Những dấu hiệu rời xa Đảng ở Hà Nội

J. Peter Pham

Hôm nay Hoa Kỳ chuyển giao chiếc ghế chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cho Việt Nam. Đúng một tuần trước, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã dành một chuyến viếng thăm chính thức tới Tòa Bạch Ố--;c. Điều này trở nên phần nào mang tính nghi thức thường niên kể từ năm 2005, khi ông Phan Văn Khải trở thành người đứng đầu nhà nước Việt Nam đầu tiên được tiếp đón ở đó kể từ Cuộc chiến tranh Việt Nam. Mặc dù thời gian của hai sự kiện này là trùng khớp, song chúng cho thấy rằng Washington và Hà Nội đang xích lại gần nhau hơn - và rằng Việt Nam đang đóng mội vai trò lớn trên phạm vi toàn cầu. Giờ đây, có vẻ như là một thời điểm tốt để tiến tới thắt chặt hơn nữa mối quan hệ với cựu thù của chúng ta.

Viết trên tờ Wall Street Journal Asia vào cuối tháng Năm, Thượng nghị sĩ John McCain (thuộc Đảng Cộng hòa, tiểu bang Arizona) và Joseph Lieberman (không đảng phái, tiểu bang Connecticut) đã nói tới hoàn cảnh cần tranh thủ lôi kéo Việt Nam:

"Vị tổng thống kế tiếp của nước Mỹ sẽ thừa hưởng một tập hợp các liên minh và mối quan hệ hữu nghị tại Á châu hiện đã ở trong tình trạng tốt đẹp ... Những đồng minh chủ chốt của chúng ta với Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Australia chưa khi nào bền vững như lúc này; các mối quan hệ với bạn bè cũ ở Đông Nam Á như Singapore là tuyệt vời; và các mối quan hệ đối tác nhiều hứa hẹn đã được tôi luyện trong những năm gần đây với các quốc gia bè bạn như Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia.

Vị tổng thống trong nhiệm kỳ tới phải mở rộng hơn những thành tích này với một chương trình nghị sự có nhiều tham vọng được tập trung vào việc củng cố hơn nữa và làm sâu đậm thêm các mối quan hệ đi vào chiều sâu hơn. Đặt ưu tiên hàng đầu cho các đồng minh của chúng ta, và đưa các bạn bè của chúng ta vào mối quan hệ đối tác lớn hơn trong việc xử lý các vấn đề khu vực và toàn cầu, là vấn đề then chốt để đương đầu với những thách thức chung mà chúng ta phải đối mặt trong một châu Á đang thay đổi và trong một thế giới đang thay đổi. "


Bài viết trên là lời khuyên thực tế, đúng đắn cho Washington, nơi mà một số nhà lập pháp xem xét Việt Nam chỉ thông qua những lăng kính từ hồ sơ nhân quyền của nước này. Nó cũng là tin tức tốt lành cho Hà Nội, chế độ đã phải trải qua một chặng đường dài kể từ sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Trong phần lớn thời gian suốt hai thập kỷ sau khi Hoa Kỳ rút quân, Việt Nam là một nền kinh tế què cụt. Thứ hàng xuất khẩu được biết đến nhiều nhất của nó là những công dân khốn khổ, với hàng triệu người trong số họ đã phải liều mạng sống của mình để trốn thoát khỏi sự đàn áp chính trị và tình trạng đình đốn kinh tế, trên boong những con tàu rách nát mà nhiều chiếc trong số đó đã phải kết thúc chuyến hải hành ở dưới đáy Biển Nam Trung Hoa. Thế nhưng kể từ khi chính phủ từ bỏ con đường tập thế hóa để phát triển những cơ cấu kinh tế thị trường vào năm 1986, sự chuyển đổi thật là ấn tượng. Tình hình đã được cải thiện đáng kể tới mức nhiều người trong số "thuyền nhân," và thậm chí thêm cả con cháu họ đã trở về.

Bên bờ vực của nạn đói khi Liên Xô chấm dứt các khoản trợ cấp của nó, Việt Nam ngày nay là nhà xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nhà sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới và là nhà xuất khẩu cà phê hạt robusta lớn nhất thế giới. Trong một thập kỷ qua, mức tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt 7,5%, được lôi cuốn bởi các nhà sản xuất với nhiều thứ hạng từ những hãng dệt may nhỏ bé cho tới nhà máy sản xuất chất bán dẫn mới mở trị giá 1 tỉ Mỹ kim của hãng Intel. Và không giống như những người Trung Quốc láng giềng, người Việt Nam đã thực hiện một công việc tương đối được tin cậy về xoá đói giảm nghèo và duy trì mối gắn kết xã hội.

Ví dụ, trong hệ số Gini * của Việt Nam, một mức độ bất bình đẳng giàu nghèo, vẫn giữ vững trong khoảng chỉ số 37, trong khi điểm số hiện thời của Trung Quốc đã vượt lên, cao hơn 10 điểm. Giải thích cho điều này dường như là do sự phát triển liên tục của tầng lớp trung lưu của Việt Nam, kết hợp với một mức giảm thiểu tỉ lệ người nghèo từ hơn 75% vào năm 1990 tới 14% vào năm nay - một thành tích mà Ngân hàng Thế giới gọi là "một trong những phong trào vận động chống lại đói nghèo thành công nhất từ xưa tới nay." Khoảng 90% số hộ gia đình hiện nay đã có điện; hầu hết trẻ em được đi học ít nhất là tới cấp ba, với khoảng hai phần ba là hoàn tất; một chương trình bảo hiểm thất nghiệp quốc gia được dự tính đưa ra vào năm tới.

Trên một cấp độ vĩ mô, dự trữ ngoại hối của nước này thực sự đã tăng lên gấp đôi qua mỗi năm. Có chút ít nghi ngại rằng chính phủ sẽ đạt được mục tiêu của mình đưa Việt Nam trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình vào năm 2010 và có thể thành công trong việc đưa nó trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào một thập kỷ sau đó. Và không giống với hầu hết các quốc gia công nghiệp khác, Việt Nam không ở trong tình cảnh thiếu hụt năng lượng: nước này chỉ tiêu thụ 1% nhu cầu dầu lửa trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong khi sản xuất ra 4,5% lượng dầu cung cấp trong chín mỏ dầu ngoài khơi (một mỏ thứ mười sẽ bắt đầu hoạt động trong vài tháng tới).

Theo cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, trong 600 triệu barrel dự trữ được xác thực mà Việt Nam luôn tin vào, có vẻ như được tăng đáng kể trong những năm tới, kể từ khi những vùng biển nước này chưa được thăm dò mấy. Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PetroViet) đã bắt đầu sử dụng những khoản tiền lời để đa dạng hóa vị thế của mình bằng cách mua ít nhiều cổ phần tại các nhà cung cấp đang nổi lên.

Gần đây hơn, Việt Nam đã bắt đầu theo đuổi một lối ứng xử ngoại giao tương xứng với sức nặng kinh tế đang nẩy nở phát triển của mình. Trong bản điều trần trước Thượng viện đầu năm nay, Trợ lý Ngoại trưởng về Các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Christopher Hill đã diễn tả Việt Nam như là "ảnh hưởng ngày càng tăng trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC)."

Năm 2006, Hà Nội đăng cai hội nghị thượng đỉnh APEC. Đầu năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Việt Nam còn trở nên tích cực hơn trong việc tham dự vào một phạm vi rộng lớn các vấn đề của Liên hiệp quốc, một số lĩnh vực hoàn toàn xa lạ với những mối quan tâm truyền thống của nó. Đại sứ Việt Nam tại Liên hiệp quốc Lê Lương Minh còn chủ trì việc phê chuẩn của Hội đồng Bảo an thành lập ủy ban giám sát ở Sierra Leone.

Vào tháng Ba, Hà Nội đã phá vỡ khuynh hướng kiêng khem truyền thống rất quan trọng của mình trong chính sách đối ngoại là không can thiệp vào chủ quyền của quốc gia thứ ba bằng việc biểu quyết cho một hành động trừng phạt mới chống lại Iran. Một tháng sau, trong một sự chuyển hướng mới nữa từ chính sách không can thiệp trong quá khứ của Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã đề nghị tăng cường ủng hộ về tài chính và hậu cần cho các lực lượng gìn giữ hòa bình tại khu vực Darfur và Somali trước đây.

Thủ tướng Dũng đã khẳng định rằng Việt Nam đã được chuẩn bị để đảm đương vị trí của mình trong lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Và Việt Nam đã không chỉ tham gia vào hội nghị trợ giúp quốc tế cho Iraq được tổ chức tại Stockholm cuối tháng Năm, các đại diện của nó tại Liên hiệp quốc còn ủng hộ bản tuyên bố của Hội đồng Bảo an do Hoa Kỳ soạn thảo về tình hình tại đó trong suốt thời gian tranh luận vào tháng trước.

Một năm trước, tôi đã biện luận rằng vai trò mới nổi lên của Việt Nam đặt ra với Hoa Kỳ "một cơ hội duy nhất không phải chỉ xúc tiến những ý tưởng của chúng ta về việc giải phóng các dân tộc và các thị trường trong một xã hội đang cởi mở hơn, mà còn thúc đẩy các lợi ích quốc gia của chúng ta trong khu vực then chốt có ý nghĩa địa chiến lược." Khu vực tư nhân đã và đang đi đầu: vào năm 2006, thương mại song phương Hoa Kỳ-Việt Nam đạt 9,6 tỉ Mỹ kim và hơn bảy mươi lăm ngàn người Mỹ đã tới thăm viếng quốc gia Đông Nam Á này. Có những tín hiệu đáng khích lệ rằng một số nhân vật trong chính phủ, đặc biệt tại Lầu Năm Góc, đang bắt đầu nắm lấy thế chủ động có ý nghĩa chiến lược.

Vào tháng Sáu năm 2005, Việt Nam đã ký kết một bản thỏa thuận cho phép nó lần đầu tiên tham gia vào các chương trình Giáo dục và Huấn luyện Quân sự Quốc tế của Mỹ, rồi tiếp đó là tiếp nhận các tài trợ cho các khóa học Anh ngữ cho các sĩ quan quân đội Việt Nam. Vào tháng Sáu năm 2007, các quan sát viên Việt Nam lần đầu tiên đã tham dự một phần vào các cuộc tập trận hải quân được tổ chức bởi Hải quân Hoa Kỳ cùng với sáu quốc gia Đông Nam Á (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan). Năm ngoái, Việt Nam đã tiếp đón năm chiến hạm của Hải quân Hoa Kỳ, trong đó có hai tàu chiến từ Hạm đội Bảy, là lần đầu tiên các chiến hạm vũ trang của Mỹ cập cảng nước này trong suốt thời gian hòa bình. Thật thú vị là khi nhận lệnh trở về nhà vào tháng Mười một, hai trong số các chiến hạm đã tìm nơi tiếp nhiên liệu và trú ẩn trước cơn bão đang tới tại bến Cảng Victoria của Hong Kong, song chúng đã bị các nhà chức trách Trung Quốc từ chối.

Sau cuộc hội kiến với Tổng thống Bush vào tuần trước, Thủ tướng Dũng nói rằng chính phủ của ông "đã ghi nhận với niềm phấn khởi lớn lao về sự phát triển nhanh chóng trong mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ theo hướng một quan hệ đối tác thân thiện và mang tính xây dựng, trong sự hợp tác đa phương dựa trên cơ sở của sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau và trong lợi ích tương hỗ." Không quan trọng là ai sẽ thắng trong cuộc tranh cử tổng thống vào tháng Mười một tới, chính phủ kế tiếp sẽ cần phải xây dựng trên nền tảng này, củng cố những mối gắn kết với một quốc gia từng là một kẻ thù lì lợm trong cuộc chiến, song trong hòa bình nó lại đã chứng tỏ là một diễn viên ngày càng đóng vai trò địa chính trị quan trọng.

J.Peter Phạm là Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế và Sự vụ Công Nelson thuộc trường Đại học James Madison và là một thành viên lâu năm của Quỹ Hỗ trợ cho các Chế độ Dân chủ.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

* Gini: chỉ số mang tên người phát kiến ra nó - Corrado Gini (1884-1965), một nhà thống kê học, nhân khẩu học, xã hội học người Ý, đã phát triển hệ số Gini để so sánh mức độ bất bình đẳng về thu nhập trong một xã hội. Ông đồng thời cũng là một nhà tư tưởng-lý thuyết gia hàng đầu về chủ nghĩa Phát xít, tác giả của cuốn The Scientific Basis of Fascism xuất bản năm 1927. (Ba Sàm chú thích theo answers.com)