CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI NỀN KINH TẾ KHỐ RÁCH

Mai Vĩnh Thăng


Mậu dịch 14.42 tỷ Mỹ kim thâm hụt

Ngoại tệ dự trữ 20.5 tỷ Mỹ kim

Lạm phát 30%

Chứng khoán Mất giá 60% - 65%


Thứ Sáu tuần qua sở Thống Kê Cộng Sản Việt Nam (CSVN) chính thức tuyên bố ngân sách mậu dịch đã thâm hụt 14.42 tỷ Mỹ kim chỉ trong 5 tháng đầu năm 2008, và có thể lên đến 20 tỷ Mỹ kim cho đến cuối năm. Giá trị nhập cảng trong thời điểm nầy 37.82 tỷ Mỹ kim trong khi xuất cảng 23.4 tỷ Mỹ kim. Nguyên nhân chính làm cho mức thâm hụt vọt nhanh là vì giá dầu và khí đốt, nhập cảng vật liệu xây cất và phân bón.

Mậu dịch


Mậu dịch thâm thủng là sự khác biệt giữa số ngoại tệ Việt Nam thu vào khi xuất cảng và chi ra khi nhập cảng. Đơn giản, lấy tổng số giá trị hàng hàng hóa xuất cảng trừ cho tổng số nhập cảng, nếu xuất cảng lớn hơn nhập cảng là dấu hiệu kinh tế lành mạnh. Ngược lại, hiện tại cán cân mậu dịch Việt Nam bị thâm hụt 14.42 tỷ Mỹ kim so với 11 tỷ trong năm qua. Mậu dịch thâm thủng là việc bình thường không thể tránh, tùy theo khả năng xuất cảng và nhu cầu nhập cảng. Tuy niên rất nguy hiểm cho Việt Nam là vì ngân sách dự trữ ngoại tệ cho hối đoái chỉ còn 20.5 tỷ Mỹ kim gồm cả vàng, cỗ phần và vốn đầu tư của quốc gia có thể chuyển ra tiền mặt nếu cần. Khi ngân hàng nhà nước thanh toán số tiền thâm hụt trên, ngân sách dự trữ sẽ còn lại chừng 6.10 tỷ Mỹ kim. CSVN sẽ đi đến phá sản nếu không được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ứng trước, một hình thức tạm cho Việt Nam vay nợ mà họ đã từng áp dụng trong quá khứ.

Mậu dịch Việt Nam đang trên đà cháy túi trừ khi Đồng Việt Nam phá giá để có thể cạnh tranh xuất cảng với các quốc gia trong vùng. Tuy nhiên khi đồng Việt Nam phá giá có thể gây tốn kém cho giới nhập cảng và kỷ nghệ trong nước. Vì Đồng Việt Nam mất giá so với ngoại tệ khi nhập cảng nguyên liệu, vì thế giá hàng hóa thành phẩm sẽ cao và lạm phát cũng sẽ vì đó mà tăng thêm.

Ngoại tệ dự trữ


Còn gọi là dự trữ hối đoái, ngân hàng trung ương Việt Nam dành riêng dự trữ ngoại tệ, đồng Mỹ, Nhật, Âu, Úc, vàng khối hay công khố phiếu ngoại quốc mà Việt Nam mua . Tổng số ngoại tệ, vàng và công khố phiếu ngoại quốc trị giá 20.5% tỷ Mỹ kim hiện nay. Số ngoại tệ này dùng để đổi tiền cho xuất nhập cảng, đầu tư và nhất là hỗ trợ và làm quân bình số nợ quốc gia cùng việc phát hành tiền nội địa. CSVN trữ Mỹ kim nhiều hơn các loại ngoại tệ khác là ví áp dụng chính sách hối đoái dùng Mỹ kim làm căn bản để từ đó đổi sang các ngoại tệ khác.

Lạm phát


Lạm phát hiện nay là 30% cao hơn những năm vừa qua, tăng 21% từ tháng 3/07 và 18% kể từ tháng 12/07. CSVN cố gắng nâng cao mức tăng trưởng kinh tế đến thái quá, chẳng những không mang lại kết quả mong muốn mà còn có thể gây nguy hại cho nền kinh tế. Lạm phát Việt Nam có thể còn tăng cao hơn nữa khi đồng Việt Nam phá giá. Lịch sử kinh tế các quốc gia đang phát triển vùng Á Châu 25 năm qua, hiếm khi một quốc gia có thể phục hồi trong tình trang lạm phát cao mà không phải trãi qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế.


Ngày xưa miền Nam trù phú với đất rộng người thưa nên không thiếu ăn. Hiện nay dân số Sài Gòn độ 10 triệu, với lạm phát 30% thực phẩm lên giá làm cho dân chúng phải lo tích trữ thức ăn. Sở dĩ làm như vậy là vì ảnh hưởng của lạm phát và thường xuyên khan hiếm nhu yếu phẩm. Từ khi đồng Việt Nam mất giá, mất tin tưởng ở chính quyền nên dân chúng trữ vàng, là đơn vị tiền tệ vững chắc và an toàn. Thái độ nầy cho thấy nhà cầm quyền CSVN không có khả năng ổn định kinh tế. Càng mất tin tưởng ở chính quyền, giá vàng càng tăng nhanh. Mặc dù giá vàng tăng cao nhưng số lượng vàng nhập cảng lại càng nhiều hơn trước kia. Theo thống kê Ngân Hàng Thế Giới, chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 2008, Việt Nam chi ra 1.2 tỷ Mỹ kim để nhập cảng 43 tấn vàng.

Chứng khoán


Thị trường chứng khoán là biểu tượng của nền kinh tế.

Trong quá khứ, thị trường chứng khoán đã nhiều lần tiên đoán chính xác về tình trạng suy thoái kinh tế thế giới. Cộng sản Việt Nam cũng không ngoại lệ, sự vững mạnh hay sụp đỗ thị trường chứng khoán được xem như biểu tượng thịnh suy của nền kinh tế Việt Nam. Thị trường chứng khoán thường thay đổi đột ngột và đôi khi còn gây ra ngộ nhận. Tuy nhiên không vì thế mà CSVN lại không lưu tâm đến sự liên quan giữa thị trường chứng khoán và kinh tế. Thay đổi giá cả trên thị trường chứng khoán, cũng là sự thay đổi giá trị tăng trưởng thực sự của nền kinh tế quốc nội. Vì thế mỗi khi thị trường chứng khoán bị tụt giá trầm trọng, điển hình như hiện nay, cũng chính là lúc người ta lo âu là vì tình trạng suy thoái kinh tế đã cận kề.

Thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập năm 2005 với số vốn chưa đầy 1 tỷ Mỹ kim. Thời điểm cao nhất chứng khoán Sài Gòn và Hà Nội vào tháng 3/07 trị giá 29 tỷ Mỹ kim, hơn 40% tổng sản lượng quốc nội. Tuy nhiên, trước tháng 3/07 thị trường tụt giá 65% và giữ ở mức trung bình 60% cho đến nay. Vì cỗ phần mất giá nên giới đầu tư trong nước chán nản, ngoại quốc không thể bỏ chạy vì thị trường chậm, nhiều người bán nhưng ít người mua.

Cho đến cuối tháng 3/08, biên độ 1% đặt trên hối suất cố định với Mỹ kim (Crawling peg) khi trao đổi ngoại tệ và mua bán cỗ phần. Trong một cố gắng ngăn chận thị trường chứng khoán tụt dốc, kể từ tháng 4/08 CSVN cho tăng biên độ lên 2% trong khi lạm phát 30% thật không đáng kể, nhất là đối với kỹ nghệ xuất cảng. Chuyên viên phân tích tài chánh của Merrill Lynch, Deutsche Bank và Morgan Stanley đã cảnh cáo trừ khi CSVN tăng lãi suất, phá giá đồng Việt Nam, đóng cửa các ngân hàng vỡ nợ không sinh lợi. Về phía cầm quyền, cần phải cắt giảm ngân sách chi tiêu, nếu không sẽ khó tránh khỏi khủng hoảng tài chánh.

Tồi tệ nhất là nếu là nếu CSVN không làm gì cả, trường hợp nầy họ sẽ không thể bảo vệ an toàn cho hối suất giữa đồng Việt Nam và Mỹ kim. Chừng ấy sẽ không còn ngoại tệ dự trữ để điều hành hối đoái và sẽ đi đến tình trạng khủng hoảng tài chánh như Thái Lan năm 1997. Ngân sách dự trữ ngoại tệ hối đoái Thái Lan vào 1997 chỉ còn 22 tỷ Mỹ kim vì mậu dịch thâm thủng như Việt Nam hiện nay.

Vì sao giá trị cỗ phần và sinh hoạt kinh tế lên xuống cùng lúc ?


Lý thứ nhất là giá trị kinh tế của vốn đầu tư, cùng hai yếu tố cung và cầu. Hiện tại chúng ta đang chứng kiến giá trị chỉ số chứng khoán Việt Nam đang tụt dốc trầm trọng chỉ còn 60% so với giá mua lúc phát hành ban đầu. Kinh nghiệm cho thấy đây là thái độ bi quan của giới đầu tư thị trường chứng khoán Việt Nam. Chính vì thái độ bi quan nên người mua vào thì ít nhưng bán ra nhiều. Tình trạng nầy sẽ đưa thị trường chứng khoán đến mất quân bình, cung lớn hơn cầu, từ đó cỗ phần bị mất giá. Lãi suất vay nợ ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng không kém. Cho dù với lãi suất thấp, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và các dịch vụ trong thời gian này cũng sẽ yếu dần, nhu cầu sản xuất chậm lại và sẽ đưa đến tình trạng thất nghiệp cao hơn.

Ngoài ra còn 2 lý do phụ liên quan đến giá trị cỗ phần và vận mệnh kinh tế Việt Nam. Thứ nhất, cỗ phần là một phần tài sản, sự thịnh vượng của gia đình. Cỗ phần mất giá sẽ gây thiệt hại về tài chánh cho gia đình, từ đó việc mua sắm sẽ giảm. Thất nghiệp gia tăng, cỗ phần tụt giá sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất. Thứ hai, cỗ phần mất giá có thể là ảnh hưởng của kế hoạch kinh tế dài hạn, sai lầm và tồi tàn của bọn cầm quyền thất học. Những lý do trên cho thấy mức sản xuất và cung cấp hàng hóa tương lai của Việt Nam sẽ chậm lại không như bọn CSVN tiên đoán, nhất là những con số mang màu sắc chính trị lòe loẹt do sở Thống Kê cung cấp.

Sự liên quan thăng trầm giữa thị trường chứng khoán và kinh tế không phải nhà cầm quyền Việt Nam không biết vì họ đã được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cố vấn. Nhưng cho dù biết trước, họ cũng không thể thay đổi được vận mệnh đất nước vì sự ngu dốt bất tài cố hữu của họ.

Kết luận


Trên thị trường kinh tế tự do, bất kỳ chính phủ nào cũng có thể bị cưỡng bách phá giá đồng tiền cho dù ngoài ý muốn khi mậu dịch thâm thủng trầm trọng. Kinh tế CSVN hiện nay trong tình trạng nguy cấp đó, thâm hụt 14.42 tỷ Mỹ kim trong 4 tháng đầu năm, tương đương với 20% tổng sản lượng quốc nội 72 tỷ Mỹ kim. Để cứu vãn nền kinh tế, nhà cầm quyền CSVN có thể phá giá đồng Việt Nam, trì hoãn tăng lương và nhất là giảm ngân sách chi tiêu. Trường hợp tệ nhất CSVN không có biện pháp cứu nguy kinh tế, Việt Nam có thể bị cưỡng bách phá giá đồng Việt Nam. Biện pháp hữu hiệu nhất để phá giá đồng Việt Nam là cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam sẽ mua Mỹ kim qua hối đoái cho đến khi ngân sách dự trữ hối đoái cạn hết ngoại tệ. Chừng ấy CSVN sẽ không còn khả năng nhập cảng, kể cả thức ăn và nhu yếu phẩm cần thiết. Đến đây CSVN sẽ không còn cách chọn lựa nào khác hơn là phá giá đồng Việt Nam và mua lại số ngoại tệ vừa bán ra. Dĩ nhiên khi mua lại sẽ phải trả giá cao hơn vì đồng tiền đã bị phá giá.


Cộng đồng quốc tế rất quan tâm đến việc khủng hoãng tài chánh Việt Nam có thể xảy ra trong vòng 12 tháng tới. Việc nầy không những làm trì hoãn phát triển kinh tế Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến các quốc gia trong vùng. CSVN vội dập tắt dư luận bằng cách tuyên bố họ có đủ ngoại tệ dự trữ để bảo vệ đồng nội địa khỏi bị phá giá. Thực ra với ngân sách dự trữ 20.5 tỷ Mỹ kim sẽ không là bao so với thâm hụt mậu dịch và nợ nần tứ phía. Cách duy nhất gây lại uy tín là áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chận tận gốc những sai lầm: kinh tế tăng trưởng thái hóa và lạm phát quá độ.