tội ác tày trời của cộng sản. Họa chăng, có ít người hồi tưởng lại thời gian dài dưới chế độ cai trị bạo ngược của chế độ cộng sản và lấy làm lo ngại, nhưng cũng chỉ thoáng qua .
Ngày nay, nhơn kỷ niệm 15 năm khối Liên-xô tan rả, Quốc Hội Âu châu đã long trọng chấp thuận Quyết Nghị 1481 lên án cộng sản đã vi phạm tội ác chống nhơn loại, bởi Quốc Hội Âu châu là cơ quan bảo vệ nhơn quyền và bao gồm một số nước thành viên vốn là những nước thuộc khối cộng sản cũ .
Bản Dự án Quyết Nghị này, hồi tháng 9 năm 2003, đã được dân biểu dân chủ- Thiên chúa giáo Hòa lan đệ nạp, đã gây ra không ít những tranh cải.
Nhiều người yêu cầu không nên phân biệt giữa chủ thuyết cộng sản và sự thực thi chủ thuyết ấy vào thực tế cộng sản cai trị, mà phải thấy rõ những tội ác cộng sản thật sự phát xuất từ nền tảng của lý thuyết giai cấp đấu tranh và nguyên lý của chuyên chính vô sản.
Thật vậy, tất cả các chế độ cộng sản ở Trung và Đông Âu trước đây, cả ở Tàu, Cao miên, Bắc hàn, Việt nam ngày nay đều phơi bày chung những vi phạm nhơn quyền giống nhau, như ám sát, thủ tiêu, tàn sát hàng loạt nhơn dân vô tội, những người khác chánh kiến, tư sản, trí thức, hoặc giam cầm cho đến chết trong các trại tập trung, bỏ chết đói, lưu đày, tra tấn dã man, cưỡng bách lao động khổ sai, và nhiều cách hành hình tập thể khác, tàn ác ngoài sức tưởng tượng của con người.
Báo cáo viên Quốc Hội Âu châu, ông Goran LINBLAD, người Thụy điển, thuộc đảng Nhơn dân Âu châu, sau khi thuyết trình bản Dự thảo Quyết Nghị để Quốc Hội biểu quyết, bày tỏ sự mong đợi thiết tha của ông là Ủy Ban Tổng trưởng (Comité des Ministres) gồm những vị Tổng trưởng ngoại giao của 46 nước sẽ chấp thuận, đưa ra một bản tuyên bố chánh thức rằng thế giới lên án những tội ác của các chế độ cộng sản độc tài gây ra cho nhơn loại. Rất tiếc, ông Goran LINBLAD đã không hội đủ đa số phiếu cần thiết là 2/3, ông chỉ được 85 phiếu thuận, 50 phiếu chống và 11 người vắng mặt
Thế là những người cộng sản cũ ở Âu châu một lần thoát nạn !
Thiếu tính thuyết phục
Những người không cộng sản và chống cộng sản, ở đâu cũng không khác nhau lắm, thường tỏ ra quá hiền lành, quá lương thiện. Do đó, họ có thua cộng sản trong cuộc tranh đấu với cộng sản, cũng là chuyện bình thường.
Tại Quốc Hội Âu châu, hai bản văn lên án và kết tội cộng sản, bản Quyết Nghị và bản Khuyến Cáo, cả hai đều được viết với lời lẽ quá ôn hòa nên thiếu tính thuyết phục.
Trong lúc đó, chỉ có vài tên cộng sản, đã không ngần ngại lớn tiếng nói lấy được để phản đối: “ Nhơn danh các đồng chí cộng sản đã hi sanh, nhơn danh tất cả nạn nhơn của mật vụ Gestapo, của các trại tử thần, các pháp trường vì đã tranh đấu cho quốc xã bị tiêu diệt và tự do thắng lợi, tôi chỉ có một lời cần nói ra đây với tất cả : xấu hổ (Mikis THEODORAKIS, dân biểu cộng sản Hi-lạp). Chưa đủ, dân biểu này còn phổ biến một thông cáo báo chí: “ Quốc Hội Âu châu đã quyết định thay đổi dòng lịch sử, ngụy tạo lịch sử, bằng cách đồng hóa nạn nhơn với thủ phạm, anh hùng dân tộc với kẻ sát nhơn, những chiến sĩ giải phóng với kẻ chiếm đóng, những người cộng sản với quốc-xã. Bản Quyết Nghị này không khác gì bản văn tuyên chiến chống lại giới thợ thuyền ”.
Những người cộng sản có thừa biết rằng Staline đã từng bắt tay hợp tác với Hitler, nhưng về sau, Hitler muốn đánh chiếm luôn cả Âu châu, nên đã phải chống lại. Thử hỏi, nếu cộng sản Liên-xô chiếm nước Pháp, thì người cộng sản Pháp có chống lại không ? Hay chỉ thấy phe cộng sản thắng, đất nước không bị lệ thuộc ? Hơn nữa, phải chăng người cộng sản không biết rằng Hitler đã từng học ở Lénine phương pháp thực thi bạo lực và dối trá (dối trá che dấu bạo lực và bạo lực củng cố dối trá) ?
Người cộng sản vẫn biết rằng “ ám sát, tra tấn, hành quyết, trại tử thần, lao động cưỡng bách, … ” của Hitler nào có thắm gì đâu đối với chế độ cộng sản. Về con số nạn nhơn, Đức quốc- xã giết 6 triệu người Do thái. Trong lúc đó, Mao trạch đông giết 83 triệu dân Tàu, Liên-xô giết hại hơn 30 triệu nông dân và nhơn dân lao động, Pol Pot giết hơn 1 triệu dân Miên, Hồ chí Minh giết gần 2 triệu người Việt nam vô tội .
Bắt tay với Hitler là có tội, như cộng sản phê phán, thì Hànội ngày nay đừng quên rằng Bs Nguyễn khắc Viện của họ đã từ Paris qua Đức, gia nhập quốc-xã, tình nguyện làm lính đánh thuê cho Hitler, và còn mộ Việt kiều gởi qua Đức tăng cường cho quốc-xã.
Trở lại với hai bản văn Quyết Nghị và Khuyến Cáo, vì lời lẽ quá ôn hòa nên chỉ có giá trị một văn kiện nhằm nhắc lại những sự thật hiển nhiên về tội ác của cộng sản, từ phương pháp thực thi chánh sách bạo lực khác nhau tùy theo chế độ, địa phương, đến chìu kích không gian và thời gian.
Con số nạn nhơn được đưa ra cũng hãy còn quá thắp so với những ước tính có cơ sở khoa học, những phân tích lịch sử, những tài liệu còn lưu trử. Lời lẽ lên án những người cộng sản vi phạm nhơn quyền vẫn chưa phù hợp với cách đối xử với quốc-xã trước kia.
Những lời khuyến cáo chỉ nhằm dành ưu tiên cho “ công việc ghi nhớ ” tội ác cộng sản ở Âu châu và trong phạm vi mươi nước nạn nhơn cộng sản trước đây, yêu cầu những quốc gia nầy hảy mở cửa văn khố cho những người nghiên cứu, những sử gia, xem xét lại để tu chính những tài liệu giáo khoa, dựng đài kỷ niệm, viện bảo tàng, thiết lập một ngày tưởng nhớ chung về nạn nhơn của cộng sản. Chưa thấy nản văn đưa ra những biện pháp hành chánh, như cấm những người cộng sản đã từng gây ra tội ác làm một số nghề nghiệp sanh sống như đối với trường hợp quốc-xã , về mặt pháp lý, như truy tố thủ phạm và đồng lõa (ngày nay, thủ phạm quốc-xã và đồng lõa vẫn còn bị truy tố, mặc dầu đã hơn nửa thế kỷ, vì vẫn là tội bất khả thời tiêu), và, về măt tài chánh, như phong tỏa tài sản, bồi hoàn thiệt hại cho nạn nhơn, hoàn trả tài sản cướp giựt …
Trong bản văn, người ta khó nhận thấy chủ thuyết cộng sản được đồng hóa với chánh sách cai trị của chế độ cộng sản. Và chủ thuyết cộng sản không bị kết án như chính là thủ phạm gây ra tội ác.
Tính ôn hòa của bản văn đã làm cho Ủy Ban Tổng trưởng các quốc gia thành viên Âu châu không hội đủ túc số để kết án cộng sản và từ đó, tội ác cộng sản không bị cho là nghiêm trọng như tội ác quốc-xã, tuy trên thực tế, tội ác cộng sản kinh khiếp hơn tội ác quốc-xã cả vạn lần.
Mặt khác, tội ác cộng sản được một số dân biểu Âu châu phân tích như hệ quả trực tiếp của những chánh sách được thảo luận và được quan niệm bởi những người cộng sản trước khi lên nắm quyền.
Ngày nay, hãy còn chế độ cộng sản, hãy còn những người lớn tiếng bênh vực cho cộng sản là hiện thân của công bằng xã hội, phải chăng vì những người chống cộng sản quá hiền lành hay không đủ bản lãnh để giúp người cộng sản kết thúc quá trình cộng sản độc tài toàn trị ?
Hay những người nầy còn chờ ở một lễ Phục Sinh để những nạn nhơn cộng sản sống lại, ngồi dậy thuyết phục họ về những tội ác chống nhơn loại của cộng sản để họ mới dám có thái độ dứt khoát hơn
Rút Phé Tại Hormuz
NGUYỄN XUÂN NGHĨA
Hoa Kỳ trong trò chơi nhức tim và bốc lửa giữa Israel với Iran...
Vừa mở hàng trong ngày kinh doanh đầu tiên của tam cá nguyệt thứ ba, hôm mùng một tháng Bảy, thị trường chứng khoán New York đã rớt như cục gạch. Rồi suốt ngày chờn vờn lên xuống tựa ma trơi trước sự hồi hộp của giới quan sát kinh tế.
Suốt tuần qua, giới quan sát đều biết rằng chỉ còn vài hạt bụi nữa thôi, trị giá cổ phiếu Hoa Kỳ sẽ tuột mất 20% so với đỉnh cao của tháng 10 năm ngoái. Con số 20% này có ý nghĩa trên thị trường chứng khoán: cổ phiếu mà mất giá 20% là dấu hiệu chính thức của một trào lưu đảo ngược, từ thăng sẽ thành giáng và kéo dài khá lâu. Với chỉ số kỹ nghệ Dow Jones, khi thấy số dưới 11.330 là tới số.
Trong hoàn cảnh cực kỳ bấp bênh của kinh tế toàn cầu, nếu thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ suy sụp, tình hình sẽ chuyển từ bại thành liệt. Hôm sau, mùng hai tháng Bảy, cơn chấn động tâm lý đã theo vòng trái đất từ Hoa Kỳ lan xa tới Á châu - đang bị điêu đứng vì thương phẩm và dầu thô lên giá - rồi tới Âu châu đang bị vây bủa giữa lạm phát 4%, sự suy trầm của thị trường gia cư và một nguy cơ khủng hoảng còn nguy ngập hơn Mỹ về loại tín dụng thứ cấp sub-prime. Và cơn chấn động lại dội về Mỹ, với chỉ số cổ phiếu trôi lăn vào vùng cấm địa đỏ lòm, trong khi dầu thô mấp mé 144 đồng một thùng. Chưa bao giờ cao thế!
Người ta mới chợt nhớ là hôm Thứ Hai Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS - một định chế tài chánh quốc tế và cũng là phòng giao hoán giữa các ngân hàng trung ương của thế giới - vừa cảnh báo rằng kinh tế toàn cầu có thể bị một vụ suy trầm nghiêm trọng.
Yếu tố gây bất ổn nhất cho cả thế giới là dầu thô đã vượt đỉnh cao lịch sử và càng có vẻ bốc mạnh vì tin tức từ Trung Đông. Chúng ta phải rời khỏi thị trường tài chánh để bước sang chiến trường - sau khi phải lách khỏi eo biển Hormuz.
Canh bạc Iran-Israel
Ngày 20 tháng Sáu, nhật báo The New York Times tường thuật việc Israel đã có một cuộc thao dượt quy mô với hàng trăm chiến đấu cơ bay lượn trên vùng trời miền Đông của Điạ trung hải và ngoài khơi xứ Hy Lạp. Tờ báo còn nhanh nhẩu hớt lẻo là phi cơ Do Thái đã di chuyển trên một khoảng cách chín trăm cây số, tương đương với khoảng cách giữa Israel và Iran. Hôm sau, nhật báo Times của London mách thêm rằng theo các giới quân sự Do Thái thì đó là một tổng tập dượt cho việc không tập Iran! Như chưa đủ đáng tin, báo chí tiết lộ thêm là Ngũ giác đài của Hoa Kỳ cũng gật gù đồng ý với kết luận đó.
Với độc giả Việt Báo, chuyện Israel có thể tấn công Iran không là điều mới lạ (xin đọc bài "Xì Vương Độc Nhất Láng" trên cột báo này, trong số ra ngày 20 tháng Sáu): các giới chức có thẩm quyền trong và ngoài chính quyền của Thủ tướng Ehud Ormert tại Israel đều nói tới quyết định họ gọi là "bất đắc dĩ" ấy. Lý do là Tehran coi thiên hạ như pha, bất chấp quan điểm của Liên hiệp quốc và sức ép đa phương của Anh, Pháp, Đức để sắp đi qua bước bất khả hồi là chế tạo võ khí hạch tâm, hầu biến Israel thành bình địa.
Vì vậy, sau khi lên tiếng bắn tin từ tháng Năm, qua ngày sáu tháng Sáu Israel còn tố thêm một nước là mở cuộc thao diễn oanh tạc chiến đấu cơ F16 và F15!
Những người ngoại cuộc như chúng ta đều tin rằng nếu cần dụng binh thì Israel phải bất ngờ ra đòn, theo phép "công kỳ vô bị" là bắn không báo trước, chứ ai lại bắn tin bắn tiếng như vậy! Và suy đoán thêm: có lẽ đây chỉ là đòn hù! Nếu có ngây ngô như Barack Obama vì mới sinh ra trước mùa mưa thì các giáo chủ Tehran cũng nghĩ rằng đấy là một màn tháu cáy, một trò tâm lý chiến của Israel.
Họ nói thẳng ra điều ấy, rồi đi tiền trong canh bạc xì phé này.
Ngày 28 tháng Sáu, Tư lệnh Vệ binh Cách mạng Iran (RGC) là Thiếu tướng Mohammad Ali Jafari hăm dọa là sẽ "đóng" eo biển Hormuz. Đây là cuống họng của luồng giao thương quốc tế còn quan trọng hơn eo biển Malacca tại Đông Nam Á, vì là nơi chuyển vận hơn 90% dầu khí xuất cảng từ Vịnh Ba Tư - khoảng 17 triệu thùng một ngày. Với giá dầu lên tới trăm tư, khu vực cung cấp 40% dầu thô của thế giới mà bị nghẽn hoặc bị nổ thì xăng dầu sẽ bốc giá lên trời.
Và kinh tế địa cầu sẽ rơi xuống đất.
Tức là trong khi hai tay kỳ vương đánh phé tại Trung Đông thì cả thế giới lên ruột, và thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ lên xuống tựa cái yo yo! Hôm sau, Thứ Tư mùng hai, bắt đầu đi vào vùng nước đen, trôi vào "bear market", nói theo thuật ngữ chứng phiếu. Chỉ số DJIA mất 166,75 điểm!
Nhưng Hoa Kỳ không thể là vô can như vậy.
Muốn tấn công các căn cứ chế tạo võ khí hạch tâm của Iran, phi cơ Israel phải bay qua không phận Iraq là nơi Hoa Kỳ đang kiểm soát. Mà trong chuyến bay khứ hồi rất xa với hành trang rất nặng như vậy, các chiến đấu cơ Do Thái cần sự tiếp liệu của máy bay chở dầu. Quân lực Hoa Kỳ sẽ bịt tai nhắm mắt... ngó lên trời hay sao mà để Israel mặc nhiên tung hoành như vậy? Chuyện "một đồng một cốt" hay kẻ rút phé người chi tiền tất nhiên phải có. Đấy là kết luận của Tehran.
Vì vậy, đòn phong tỏa eo biển Hormuz cũng là một đòn chống Mỹ!
Yết hầu Hormuz
Nếu chịu khó liếc trên bản đồ, ta thấy rằng từ trong Vịnh Ba Tư - là nơi các nước Iran, Iraq, Kuwait, Saudi Arabia, Qatar và United Arab Emirates cùng rửa chân trong dầu - qua Vịnh Oman để ra tới biển Á Rập rồi Ấn Độ dương, tầu bè phải lạch qua một chỗ nghẽn chừng 34 cây số có đầy cù lao.
Nói là rộng 34 cây số (21 dậm), thật ra chỗ nghẽn này mà một dải nước bề ngang chỉ có sáu dậm. Hãy nghĩ đến một xa lộ ba lằn, một lằn ra, một lằn vào, ở giữa là khoảng cách an toàn rộng hai dậm. Và tất cả đều nằm dưới tầm kiểm soát của căn cứ hải quân Bandar Abbas của Iran, chưa nói tới hai căn cứ khác là Bushehr ở trong và Charbahar ở ngoài.
Nếu Iran muốn xiết cuống họng Hormuz, dầu thô chỉ có thể chảy thoát qua ống dẫn dầu của Saudi Arabia được chừng 3% mà thôi. Nhưng khí đốt của Qatar và tiểu vương quốc UAE thì hết lối thoát: 18% lượng khí lỏng của thế giới do hai xứ này xuất cảng sẽ bị ngưng trệ.
Các giáo chủ Iran đều biết thế, đã chuẩn bị và thao dượt sẵn sàng. Họ có nhiều loại hoả tiễn có tầm bắn gần xa để cho các tầu dầu hay chiến hạm hộ tống chìm xuống. Họ có các khinh tốc đỉnh để quấy rối đối phương và đã từng sử dụng. Họ còn có ba tiềm thủy đĩnh hạng Kilo mua lại của Nga để trải mìn, phóng thủy lôi và hoả tiễn. Và họ có thể kết hợp cả ba lối tấn công đó.
Nhưng bên kia đường, họ cũng có Đệ ngũ Hạm đội của Hoa Kỳ. Ngay sau khi Tehran hăm dọa là sẽ bóp nghẹt Eo biển Hormuz, Hạm đội Hoa Kỳ lập tức trả lời: vô phương.
Từ đã lâu, mọi căn cứ hoả tiễn, đại bác hay chiến hạm của Iran trong khu vực này đều đã được Hoa Kỳ phát giác, chấm toạ độ và canh chừng. Khi hữu sự, các mục tiêu ấy sẽ bị tiêu diệt, ba tầu ngầm sẽ bị truy lùng và nhân tiện cho viếng thăm Hà Bá. Cả căn cứ Bushehr đầy khả nghi là sẽ có võ khí nguyên tử cũng sẽ bị phá hủy cho tiện việc.
Thuần về quân sự mà nói, Hoa Kỳ có khả năng trả đũa rất nặng và tất nhiên cũng chuẩn bị tình huống này từ nhiều năm rồi, từ khi xảy ra cuộc chiến chống tầu dầu hơn hai chục năm về trước. Tổn thất tất nhiên phải có, nhưng nặng nhất là cho Iran. Có khi sẽ bị phế bỏ võ công trong vùng Vịnh. Khi đó, dại gì mà Israel không thừa cơ áo trắng qua sông mà đánh úp?
Nhưng vấn đề không thuần túy là tiếng nói của bom đạn, vì ngoài chiến trường vẫn còn thị trường. Với dầu thô trên giá trăm tư và năng lượng đang đe dọa kinh tế thế giới, giao tranh tại Eo biển Hormuz mà bùng nổ - dù chỉ có hai ngày là tan - thì thiên hạ vẫn thất điên bát đảo.
Từ Chiến trường vào Thị trường
Ngay sau khi đôi ba bên ra đòn tháu cáy tại yết hầu Hormuz, các nước bán dầu trong vùng Vịnh Ba Tư đã lập tức họp bàn. Dầu thô lên giá, việc làm ăn đang khấm khá, Cộng hoà Hồi giáo Iran bỗng dưng đòi kiểm soát đường chuyển vận hàng hoá và Mỹ đòi trả đũa làm Eo biển Hormuz có khi bốc lửa. Làm sao bây giờ?
Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council) thảo luận về những kế hoạch ứng phó với một biến cố dù có xác suất thấp cũng vẫn làm các đại gia dầu khí lên ruột. Chở dầu qua ngả nào đây?
Giá dầu thô được thể lại càng bốc nặng và đạp các thị trường chứng khoán xuống đáy vực.
Tại Hoa Kỳ, thị trường chao đảo là cơ hội cho chính trường đảo theo.
Nếu Israel phải ra đòn tấn công Iran, thời điểm thuận tiện nhất là sau ngày bầu cử mùng bốn tháng 11 và trước ngày Tổng thông tân cử nhậm chức, 20 tháng Giêng năm tới.
Nhưng, chưa chắc là Tổng thống đắc cử sẽ ngồi yên chờ đợi, và càng khó đồng ý nếu là Nghị sĩ Obama và ban tham mưu vừa phản chiến của ông. Israel không thể quên là năm 1973, họ bị Egypt tấn công bất ngờ và bị Quốc hội Mỹ cột tay ngăn cản việc tiếp vận. Bị dư luận Hoa Kỳ coi là con chiên ghẻ, Tổng thống Richard Nixon là thần tượng của Do Thái vì đặc cách cho chuyển võ khí đạn dược vào lúc dầu sôi lửa bỏng. Lần này, nếu Obama lại vào phòng bàu dục, coi bộ Israel sẽ khó thở.
Cho nên, thời điểm còn thuận lợi hơn cho việc ra đòn tấn công chính là... lúc này, trong bốn tháng hoang mang trước ngày bầu cử. Và nều giao tranh bùng nổ thì nhiều phần Nghị sĩ John McCain mới là tân tổng thống. Thời chiến mà, dân Mỹ sẽ không dám cho một thứ Jimmy Carter bis vào tòa Bạch Cung. Vì vậy, bỏ bom Iran cũng là cách bỏ phiếu cho McCain!
Nhưng, ráp lại chuyện dầu khí trên thị trường và lá phiếu trên chính trường Mỹ, thì từ mọi nơi người ta đều cân nhắc xem... Saudi Arabia sẽ làm gì.
Theo hệ phái Sunni của Hồi giáo và là đối thủ lâu đời của Iran theo hệ phái Shia, Hoàng gia Saudi muốn những gì? Nhiều lắm: muốn làm ăn thoải mái, muốn ai đó giải trừ ung nhọt Iran, nhưng cũng không muốn dầu thô lên giá khiến kinh tế thế giới suy thoái làm số cầu về dầu khí sẽ giảm. Năm 1997, Đông Á bị khủng hoảng, kinh tế suy trầm làm số cầu về dầu thô giảm mất 10% và dẫn tới sút giảm giá cả tới 75%! Đó là chuyện 10 năm về trước, chứ về lâu về dài, dầu thô mà tăng giá quá đáng, Mỹ sẽ tìm ra giải pháp thay thế, là chuyện đã xảy ra năm 1973. Ngay trước mắt, súng đạn vốn vô tình, con gà đẻ trứng vàng của mình mà bị đạn lạc thỉ đời cũng mất vui.
Nếu chẳng may mà chiến sự bùng nổ, duy nhất có thể bơm thêm dầu thô để cấp cứu thiên hạ chính là xứ Saudi, nhưng dầu Saudi sẽ đi đâu, nếu không được Hoa Kỳ hộ tống?
Suốt mấy ngày qua, người ta đã thảo luận, tranh luận và trao đổi về ngần ấy kịch bản, từ quân sự tại Trung Đông qua chính trị tại Mỹ, từ kinh tế toàn cầu qua an ninh vùng Vịnh. Thị trường vốn không ưa những chuyện linh tinh bất định như vậy nên càng tuột giá mạnh.
Thế rồi, Tehran bỗng dưng quay bài.
Ngày hôm qua, mùng hai tháng Bảy, Ngoại trưởng Manouchehr Mottaki cho biết rằng đã có chuyển hoá trong kế hoạch hạch tâm. Vài tuần nữa Tehran sẽ chính thức trả lời đề nghị của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc - và nước Đức trong nhóm các nước Âu châu phụ trách việc giải tỏa hồ sơ nguyên tử của Iran. Tại New York, Ngoại trưởng Mottaki còn nói thêm rằng Iran sẽ nghiên cứu lời đề nghị của Ngoại trưởng Condoleezza Rice là có thể lập văn phòng trao đổi về quyền lợi giữa hai nước, một bước tiến tới việc mở rộng hành lang đàm phán.
Hành lang Hormuz bỗng lại khai thông!
Nhưng, Mottaki là Ngoại trưởng trong Nội các của Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad, một người khật khùng có quan điểm hiếu chiến. Quyết định tối thượng của Tehran phải xuất phát từ Đại giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei. Quyết định ấy cũng đã có: cùng ngay hôm đó, Cố vấn an ninh của Khamenei là Ali Akbar Velayati bỗng dưng bình luận, rằng hai dân tộc Hoa Kỳ và Iran cần hiểu nhau hơn nữa, và rằng trên nguyên tắc, Tehran thấy đề nghị của Tây phương là có thể chấp nhận được!
Cùng ngày hôm đó, tờ báo quốc doanh al Hayat Saudi Arabia loan tin rằng Hoa Kỳ đã đồng ý với Chính quyền Baghdad tại Iraq là sẽ không đòi kiểm soát toàn bộ không phận Iraq nữa! Kiểm soát không phận Iraq cũng là canh chừng việc Iran xâm nhập hay phá hoại, hoặc tao điều kiện cho Israel bay qua tấn công Iran. Khi thương thuyết với Chính quyền Iraq, Hoa Kỳ mặc nhiên đàm phán với Tehran. Và nếu tin tức Saudi là chính xác, thì quả là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đang có chuyển động...
***
Nếu nhìn lại toàn cảnh, ta thấy Israel đưa đạn lên nòng, Iran đòi khoá họng Hormuz, bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trả lời là "còn lâu", và bộ Ngoại giao thì đề nghị nâng cấp đối thoại về ngoại giao. Cuối cùng thì Tehran trả lời rằng "có thể nói chuyện được", và Mỹ dịu giọng.
Diễn giải cho nôm na, cuộc đấu trí giữa Hoa Kỳ và Iran có vẻ như đang đi vào khúc quanh. Đây là khúc quanh dễ trơn trượt và tai nạn giao thông vẫn có thể xảy ra, và Israel vẫn có thể thấy rằng chưa đủ.
Nhưng, từ thành tích tệ hại của Jimmy Carter năm 1979 khiến Iran đổi đời và dân ngoại giao của Mỹ bị bắt làm con tin trong 444 ngày, lần đầu tiên trong ba chục năm, quan hệ giữa hai nước đang đi vào bước ngoặt. Nếu quan hệ này có cải tiến, tình hình Iraq sẽ càng sớm ổn định và lịch sử sẽ xét lại công trạng của George W. Bush.
Nếu không, Israel sẽ nói dứ mà làm thật và Saudi Arabia sẽ phải bơm thêm dầu để hạ hỏa kinh tế. Từ dưới đất đen trong mấy tháng cuối mà ông Bush vẫn xoay chuyển được cục diện như thế! Đâu phải là dở?
Tiền Trợ Cấp Kinh Tế Và Phúc Lợi An Sinh Xã Hội
THÚY CHI - IRS/SPEC
1. Tôi hiện nay đã 66 tuổi, vẫn còn đi làm, full time. Hằng tháng, cứ vào mỗi thứ tư của tuần lễ thứ nhì, Sở An Sinh Xã Hội chuyển thẳng vào trương mục vãng lai của tôi số tiền là $475. Đây là tiền hưu tôi nhận được sau khi đủ 66 tuổi. Xin cho biết số tiền này đã được trừ thuế hay chưa? Nếu chưa, tôi có phải khai và đóng thuế cho số tiền này hay không? Tôi có phải cộng chung số tiền này vào tiền lương của tôi hay không?
Phúc lợi an sinh xã hội gởi đến cho người thừa hưởng thường chưa được trừ thuế. Quý vị không buộc phải đóng thuế tạm (withholding tax) cho các khoản phúc lợi an sinh xã hội nhận được trong năm, nhưng nếu quý vị chọn giải pháp đóng trước một phần tiền thuế từ số tiền nhận được hằng tháng, đến cuôi năm khi khai thuế với số tiền thuế phải đóng khá lớn, số tiền thuế đã tạm đóng hằng tháng sẽ giúp quý vị ít lo lắng hơn.
Nếu quý vị chưa từng yêu cầu cơ quan SSA giữ lại tiền thuế từ các khoản phúc lợi gởi cho quý vị, số tiền quý vị nhận được có thể là nguồn lợi tức chưa đóng thuế. Quý vị cần phải đọc lại thư của Sở An sinh Xã Hội thông báo về việc nhận phúc lợi của quý vị để biết rõ hơn. Trường hợp quý vị muốn cơ quan này tạm thu thuế giúp cho quý vị, quý vị cần phải:
1. Điền đầy đủ vào mẫu đơn W-4V - Voluntary Withholding Request của IRS.
2. Quý vị phải quyết định và yêu cầu tỉ lệ số tiền tạm thu, chẳng hạn 7%, 10%, 15%, hay 25%. Chỉ những tỉ lệ này được dùng để tính số tiền thuế tạm thu của quý vị; quý vị không thể đề nghị tạm thu những số tròn (flate dollar amounts), chẳng hạn $50, $65, hay $100.
3. Sau khi đã điền đầy đủ và ký tên vào mẫu đơn, quý vị nộp đơn cho Sở An Sinh Xã Hội để cơ quan này giúp gĩu lại tiền thuế tạm thu từ các khoản phúc lợi ASXH của quý vị.
Nếu quý vị vẫn còn làm việc, cuối năm quý vị sẽ khai các khoản phúc lợi ASXH và các nguồn lợi tức khác đã nhận được trong năm trên đơn khai thuế. Tiền thuê phải đóng trên các khoản phúc lợi ASXH tùy thuộc vào tổng lợi tức phải đóng thuế của quý vị.
2. Thư đọc giả viết: "Tôi lãnh tiền SS hằng tháng là $440 và chồng tôi lãnh $488; mỗi người cũng lãnh được $18 tiền SSI. Vợ chồng tôi ở chung với đứa con trai đã có gia đình; vợ chồng nó có claim chúng tôi vào income của tụi nó. Xin cho biết hai vợ chồng tôi có được eligible dể có được economic Stimulus Payment?"
Vì con trai và con dâu của hai bác đã "claim" hai bác trên hồ sơ thuế của họ, hai bác trở thành "dependent" của con mình, nên sẽ không nhận được tiền ESP. Để nhận được tiền ESP, hai bác phải nộp đơn khai thuế cho năm 2007 (mẫu đơn 1040A) với nguồn lợi tức social security benefits (KHÔNG phải SSI) của hai bác trong cả năm 2007, đồng thời KHÔNG có ai "claim" hai bác là người sống phụ thuộc vào họ. Ngày đáo hạn nộp đơn để nhận tiền ESP cho năm 2008 là ngày 15 tháng 10 năm 2008.
3. Câu hỏi của một đọc giả liên quan đến vấn đề thứ tự tên họ dùng trên các văn bản giấy tờ và thẻ an sinh xã hội cũng như bằng lái xe không giống như thứ tự tên họ của đọc giả theo như khai sinh ở Việt Nam, điều này đã gây ra nhiều nhầm lẫn và rắc rối cho đọc giả (vì chưa quen).
Tuy rằng câu hỏi này không liên quan trực tiếp đến các vấn đề thuế vụ, nhưng cũng xin được trả lời như sau:
Thứ nhất, đây là rắc rối thường gặp cho hầu hết tất cả những người mới đến sinh sống ở Hoa Kỳ, nhưng chúng ta phải cố nhớ và làm quen với các kiểu cách của người bản xứ. Bất kể thứ tự tên họ được hỏi như thế nào, điều quan trọng vẫn là phải nhớ và phân biệt rõ họ (last name) tên (first name) và tên đệm (middile name) của mình để trả lời hay điền cho đúng vào các mẫu đơn. Thường thường, sau khi đã có thẻ và số an sinh xã hội, chúng ta nên sử dụng tên đúng như ghi trên thẻ này. Nêu đã bị lộn "tùm lum" một giải pháp hay nhất là đến văn phòng Sở An Sinh Xã Hội yêu cầu đổi tên đã đăng ký theo đúng thứ tự và ý nghĩa tên của mình. Chẳng hạn, một người có tên VN là NGUYỄN THỊ XUÂN PHƯƠNG - last name là Nguyễn, first name là Xuân Phương, middle name là Thị, thì phải điền trong mẫu đơn đăng ký là:
Last name: NGUYEN
First name: XUANPHUONG ( không tách rời )
Middle name: THI ( hay Middle name initial T )
Nếu không viết rõ như vậy, họ vẫn là Nguyễn, tên có thể sẽ là Xuân, thay vì Xuân Phương; và tên đệm có thể là Phương, có thể là Thị v.v. Còn nếu sợ sau này có rắc rối, mỗi lần thấy tên mình ở đâu sai, thì yêu cầu nơi đó điều chỉnh lại. Tuy nhiên, tên và số an sinh xã hội ghi trên hồ sơ khai thuế cần phải đúng với tên và ghi trên thẻ ASXH, mặc dù tên trên thẻ an sinh xã hội đã cấp không đúng với tên cúng cơm của mình!
Chúc may mắn.
Việt Nam sửa luật quốc tịch: "Việt Kiều" dở khóc dở cười
Hà Ngọc Cư
*Việt Nam sẽ công nhận song tịch?
*Mỹ có công nhận song tịch của người Mỹ gốc Việt không?
*Thông báo chiếu khán tháng 6/2008
Việt Nam sẽ sửa đổi luật quốc tịch để chấp nhận song tịch nhưng với Hoa Kỳ những người Việt đã nhập tịch Mỹ có được giữ hai quốc tịch không? Hiện người Mỹ gốc Việt có còn được chính phủ VN công nhận là công dân Việt Nam nghĩa là còn quốc tịch VN không?
Bộ Tư pháp đã đệ trình lên Quốc Hội dự luật sửa đổi luật quốc tịch để chấp nhận song tịch. Có nhiều khả năng dự luật này sẽ được thông qua nhanh chóng vì Quốc Hội “gọi dạ bảo vâng” thì cái gì Đảng đưa ra chả ký.
Theo luật quốc tịch hiện hành (1998) thì công dân VN chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Điêu đó được hiểu như thế nào?
1/ Công dân Việt Nam khi đã vào quốc tịch khác là mất quốc tịch Việt Nam hay
2/ Việt Nam không công nhận quốc tịch khác của công dân Việt Nam?
Hoa Kỳ và vấn đề song tịch của người Mỹ gốc Việt
Đa số quốc gia trên thế giới chấp nhận song tịch như Canada, Pháp, Nga, Mễ Tây Cơ, Thái Lan... Một số quốc gia khác không chấp nhận song tịch nghĩa là khi đã vào quốc tịch khác là mất quốc tịch cũ như Uc, Trung Hoa, Cuba, Ấn Độ, Nhật Bản...
Hoa Kỳ có chấp nhận song tịch không?
Hiến pháp Hoa Kỳ không bắt buộc công dân Mỹ chỉ được quyền có một quốc tịch và luật pháp Hoa Kỳ cũng không có điều khoản cấm công dân Mỹ song tịch. Mặt khác Hoa Kỳ cũng không bao giờ có một đạo luật công nhận quyền song tịch của công dân Mỹ.
Song tịch chỉ là “vấn đề” khi có tranh chấp giữa hai quốc gia về quốc tịch của một cá nhân liên quan đến quyền lợi hoặc pháp lý của hai quốc gia đó. Do đó vấn đề song tịch là vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Ngoại Giao.
Hai nguyên tắc cơ bản mà hầu hết các quốc gia đều đặt cơ sở cho quốc tịch là quốc tịch theo huyết thống (nghĩa là bố/mẹ có quốc tịch nào thì con cái có quốc tịch đó) và quốc tịch theo lãnh thổ (nghĩa là ra đời ở lãnh thổ nước nào thì có quốc tịch của nước đó). Vì thế mà một người có thể song tịch ngay lúc chào đời. Thí dụ: Con của công dân Mỹ sinh tại Việt Nam thì vừa có quốc tịch Mỹ theo huyết thống vừa có quốc tịch VN theo lãnh thổ. Không có luật quốc tịch của nưóc nào ở trên luật quốc tịch của nước khác nên cả Hoa Kỳ lẫn VN đều có thể coi người này có quốc tịch của nước họ.
Bây giờ nói đến trường hợp người VN nhập tịch Mỹ. Mặc dầu khi vào quốc tịch Mỹ ta đã phải giơ tay tuyên thệ là sẽ từ bỏ quốc tịch Việt Nam nhưng chính quyền VN vẫn có quyền coi người Việt sau khi nhập tịch Mỹ vẫn còn quốc tịch Việt Nam, viện cơ rằng mình sinh ra ở VN tức là có quốc tịch VN mà chưa làm đơn xin thôi quốc tịch tức là vẫn còn quốc tịch VN.
Những quốc gia không chấp nhận song tịch thì quy định rõ ràng là nếu công dân của họ vào quốc tịch khác thì tự động mất quốc tịch gốc, không cân làm đơn từ bỏ quốc tịch gốc.
Chỉ có ở Việt Nam là vấn đề song tịch cứ nhập nhằng lúc trắng lúc đen. Nếu VN chỉ công nhận công dân của mình có một quốc tịch thì khi công dân VN vào quốc tịch mới là đương nhiên mất quốc tịch VN rồi thì việc gì phải làm đơn xin bỏ quốc tịch VN nữa. Vậy mà “Việt kiều” cứ vẫn bị coi là còn quốc tịch VN để chính quyền VN “trị tội” khi cần. Và muốn khỏi bị chính quyền VN phiền hà về cái gốc VN của mình thì phải làm đơn lên “Nhà Nước” Việt Nam để xin thôi quốc tịch VN.
Luật “cứng” hay luật “mềm”
Ông Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Tư pháp nước CHXHCNVN nói rằng đây là luật quốc tịch “CỨNG”.
Dự luật sửa đổi luật quốc tịch đệ trình Quốc hội, theo ông Hà Hùng Cường là luật “MỀM”, được giải thích như sau:
“Theo hướng mềm dẻo. Nếu dự án luật được thông qua, có thể chấp nhận những trường hợp đang có hai quốc tịch, thậm chí ba quốc tịch, và anh được đăng ký đàng hoàng để một mặt chúng ta dễ thống kê số liệu công dân, mặt khác để thực hiện chính sách bảo hộ công dân, tránh những tranh chấp có thể xẩy ra.”
Nhưng theo dự luật quốc tịch mỗi khi công dân VN mang thêm một hay nhiều quốc tịch mới mà muốn giữ quốc tịch VN thì vẫn phải đăng ký để xác nhận mình muốn giữ quốc tịch gốc là quốc tịch VN. Dự luật còn qui định thời hạn năm năm, kể từ ngày luật có hiệu lực, đê “Việt kiều” đăng ký trở lại quốc tịch VN. Nếu đã công nhận song tịch tức là đã xác nhận dù có quốc tịch mới thì quốc tịch gốc vẫn còn; sao lại bắt người ta phải đăng ký trở lại quốc tịch gốc. Điều vớ vẩn nhất là thời hạn đăng ký năm năm.
Nếu một “Việt kiều” vào quốc tịch Mỹ khi thời hạn đăng ký hết thì làm sao. Có “được” coi là đã mất quốc tịch VN hay không hay lại phải làm đơn xin thôi quốc tịch VN. Và muốn giữ quốc tịch VN thì sao? Chắc lại phải có quy chế mới. Cứ trống đánh xuối kèn thổi ngược thế này thì “Việt kiều” chỉ còn nước vào nhà thương điên.
Nếu “được cho trở lại” quốc tịch VN thì “Việt kiều” được hưởng những quyền lợi gì? Ông Hà Hùng Cường trả lời rằng:
“Được hưởng các quyền và nghĩa vụ của công dân VN phù hợp với hoàn cảnh sống xa Tổ quốc. Đó là những quyền và nghĩa vụ nào thì lại do những đạo luật cụ thể qui định, ví dụnhư Luật bầu cử hiện hành qui định nếu anh về nước có quyền đăng ký tạm trú anh được đi bỏ phiếu, nhưng nếu anh muốn ứng cử đại biểu quốc hội thì anh phải thường trú trong nước, rồi có nhận xét của nơi cư trú, phải qua hiệp thương của mặt trận... Nghĩa là anh không thường trú được trong nước thì anh không được ứng cử”.
Trong cơ chế “Đảng cử dân bầu” thì người dân sống ở trong nước còn chả dám mó tới ứng cử huống chi Việt kiều chỉ là “khúc ruột xa ngàn dậm”.
Không cho “Việt kiều đã xin trở về quốc tịch “ VN ứng cử nếu không có địa chỉ thường trú ở VN là hợp lý nhưng không cho họ bầu cử là coi họ như công dân hạng hai. Công dân Hoa Kỳ được quyền bỏ phiếu khi sống ở nước ngoài kể cả những người có quốc tịch Mỹ do bố/mẹ là công dân Mỹ mà chưa từng sống một ngày trên đất Mỹ. (Độc giả nào ở trong trường hợp này có thể đăng ký bầu cử (register to vote bằng cách vào website: U.S Overseas Voting).
Quyền bầu cử và ứng cử thì chả mấy ai ham trừ khi đất nước có tự do dân chủ. Nhưng “Việt kiều” được trở lại quốc tịch VN có được quyền có passport VN (Hộ chiếu VN) hay không? Và nhất là nêu có thường trú ở VN thì có “được” thi hành nghĩa vụ quân sự không?
Ông Bộ trưởng Hà Hùng Cường trả lời lấp lửng rằng: “Xu hướng là bà con đã trở về VN để định cư và thường trú thì bà con sẽ được hưởng các quyền và gánh vác nghĩa vụ như mọi công dân”.
Thế thì xin trở lại quốc tịch VN để làm gì? Để “được” đóng góp xây dựng XHCN một cách thuận tiện hay sao?
Trở lại quốc tịch VN có mất quốc tịch Mỹ không?
Bây giờ xin trở lại vấn đề người công dân Mỹ nếu trở lại quốc tịch gốc hoặc nhập tịch một quốc gia khác có mất quốc tịch Mỹ không?
Điều khoản INA 349 của luật Di trú Hoa Kỳ chỉ ra rằng:
“Người có quốc tịch Hoa Kỳ do bẩm sinh hoặc nhập tịch sẽ bị mất quốc tịch Mỹ nếu xin nhập tịch một quốc gia khác do tự tay mình nộp đơn hoặc nhờ một cơ quan đại diện nộp đơn cho mình vào lúc đã đủ 18 tuổi”.
Nếu chiếu theo điêu khoản trên thì khi bạn nhập tịch quốc gia khác hoặc trở lại quốc tịch gốc thì bạn đã mất quốc tịch Mỹ nếu thủ tục nhập tịch của quốc gia này hoặc thủ tục trở về quốc tịch gốc buộc bạn phải tuyên thệ là đã từ bỏ quốc tịch Mỹ của mình. Cho nên để kết luận rằng một công dân Mỹ khi vào quốc tịch khác hay trở về quốc tịch gốc có mất quốc tịch Mỹ hay không thì Bộ Ngoại Giao Mỹ phải biết chắc chắn rằng khi nhập quốc tịch khác hoặc trở vê quốc tịch gốc thì người đó có ý định từ bỏ quốc tịch Mỹ hay không.
Kể từ ngày 16 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Mỹ có một chính sách ngầm chấp nhận song tịch một cách cởi mở hơn. Sau đây là những nguyên tắc Bộ Ngoại Giao Mỹ dùng để kết luận rằng một công dân Hoa Kỳ vẫn có ý định giữ quốc tịch Mỹ nếu:
1/ Nhập quốc tịch khác
2/ Tuyên thệ trung thành với quốc gia khác chỉ vì đó là một thủ tục thông thường của quốc gia đó.
3/ Làm việc cho chính quyền nước ngoài nếu là công việc của một viên chức thuộc câp bậc không có tính cách sách lược (non-policy-level)
Cho dù nhiều quốc gia đòi hỏi khi nhập tịch thì phải tuyên thệ từ bỏ quốc tịch cũ thì Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng cho rằng đó chỉ là thủ tục nhập tịch của quốc gia đó chứ người Mỹ khi xin nhập tịch quốc gia này không hề có ý định từ bỏ quốc tịch Mỹ.
Nhưng nếu một công dân Mỹ thi hành một trong những điều dưới đây thì chắc chắn mất quốc tịch Mỹ:
1/ Đảm nhận một chức vụ có tính chính sách (Policy- level) ở nước ngoài
2/ Can tội phản quốc đối với Hoa Kỳ; hoặc
3/ Có những hành động không nhất quán với sự bảo lưu quốc tịch Mỹ khiên người ta phải kết luận rằng đương sự có ý định từ bỏ quốc tịch Mỹ.
Điều thứ ba là “vùng xám” của luật pháp vì làm gì có tiêu chuẩn hay nguyên tắc nào để đánh giá một hành động là không nhất quán với sự bảo lưu quốc tịch Mỹ.
Đối với việc chính quyền VN cho người Mỹ gốc Việt được đăng ký trở lại quốc tịch VN thì bản thân người viết sẽ chẳng làm gì cả. Không xin trở lại quốc tịch VN mà cũng không xin thôi quốc tịch VN.
Nếu độc giả nào muốn giữ quốc tịch VN thì xin “hiến kế mọn” để bảo vệ quốc tịch Mỹ của mình.
1/ Nêu có hai passport thì khi trở lại Mỹ nên dùng passport Mỹ để khỏi lôi thôi ở cửa khẩu.
2/ Đừng bao giờ xác nhận rằng mình có ý định bỏ quốc tịch bằng lời nói hay việc làm. Nếu khi trở lại quốc tịch cũ hoặc vào quốc tịch mới mà luật lệ nước đó chỉ công nhận một quốc tịch và đòi bạn phải tuyên thệ bỏ quốc tịch cũ thì có thể bị mất quốc tịch Mỹ đấy.
Thông báo về chiếu khán di dân của tháng 6 năm 2008.
Dưới đây là thông báo của Trung Tâm Chiếu Khán Quốc Gia (National Visa Center) về ngày đáo hạn visa (cut-off date) của các đơn xin định cư tại Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình (family based immigrant) của tháng 6 năm 2008:
F1 (Con độc thân trên 21 tuổi của người có quốc tịch): 15 tháng 3 năm 2002.
F2A (Vợ/chồng và con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân): 15 tháng 7 năm 2003.
F2B (Con độc thân từ 21 tuổi trở lên của thường trú nhân): 01 tháng 8 năm 1999.
F3 (Con đã có gia đình của người có quốc tịch): 08 tháng 6 năm 2000.
F4 (Anh Chị Em của người có quốc tịch): 22 tháng 8 năm 1997.
Như vậy so với tháng 5/08 thì:
- Diện F1, lên được 1 tuần.
- Diện F2A, lên được 5 tuần.
- Diện F2B lên được 2 tháng
- F3 lên được không lên ngày nào
- Diện F4 lên được 2 tuần.