Tự do tín ngưỡng
Minh Võ
Bài này được viết nhân đại lễ Vesak sắp đựoc tổ chức trong nước, mà có người coi như một bằng chứng về “tự do tôn giáo”.
Để mở đầu, xin nêu vài câu hỏi thuộc loại “4 món ăn chơi”.
– Con người sinh ra có được tự do không? Hay nhất cử nhất động, “cái ăn cái uống ...đều do tiền định”?
– Với những Sấm Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Nostradamus và kỳ tích của các nhà bói toán, chiêm tinh gia trứ danh, các bậc tiên tri, thuyết định mệnh có cơ sở không?
– Nếu tin ở thuyết định mệnh thì nền luân lý đạo đức của nhân loại có giá trị gì? Các toà án có lý do hiện hữu không?
Đó chỉ là vài câu hỏi tổng quát trong số hàng tá câu hỏi loại đó. Vì đây không phải là một bài nghiên cứu hay tham luận nên chúng tôi sẽ không đưa ra câu trả lời. Vả chăng, nếu tìm câu trả lời chính xác, sẽ mở ra một loạt các cuộc tranh cãi vô cùng tận. Xin được phép đi thẳng vào đề.
Trước hết, chúng tôi không tin ở thuyết định mệnh. Tuy nhiên chúng tôi không phủ nhận là có một số nhân vật đặc biệt được Tạo Hoá chia sẻ khả năng biết trước một vài việc trước khi chúng xảy ra.
Tôi tin con người sinh ra được tự do và có quyền được hưởng tự do. Ngay cả Thượng Đế cũng tôn trọng sự tư do đó của con người. Bằng chứng là có nhiều người phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế (hay Tạo Hoá), khước từ sự can thiệp của Thượng Đế, nhất định không tuân theo những “giới răn” của Thượng Đế. Truyện bà Evà ăn trái cấm trong Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo là một ví dụ.
Nhưng trong thực tế ta không thể phủ nhận là sự tự do của con người có những giới hạn nhất định. Giới hạn rõ ràng nhất là nếu ta được tự do, thì tha nhân cũng phải được tự do. Vậy giới hạn tự do của ta còn là sự tư do của người khác (tha nhân).
Sự tự do của con người còn bị giới hạn bởi những yếu tố vật chất, hoàn cảnh xã hội, sự giáo dục và phong tụ tập quán vân vân.
Về tín ngưỡng , tôi quan niệm đó là lòng tin của con người vào một đấng linh thiêng, giác quan không cảm nhận được. Trí tuệ cũng không nhận thức được, vì không giải thích được một cách khoa học bản chất của đấng ấy. Nhưng tin là cứ tin, do cái tâm của ta. Tâm đây là phần tâm linh trong mỗi con người. Tôi rất tâm đắc câu nói thời danh của Blaise Pascal mà phần sau đã thành châm ngôn, ngạn ngữ của mọi người không phân biệt tôn giáo: “Chính con tim (hay cái Tâm) cảm nhận được Thượng Đế, chứ không phải lý trí. Con tim có những lý lẽ mà lý trí không biết.” (1)
Tin có một đấng linh thiêng thì cũng tin ở một cõi linh thiêng, là nơi đấng linh thiêng ngự trị.
Nơi chốn linh thiêng ấy thường được gọi là Niết Bàn, Thiên Đàng, Cõi Vĩnh Hàng, Miền Cực Lạc... tức nơi không còn sinh lão bệnh tử, không còn phải tái sinh hay đầu thai vào một kiếp khác.
Phải tu đắc đạo, phải ngộ, hay phải sống theo giới răn của đạo mình theo thì mới được về nơi vĩnh phúc ấy.
Một niềm tin như vậy bao hàm một niềm tin khác là con người có hai phần hồn, xác. Khi chết thì xác về với cát bụi, vì từ cát bụi mà ra. Còn hồn thì về với đấng linh thiêng đã tác tạo ra mình theo hình ảnh của Người. Nói cách khác đã tin có đấng linh thiêng và cõi thiêng liêng, thì cũng tin có linh hồn bất tử. Khái niệm đó thu gọn trong 4 từ sinh ký tử quy (Sống gửi, thác về).
Khi để thiên đàng liền bên cạnh Niết Bàn là tôi đã tự ý hiểu rằng Niết Bàn chính là cõi linh thiêng, là cõi vĩnh hằng, là miền cực lạc, không còn sinh lão bệnh tử. Nhưng chắc sẽ có nhiều Phật Tử không thích lối pha trộn niềm tin như vậy. Vì Đức Phật không bao giờ nói đến một đấng thiêng liêng nào. Và Phật tử luôn coi Ngài chính là Đấng Thế Tôn. Mà chẳng phải riêng Ngài. Tất cả mọi người nếu tu đắc đạo đều có thể thành Phật.
Nhưng theo lý luận của một kẻ ngoại đạo như tôi thì nếu đã để cả một đời người hay để nhiều kiếp tu luyện để thành Phật, chẳng lẽ để rồi một ngày kia sẽ biến thành hư vô, như cái vũ trụ bao la vĩ đại này sau 14 tỷ năm cũng sẽ thành hư vô? Cho nên tôi vẫn nghĩ Niết Bàn phải là cõi Vĩnh Hằng, nơi đó nếu không có đấng Tạo Hoá chăng nữa, thì cũng luôn luôn là một cõi linh thiêng. Mắt trần không thấy được. Nhưng không phải vì không thấy, không cảm được mà không có thực. Phải chăng một số đông Phật Tử cũng cùng quan điểm với tôi, khi Phân Ưu với một gia đình Phật Tử có người quá cố thường chúc vong linh người ấy sớm về cõi Vĩnh Hằng? Đã là vĩnh hằng hay vĩnh cửu thì đó phải là cõi không còn thời gian. Và như vậy cũng phi không gian.
Trên đây chỉ là quan điểm cá nhân, không dựa vào văn bản nào của Phật học. Trong bài Tản Mạn Về Chữ Giời trong tiếng Việt (đã đăng trên DCVOnline hồi đầu năm 2008) chúng tôi đã tưởng tượng ra một cõi trời riêng mà tôi gọi là tầng trời thứ 9, một thế giới phi thời gian và không gian.
Sau nhận định khái quát về tự do và về tín ngữơng riêng biệt, hãy xét vấn đề tự do tín ngưỡng.
Một ví dụ cụ thể gần nhất. Tôi là tín đồ Công Giáo. Nhưng tôi đã không tự do chọn tín ngưỡng của tôi. Và dám chắc phần nhiều tín đồ các tôn giáo khác cũng thế. Chúng ta sinh ra trong gia đình theo tôn giáo nào thì thường chúng ta cũng theo tôn giáo đó. Như vậy không phải ai cũng hoàn toàn tự do để theo một tôn giáo.
Nhưng khi trưởng thành ai cũng có quyền xét lại lòng tin, đức tin của mình. Không thiếu người khi lớn lên đã thực thi sự tự do tín ngưỡng của mình để chọn một tôn giáo khác. Gần đây sự kiện nhiều nhân vật quan trọng trong chính trường Việt Nam cải giáo theo Công Giáo đã được ghi nhận. Ví dụ cựu hoàng Bảo Đại, cựu thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, cựu bộ trưởng Ngô Khắc Tỉnh, thi sĩ Bàng Bá Lân, bác sĩ Phạm Đăng Sung, một lý thuyết gia của Đại Việt Quốc Dân Đảng, nhà thơ Nguyên Sa, tức giáo sư Trần Bích Lan, cựu tổng giám đốc Trung Ương Tình Báo Nguyễn Khắc Bình. Đó là chưa kể nhiếp ảnh gia nổi tiếng Nguyễn Ngọc Hạnh, nhạc sĩ Vũ Thành An, nhà văn kiêm ký giả Duyên Anh Vũ Mộng Long v.v...
Những ai sống ở Hà Nội thời gian 1952 có lẽ còn nhớ trường hợp cải giáo đột ngột của gia đình ông Phạm Xuân Độ, giám đốc học chính Bắc Việt. Ông có hai người con trai. Người anh vì thất tình với một cô Tuyết mà phát điên. Người em tên Phạm Xuân Vị, đẹp trai, con nhà giầu, học giỏi (đang làm trưởng lớp đệ nhị Chu Văn An). Anh Vị yêu thứ nữ của ông hiệu trưởng trường này. Nhưng đó là mối tình tuyệt vọng, vì bị con ông hiệu trưởng Công Giáo cự tuyệt. Thế là đùng một cái cả trường rúng động vì tin trưởng lớp đệ nhất tự tử. Chỉ một thời gian vắn sau đó, cả gia đình ông Độ “theo đạo”.
Nêu lên trường hợp này để cho thấy một ví dụ về trường hợp và lý do cải giáo có thể rất khác nhau của từng người.
Vừa mới đây trường hợp cải giáo của cựu lãnh tụ Cộng Sản Liên Xô Michael Gorbachev và nhà báo Ý nổi tiếng Magdi Allam đã kéo chú ý của dư luận thế giới.
Magdi Allam nguyên là một tín đồ Hồi Giáo nhưng đã không sợ giới luật khắt khe tử hình dành cho những người bỏ đạo để cải sang Công giáo.
Gorbachev cùng với bà vợ đã đến qùy gối cầu nguyện trước tượng Thánh Phan Xi Cô thành Assise ở Ý để cám ơn vị thánh của dân nghèo này, vì, theo lời ông kể, nhờ ngài mà ông đã được tiếp nhận Đức Tin Công giáo.
Nhắc lại trường hợp một lãnh tụ Cộng Sản Nga, xứ sở của Chính Thống giáo, không thể không liên tưởng đến trường hợp của một cán bộ CS cao cấp Việt Nam, một xứ sở của Phật Giáo. Ông Hoàng Minh Chính, trước khi lìa đời cũng đã ngỏ ý được chết như một Phật tử. Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã đặt pháp danh cho ông là Chính Tâm và cử thượng toạ Thích Không Tánh ra Hà Nội cử hành tang lễ cho ông theo nghi thức Phật Giáo. (2)
Hoàng Minh Chính là một trong những người chống chính quyền Cộng Sản quyết liệt nhất, và đã bị bỏ tù, hành hạ nhiều nhất. Những người khác cũng chống và đã tuyên xưng đức tin của mình nơi Đức Phật có thể được ghi nhận trong số đó có các ông Nguyễn Thanh Giang, chuyên viên kỹ thuật, Hoàng Tiến, nhà văn, Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn và cả Dương Thu Hưong... mỗi người thờ Phật một cách. Ở trong lòng chế độ CS vô thần, từng theo Cộng Sản, để rồi một ngày nào đó vỗ ngực nói tôi tin Phật, tin Chúa, hành động ấy, thái độ ấy tự nó đã là một hành động phản kháng, chống đối rồi.
Hãy trở lại với trường hợp của Agdi Allam. Ông là một tín đồ Hồi Giáo đã để nhiều năm nghiên cứu về tôn giáo, rồi sau cùng quyết định cải đạo sang Công Giáo. Điều đáng chú ý là ông đã nhất định vận động để xin giáo hoàng Benedict XVI đích thân làm phép “rửa tội”. Và giáo hoàng đã nhận lời. Ta đã biết đạo Hồi coi tội bỏ đạo theo “tà đạo” là tội chết. Nhiều người Hồi Giáo đã bị giết chỉ vì bỏ đạo. Allam đã chấp nhận nguy hiểm đó. Giáo hoàng khi nhận “rửa tội” cho Allam chắc chắn ông cũng muốn gửi một thông điệp cho các nhà lãnh đạo Hồi Giáo.
Thông điệp này không phải là một thách thức với luật cấm bỏ đạo của Hồi Giáo, mà có lẽ chính là lời mời gọi đối thoại ôn tồn. Đối thoại để duy trì và cổ võ cho tự do tín ngưỡng. Mà quả thực đương kim giáo hoàng, cũng như cố giáo hoàng John Paul II đã và đang cố gắng tìm cách đối thoại với các tôn giáo khác, kể cả Hồi Giáo.
Khi nêu lên hai trường hợp cải đạo sang Công giáo có tính cách quốc tế nêu trên, chúng tôi chỉ có ý đưa ra những ví dụ về phía Công giáo là đạo tôi theo. Trong khi đó tôi vẫn đinh ninh rằng các đạo khác cũng có rất nhiều trường hợp cải giáo tương tự. Ngay ở Ý là quê hương thứ hai của Allam cũng không thiếu người Công Giáo cải đạo sang Hồi Giáo..
Dĩ nhiên nếu phải kể những nhân vật cải giáo theo Phật Giáo thì con số cũng chẳng kém. Nhưng chúng tôi không có danh sách để nêu ra đây. Vả lại sẽ quá dài dòng đối với một bài quan điểm. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài trường hợp điển hình vừa nêu trên về các ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Nguyễn Huy Thiệp v.v...
Sau khi vắn tắt đôi lời về sự tự do trong việc chọn niềm tin, thiết tưởng cũng nên thêm vài lời nói lên quan điểm riêng của cá nhân người viết về tín ngưỡng nói chung.
Theo chúng tôi hiểu thì tin khác với hiểu biết. Tin là do tâm. Biết là nhờ trí. Biết là đối tượng của khoa học chính xác. Còn tin hoàn toàn tùy theo lòng mình. Có nhiều cái cứ lấy trí hiểu biết mà phân tích thì chẳng đáng tin, vì nó vô lý, thậm chí ngớ ngẩn. Nhưng tin là cứ tin.
Ví dụ việc Thượng Đế tạo lập trời đất, vũ trụ và loài người trong 6 ngày rồi nghỉ ngày thứ bảy. Thế mà cũng có hàng triệu, hàng tỷ người tin. Và đặc biệt là sự tin tưởng vào điểu “ngớ ngẩn” ấy ngày nay đã trở thành nếp sống ngàn năm của cả loài người không phân biệt tôn giáo: Tuần lễ có 7 ngày, trong đó ngày chủ nhật (hay Chúa Nhật) là ngày nghỉ có ăn lương.
Hay một ví dụ khác: Một hài nhi con một thợ mộc nghèo khó do một phụ nữ “đồng trinh” sinh ra trong hang đá, lúc chết thì trần truồng trên thập giá, hài nhi đó lại được tin là con Thiên Chúa, đồng thời cũng chính là Thiên Chúa, chúa tể vạn vật. Vị Chúa Tể vạn vật quyền năng như thế nhưng lại không tự cứu được mình để xuống khỏi thập giá, như lời thách thức của một tội nhân cùng bị treo. Vậy mà hàng tỷ người cũng tin ông ấy là Chúa thật. Đến nỗi nhân loại ngày nay lấy năm sinh của ông ấy làm trung tâm điểm lịch sử: Trước Công Nguyên (BC=Before Christ) Sau Công Nguyên (A.D.=Anno Domini= năm của Chúa).
Người ta cứ ca ngợi văn minh La–Hy và cho rằng văn minh Ki Tô Giáo chỉ đi sau. Nhưng chẳng thấy lịch nào lấy Socrate (chẳng hạn) làm trung tâm cả.
Vì thế nếu cứ phải hợp lý, phải chứng minh được bằng khoa học thực nghiệm, thì không còn phải là tín ngưỡng nữa.
Những điều mà khoa học coi là vô lý, là ngớ ngẩn ấy được các tôn giáo liệt vào những “mầu nhiệm” của đạo. (3)
Tôi không am hiểu nhiều về Phật Giáo hay Ấn Giáo. Nhưng theo những gì học được thì thuyết luân hồi của hai tôn giáo này cũng là mầu nhiệm, khoa học thực nghiệm không thể chứng minh được. Tái sinh là gì? đầu thai là gì? Kiếp trước kiếp sau làm sao chứng nghiệm được? (Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa giời mà reo) Rồi linh hồn có bất tử không? Nếu bất tử, thì sau khi chết linh hồn về đâu? Sinh ký tử quy có nghĩa gì? Có phải hai đạo Phật và Ấn Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo đều tin ở linh hồn bất tử? Và tin ở một thế giới khác, hay thế giới sau, một thế giói vô hình, ngoài cái thế giới hữu hình này?
Riêng về Phật Giáo, Đức Phật có bất tử không? Nều Ngài cũng sẽ có lúc bị hủy diệt, thì tu để thành Phật có mục đích gì? Niết bàn là nơi những người tu đắc đạo nhằm đi tới, có phải là một thứ thiên đàng tương tư như Thiên Chúa Giáo không? Hay chỉ là một thế giới khác, thế giới vô hình. Khi bước vào thế giới ấy sẽ bất tử cùng với cõi Vĩnh Hằng?
Chắc rằng những ai theo đạo Phật đã có câu trả lời cho những câu hỏi nêu trên. Nhưng đối với người ngoại đạo như tôi thì thật là khó hiểu. Và chính đó là lý do của niềm tin. Tin không cần phải có lý. Tin là hành động của con tim. Đúng ra là của Tâm, Tâm Linh. Nói đến niềm tin hay Đức Tin là nói đến thế giới Tâm Linh, là điều những người duy vật vô thần phủ nhận.
Chính vì vậy mà những người Cộng Sản, hay Mác–xít vốn theo thuyết duy vật, vô thần bài trừ tôn giáo, coi tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ con người cần phải hủy diệt để “cứu nhân loại”.
Nói về tự do tín ngưỡng, tôi cũng xin được nêu lên một lập trường riêng về vấn đề này.
Trước hết, tôi tôn trọng niềm tin của mọi người, kể cả niềm tin của những người Cộng Sản duy vật vô thần. Tôi cũng thành khẩn mong rằng niềm tin của họ vào “khoa học”, vào thuyết duy vật, vô thần cũng phát xuất từ một tấm lòng chân thành.
Thứ đến, tôi cầu xin Thượng Đế, Chúa Tể Vạn Vật, Đấng Hoá Công soi sáng để đừng có tôn giáo nào, tín hữu nào tự cho mình là chân lý tuyệt đối. Mỗi tôn giáo chỉ là một con đường được Trời mở ra để nhân loại, tùy nơi, tùy lúc tự chọn lấy mà đi để về với Trời. Ai ở gần con đường nào, thì vào con đường ấy. Ai thấy con đường nào tốt đối với mình thì chọn con đường ấy. Ai thấy con đường nào giúp mình dễ tìm được hạnh phúc và sự bình an cho mình hơn thì đón nhận con đường ấy.
Vì vậy mong rằng không có những tín đồ một tôn giáo nào đó tìm cách bôi nhọ, đả kích tôn giáo khác mà mình không ưa. (4)
Một tín đồ tôn giáo nào đó có quyền nghĩ tôn giáo mình theo là tốt nhất. Nhưng cũng nên nhìn nhận rằng tín đồ các tôn giáo khác cũng có quyền nghĩ như vậy về tôn giáo của họ.
Nghĩ tôn giáo mình theo là tốt nhất, thích hợp nhất cho mình thì cứ nghĩ. Nhưng không nên nói ra để chê bai, bài bác các tín ngưỡng khác.
Càng không bao giờ nên nói hay nghĩ chỉ có tôn giáo của mình theo là tôn giáo duy nhất tốt lành và là chân lý, còn các tôn giáo khác là tà đạo.
Vì khi nghĩ như vậy là đã không tôn trọng tư do tôn giáo rồi. Mà chính mình đã không tôn trọng tự do tôn giáo của nhau, thì đừng hòng đòi chính quyền phải tôn trọng tự do tôn giáo.
Riêng về Công Giáo, hay nói chung Ki Tô Giáo, không thể phủ nhận rằng nền văn minh Tây Phương, nếu không nói là nền văn minh nhân loại, mang dấu ấn sâu đậm của Ki Tô giáo. Chỉ nêu vài ví dụ: tuần lễ 7 ngày, lịch chung cho mọi nước là lịch do giáo hoàng Gregorio 13 lập dựa theo thuyết trái đất xoay quanh mặt trời của linh mục Copernicus (1473– 1543), tiền bối của Gallilée (1564–1642). (5)
Lịch sử nhân loại lấy Đấng Christ là trung tâm điểm. Những khúc quanh quan trọng trong lịch sử đều có sự đóng góp chính của các khoa học gia Công giáo trong đó có linh mục Copernicus, người Balan, xướng xuất thuyết trái đất xoay quanh mặt trời, linh mục Lemaître phát minh thuyết Big Bang. Trong 4 nhân vật khai sáng ra cách mạng Pháp (1789) thì có 3 người được các trường Công Giáo đào tạo (6) Người tìm ra tân thế giới là tín hữu Công giáo (Chritopher Columbus (1451– 1506). Người khởi xướng, điều khiển và tài trợ công cuộc mạo hiểm này là một nữ hoàng Tây Ban Nha rất sùng đạo v.v...
Mấy thành tích vừa nêu có thể làm cho một số tín hữu Công giáo tự hào. Nhưng thực ra điều làm cho đạo Công Giáo còn đứng vững qua bao nhiêu thách đố và khuyết điểm, chính là nhờ hàng chục thánh nhân cỡ Phan Xi Cô khó khăn đã nêu trên và Têrêxa thành Calcuta mới được phong thánh.
Người Công giáo có quyền tự hào. Nhưng không nên tự cao tự đại. Vì Đấng Christ đã dậy: Kẻ nào nâng mình lên thì sẽ bị hạ xuống. Kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được nâng lên.
Chúng ta hãy nhớ, bên cạnh thành tích, Giáo hội Công Giáo cũng không thiếu khuyết điểm.
Cố giáo hoàng John Paul II đã phải xin lỗi về vụ án Gallilée, và đương kim giáo hoàng Benedict XVI, trong chuyến tông du Hoa Kỳ vừa qua đã lên tiếng công khai lấy làm xấu hổ vì một số linh mục Mỹ lạm dụng tình dục thiếu nhi.
Nếu những lỗi lầm trên không được sửa chữa kịp thời, thì sẽ có lúc dấu ấn của Ki Tô giáo sẽ dần dần phai nhạt đi. Nền văn minh thế giới sẽ mang dấu ấn sâu đậm của một tôn giáo khác. Sự kiện các giáo đường ở Pháp đã càng ngày càng thưa thớt lớp thanh niên là một chỉ dấu đã bắt đầu có suy thoái niềm tin, nếu không phải niềm tin vào Chúa, thì ít nhất cũng là niềm tin vào giáo hội.
Ngoài ra người Công Giáo cũng cần phải tìm hiểu thêm về các tôn giáo lớn khác để nhận ra rằng những tôn giáo ấy cũng có những ưu điểm và thành tích không kém và nếu đặt mình vào địa vị những tín hữu các tôn giáo ấy thì sẽ thấy họ cũng có những lý do để tự hào và hãnh diện.
Chọn niềm tin, bảo vệ niềm tin, sống theo niềm tin của mình, đồng thời tôn trọng, trân trọng nìềm tin của người khác, như vậy sẽ tạo nên môi trường thuận lợi cho tự do tín ngưỡng nảy sinh và phát triển. Chẳng những thế, đó còn là điều kiện thiết yếu để tạo nên sự đoàn kết liên tôn, sức mạnh vô địch mà nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước khiếp sợ.
Bài quan điểm này đã được mở đầu bằng những câu hỏi, cũng xin được kết thúc bằng những câu hỏi. Không giống những câu hỏi mở đầu có tính triết lý, những câu hỏi sau đây thuộc về lãnh vực chính trị.
– Với đại hội Phật Giáo nhân dịp lễ Phật Đản sắp tới ở Việt Nam, Cộng Sản Việt Nam có chứng tỏ được cho thế giới thấy rằng dân Việt ngày nay đã có tự do tôn giáo không?
– Liên Hiệp Quốc có tiếp tay cho Cộng Sản Việt Nam làm việc đó không?
– Các ông Lê Mạnh Thát, Thích Tuệ Sĩ, những tử tội của Cộng Sản một thời, có cùng với những Thích Nhất Hạnh, Trần Quang Thuận, Trần Chung Ngọc v.v...và hàng trăm tu sĩ Phật Giáo khác mới ly khai, hay bị khai trừ khỏi, giáo Hội Việt Nam Thống Nhất có đã đầu hàng Việt Cộng, cùng với nhà nước CS chứng minh với thế giới rằng “giáo hội Phật Giáo Việt Nam” trong nước mới là đạo thật, còn các giáo hội (Phật Giáo) khác không được nhà nước cho phép hành đạo chỉ là tà đạo?
– Có thể nào một số chính khách Phật Giáo muốn nhân cợ hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (quốc doanh) tổ chức lễ Phật Đản dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc để lộng giả thành chân, thừa cơ hội xâm nhập, thao túng, lũng đoạn, biến nó thành lực lượng chống Cộng quật lại nhà cầm quyền CS, châm ngòi cho một cuộc đảo chính không đổ máu không?
– Và khả năng thực hiện cái mưu sâu này được bao nhiêu phần trăm thành công?
Xin để bạn đọc suy gẫm và tự trả lời.
(1) Blaise Pascal (1623–1662) một triết gia mà cũng là một nhà toán học cha đẻ của xác xuất (Calcul de probabilité), đồng thời cũng là khoa học gia nổi tiếng của Pháp. Mất ở tuổi 39 mà đã có những phát minh khiến René Descartes phải phát ghen. Nguyên văn câu nói trên là: “C'est le coeur qui sent Dieu et non la raison. Le coeur a des raisons que la raison ne connaît pas.”
(2) Mới đây liệt nữ Lê Thị Công Nhân cũng đã nhận phép “bắp têm” ở trong tù từ tay mục sư Nguyễn Hồng Quang.
(3) Khi đã nói đến tin thì đừng đòi phải có lý. Tín ngưỡng đa thần còn cho ta thấy nhiều đối tựơng tôn thờ lạ lùng rất đa dạng, chẳng hạn, đạo thờ thần Mặt Trời, thần Sấm, thần Bò (Vàng), thần rắn, thần Cây Đa, và Ấn Độ (và một tỉnh nào đó ở Bắc Việt Nam) còn có cả thần Âm Vật (Yoni), và Dương Vật (Linga) v.v...
(4) Tuy nhiên chúng tôi tán thành những lời phê bình xây dựng và ôn tồn đối với thái độ hay lập trường của Vatican về một số vấn đề xã hội tế nhị như phá thai, ly dị, đồng tính luyến ái, sản sinh vô tính (cloning) hay có nên cho linh mục lấy vợ không, có nên để phụ nữ làm linh mục v.v... Gần đây một số giáo dân Việt Nam đã gay gắt phê bình thái độ im lặng của hàng gíao sĩ Việt Nam trước những bất công đàn áp của nhà cầm quyền Cộng Sản. Đặc biệt là nhân vụ linh mục Nguyễn Văn Lý bị xử oan. Tất cả những phê bình xây dựng nhắm vào Vatican hay hàng giáo sĩ Viết Nam, nếu được đưa ra một cách hợp tình hợp lý đều nên được khuyến khích. Còn nhớ nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, và đám tang, của cố giáo hoàng John Paul 2, nhiều nhà báo Mỹ đã nêu các vấn đề trên để lấy làm tiếc rằng Giáo Hội Công Giáo không thích thời và còn quá cứng rắn. Nhưng họ vẫn cảm phục về lập trường cương quyết của vị giáo hoàng mà họ phê bình.
(5) Nhiều người bảo Giáo hội Công Giáo phản khoa học, là kẻ thù của tiến bộ khoa học, đã thiêu sống Gallilée, vì ông này phát minh ra thuyết trái đất xoay uanh mặt trời. Nhưng thực ra linh mục Copernicus, sinh trước Gallilée gần 100 năm, mới là người phát minh ra thuyết trái đất xoay quanh mặt trời. Mà linh mục này có bị các toà án dị giáo kết án đâu? Hơn nữa thuyết của ông còn được chính giáo hoàng Gregorio 13 dùng làm nền tảng để sửa lại lịch của nhân loại, còn được dùng cho đến ngày nay (Lịch Gregoriô). Lịch cũ dựa theo thuyết trái đất trung tâm của nhà toán học và thiên văn ngoại đạo, người Hy Lạp gốc Ai Cập Ptolemy. Trong thời gian cả ngàn năm ấy giáo hội cũng như toàn thể nhân loại, gồm tất cả các nhà khoa học thể giới đều nghĩ như Ptolemy. Cũng cần thêm rằng Gallilée đã không bị thiêu sống, và vẫn giữ đức tin Công Giáo. Ông đã được đào tạo bởi các trường đạo. Chuyện Gallilée rất dài dòng. Gần đây đã có 2 nhà báo Đinh Từ Thức (Sức Mấy) và Phạm Hồng Lam trình bày chi tiết mỗi người viết về một khía cạnh của vấn đề, trên các tờ Thế Giới Ngày Nay và Diễn Đàn Giáo Dân.
(6) Riêng Denis Diderot (1713–1784) và Voltaire (1694– 1778) là học trò của các linh mục dòng Tên (Jésuites).