CỤ HOÀNG DU NGUYỆT ĐIỆN (Kỳ 11)

Bút Xuân TRẦN CÔNG TỬ

Lê hồng Phong vừa nói xong thì có một nhóm khoảng vài chục người ra đứng trước micro xin phép nói. Người đại diện nhóm mặc áo chùng thâm Linh mục (soutane) cầm micro:

“Thưa toàn thể quí vị và đồng bào, tôi là LM Nguyễn văn Chương, đại diện cho nhóm giáo dân Công giáo Bùi Chu và Phát Diệm xin được có đôi lời.

Giáo dân trong hai vùng này thập niên 50 thường gọi tôi là Thày Bốn Chương, xưa kia cầm quân Tự Vệ Công giáo ở Bùi Chu và Phát Diệm đánh cho Việt Minh nhiều trận xiểng liểng dù vũ khí của chúng tôi rất ít và rất thô sơ nhưng tinh thần vì Thiên Chúa và Tổ Quốc của chúng tôi thì cao ngất trời xanh. Xin sẽ nói chuyện đó sau. Bây giờ tôi xin được nối tiếp ông Lê hồng Phong vì tôi có theo dõi nhiều bài báo Pháp và Việt ngữ của người QG thời đó viết.

Vụ Nam Kỳ khởi nghĩa bị thất bại, theo những người hiểu chuyện, cũng là do bàn tay đẫm máu của Nguyễn sinh Cung vì Cung xưa nay có tính rất đố kị, ghen ghét, chỉ sợ những người khác làm hơn mình và chiếm mất địa vị của mình.

Ở trong đảng Cộng sản 3 quốc tế, vì Cung luôn luôn lấy lòng, nịnh bợ, ton hót các lãnh tụ Nga Tàu nên được họ chống lưng cẩn thận, vì thế Cung tự kiêu, tự đại không ngán một ai. Kẻ nào hơi hó hé có mòi phản Cung, ghét Cung là Cung cho tay sai âm thầm giết ngay, vừa trừ hậu họa, vừa răn chúng. Bàn tay Nguyễn sinh Cung đã thấm đẫm máu đồng bào, máu các chiến sĩ QG thề không đội trời chung với Cung và cả đồng chí, thủ hạ của Cung trong đảng Cộng sản.

Hãy lấy một thí dụ:

Trung tướng Nguyễn Bình, Tổng tư lệnh các lực lượng võ trang miền Nam, kiêu hùng uy dũng là thế mà bị Nguyễn sinh Cung nghi ngờ Bình vượt quyền. Bình đang chỉ huy trong Nam, công tác bề bộn nhưng Cung cho gọi ra Bắc trình diện Cung. Bình đánh dấu hỏi nên đem theo 16 tay súng cận vệ vượt đường Trường Sơn nhưng nửa đường, dù đã hết sức cẩn mật, Bình bị phục kích, bị giết chết, trung đội cận vệ cũng bị giết gần hết, không thấy Pháp dương danh trên báo chí trận phục kích giết một Trung tướng. Những kẻ biết chuyện đều qui tội ác giết hại đồng chí cho Nguyễn sinh Cung chứ Pháp không thể làm điều ấy vì Bình rất sắc sảo, phòng ngừa mọi chuyện bất trắc giữa đường.

Thêm nữa, cái chết của Hà huy Tập, đàn anh Cung, năm 1941, bị Pháp xử bắn cũng do Cung. Nguyễn thị minh Khai là người yêu, người vợ một thời của Cung có khai trên giấy tờ, Cung cũng giết chết tốt cùng với Phan đăng Lưu, Võ văn Tần, Nguyễn văn Cừ...

Như ông Phong đã nói, cùng làm việc với Cung, hễ cứ ngang cơ hoặc trên cơ Cung, nhất là về trí thức, về địa vị trong đảng CS, về lí thuyết CS, là bị Cung thanh toán không thương tiếc, chỉ sớm hoặc trễ. Cung không để bất cứ ai, kể cả bố đẻ ông ta nếu rơi vào trường hợp, lại có uy tín quốc nội, quốc tế hơn Cung, có thể “phỗng” tay trên những chức vụ như Tổng bí thư đảng hay Chủ tịch nước vì Cung đã mơ ước những chức vụ ăn trên ngồi trước béo bở này từ lâu. Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị “Thà làm công dân một nước độc lập còn hơn là làm vua một nước nô lệ”.

Câu ấy đã cứu vua Bảo Đại khỏi chết chứ nếu không tuyên bố câu đó, vua Bảo Đại đã đi mò tôm từ khuya, không khác chi Thượng thư Phạm Quỳnh và con là Phạm Giao, Tổng đốc Ngô đình Khôi và con, và nhà văn Khái Hưng cùng hàng trăm ngàn kẻ khác kể không xiết!

Nguyễn sinh Cung đến Phát Diệm sau 1945 để gặp Đức Giám Mục Lê hữu Từ, cai quản địa phận Phát Diệm, và LM Hoàng Quỳnh, Tổng chỉ huy Lực lượng Tự Vệ Công giáo Bùi Chu-Phát Diệm.

Thâm ý của ông Cung là đích thân dò xét để đẵn gốc, trừ tuyệt hậu hoạ vì Cung biết người CG đoàn kết sau lưng các Giám mục, có tòa thánh Vatican và quốc tế như Anh, Mỹ, Pháp, Tây ban Nha... ủng hộ. Người CG thời nào cũng thế, không bao giờ đội trời chung với Tam vô CS. Người CG chỉ có Thiên Chúa và Tổ quốc VN để phụng vụ, những kẻ đi sai đường lối ấy là những con chiên lạc, chiên ghẻ, không được kể trong Cộng đồng Dân Chúa. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng nguyên tắc ấy không bao giờ thay đổi.

Cộng sản tìm thiên phương bách kế để tiêu diệt đạo CG (cũng như Phật giáo, Tin Lành, Cao đài, Hoà hảo, ngay cả đạo thờ ông bà tổ tiên) nhưng CS càng ngày càng tàn lụi và đã tan rã ở Đông Âu 1990, nhưng đạo CG thì càng ngày càng hoành tráng (từ này đã có trước khi Nguyễn sinh Cung ra đời, coi Từ điển thông dụng Việt-Anh Anh-Việt, Nguyễn văn Khôn trang, 384, nhà sách Khai Trí xuất bản) và giáo dân tăng nhiều. Điều đó chứng tỏ quỉ dữ phải chịu thua Thượng Đế, cái Ác phải đầu hàng sự Thiện.

Hồi đó, Nguyễn sinh Cung mời Đức cha Lê hữu Từ làm Cố vấn Chính phủ cho Cung để thoa dịu những uất hận của ngưòi Công giáo vì các giáo dân, Tu sĩ, Linh mục Bùi Chu Phát Diệm bị du kích của Cung giết hàng ngàn người trong một thời gian ngắn sau 1945. Chính vì vậy mà hai Đức Cha Lê hữu Từ và Phạm ngọc Chi (Bùi chu) phải cùng nhau lập hai Khu Tự Vệ Bùi Chu - Phát Diệm, nhờ sự yểm trợ của các chính phủ dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại để ngăn chặn bớt bàn tay hung ác của Cung chuyên tàn sát giáo sĩ và lương dân vô tội không đồng chính kiến với Cung.

(Ghi chú của người viết: Sau này, lúc ở trong Hạ Nghị Viện VNCH, đảm nhận chức Chủ tịch Uỷ Ban Phát triển Nông Thôn, tôi có gặp nhiều Giám mục và Linh Mục, cả LM Hoàng Quỳnh, LM Vũ đức Khâm v.v...các vị nói rằng cả thực dân Pháp và CS đều là kẻ thù của người CG nhưng dù sao, thực dân Pháp vẫn không thâm độc và nguy hiểm như CS nên đã có lúc phải nhờ sự yểm trợ của Pháp để chống cự với quỉ Tam Vô.

Hãy cứ coi như thời Pháp thuộc dân ta bị Pháp đô hộ gần 80 năm nhưng nhiều ông già bà cả sống tới nay vẫn bảo chế độ Pháp thực dân còn dễ thở một trăm lần hơn chế độ Xã nghĩa của Nguyễn sinh Cung. Chính nhà thơ Nguyễn chí Thiện cũng đồng ý như thế bằng mấy vần thơ trong cuốn Hoa Địa Ngục của ông.)

Linh Mục Nguyễn văn Chương lại nói tiếp:

“Trở lại chuyện Nguyễn sinh Cung với Đức Cha Lê hữu Từ, ngoài mặt, Cung niềm nở, nói với Đức Cha Từ xin được Rửa tội theo đạo CG (sic, bịp đến thế thì thôi) nhưng trong lòng con sói gian ác, Cung muốn ăn sống nuốt tươi Giám mục Lê hữu Từ và Giám mục Phạm ngọc Chi, những chướng ngại lớn của Cung trên con đường làm xung kích cho Nga-Tàu và tiến lên Cộng sản chủ nghĩa, nhuộm đỏ cả vùng Đông Nam Á châu.

Về điểm này, Nguyễn sinh Cung còn trội hơn nhiều đàn anh CS một bậc như CS Ba lan, Đông Đức, Hung, Tiệp, Lỗ ma ni v.v...hồi cực thịnh tức từ sau Đệ nhị thế chiến cho đến khi bức tường Ô nhục Bá Linh tan ra tro (1991), những đảng CS này chỉ nghĩ đến CS hóa đất nước của họ mà thôi.

Riêng Nguyễn sinh Cung ôm mộng Đại đồng thế giới, có nghĩa toàn cầu chỉ còn một chủ nghĩa là Cộng sản, một chính phủ do người CS cai trị, Cung là một trong những kẻ quyền uy toàn trị ấy. Tất cả trở thành bày nô lệ, nông nô, công nô cho các ông chủ CS cai quản như nông gia coi đàn cừu.

Trong bài thơ Nguyễn sinh Cung đọc ở đền Vạn Kiếp thờ đức thánh Trần hưng Đạo, Cung viết:

Bác đuổi xâm lăng thanh kiếm bạc

Tôi dắt năm châu đến đại đồng

Bác có linh thiêng cười một tiếng

Mừng tôi cách mạng đã thành công! (HCM)

Với Đức Trần hưng Đạo, vị đại anh hùng của dân tộc VN mà Nguyễn sinh Cung còn hỗn láo “tôi tôi, bác bác” như thế thì ông ta còn coi ai ra gì.

Sao ông ta không viết là:

Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc mà chỉ viết đuổi xâm lăng? Quân Nguyên là quân Tàu, viết như vậy e mất chức Thái Thú cũng như ngày nay (2008), Triết, Mạnh, Dũng trải thảm đỏ đón đuốc Thế Vận của Trung cộng, cho công an đánh đập tàn nhẫn những sinh viên và dân chúng biểu tình đòi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Trung cộng chiếm của Việt Nam sáp nhập vào huyện Tam Sa thuộc đảo Hải Nam.

Những kẻ nối tiếp quyền cai trị nước Việt của Nguyễn sinh Cung cũng nối chí y như Cung: bán nước cho Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, kẻ đã đô hộ VN 3 lần tổng cộng hơn một nghìn năm, kẻ luôn nghĩ chuyện đồng hóa dân Việt thành dân Hán để nuốt trôi nước VN béo bở có cái ban-công nhìn ra Thái bình Dương mà Hán thèm khát từ nhiều đời vua cai trị nước Tàu, ngược lên trước thời Hai vua Trưng Trắc, Trưng Nhị nữa.

Ba đầu sỏ Triết-Mạnh-Dũng dựa hơi Tàu trù dập, đàn áp dân Việt đặng ngồi trên ngai Thái Thú muôn đời để vơ vét và vinh thân phì gia! Những kẻ nhắm mắt đui mù theo Triết- Mạnh-Dũng, hùa theo 3 tên này cũng cùng chí hướng gia nô cho giặc Tàu thật đáng phỉ nhổ và là một cái nhục không nước biển nào rửa được!”

Linh mục Nguyễn văn Chương vừa dứt lời, chị Nguyễn thị minh Khai nối tiếp như sau:

“Kính thưa toàn thể quí vị và đồng bào,

Tôi chỉ xin vắn tắt vài lời, không dám làm mất thì giờ của quí vị. Vị hôn phu của tôi là Lê hồng Phong, vừa thưa chuyện với đồng bào, chúng tôi yêu nhau tha thiết, thề non hẹn biển rằng sẽ làm đám cưới khi nước nhà Độc lập, Tự do, thoát ách nô lệ thực dân Pháp. Lúc ấy chúng tôi cùng ông Nguyễn sinh Cung đang ở Mátxcơva, không hiểu vì sao anh Lê hồng Phong được lệnh phải trở lại Đông Dương. Trên đường về nước, anh bị Mật Thám Pháp bắt đưa đày ra Côn đảo và chết ở đó năm 1942 như anh ấy vừa trình bày.

Khi anh Phong về rồi, còn tôi ở lại Mátxcơva với ông Nguyễn sinh Cung. Lợi dụng tôi cô thân cô thế, ông Cung đã đeo tán tôi, hứa lấy tôi làm vợ và rốt cuộc tôi đã ngã vào vòng tay lừa dối, phỉnh gạt của ông ta. Từ đó, trên các giấy tờ lí lịch, ông Nguyễn sinh Cung khai tôi, Nguyễn thị minh Khai là vợ của ông ta và tôi cũng khai Nguyễn sinh Cung là chồng.

Ông Cung làm cho tôi thành một người đàn bà hư thân mất nết, chồng chưa cưới vừa về VN thì đã tư tình với bạn chồng; khi nghe chồng bị tù cũng bình chân như vại. Ngày nay, có những tên thủ hạ của ông Cung vô liêm sỉ đã dùng tên tôi mà đặt tên đường, tên trường học...Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ mà không biết phải làm sao?

Ông Cung và tôi sống với nhau như vợ chồng được một thời gian, sau đó tôi về nước rồi bị Mật Thám Pháp bắt. Tôi có nghi ngờ là ông Cung đã hại tôi, mật báo cho Pháp biết mà bắt cũng y như người chồng chưa cưới của tôi, Lê hồng Phong vậy.

Chúng giam tôi ở nhiều nơi, sau đó một ngày trong năm 1941, chúng đem tôi ra bắn tại 18 khu vườn trầu (Thập bát phù viên) ở quận Hóc Môn cùng với các đồng chí Nguyễn văn Cừ, Võ văn Tần và Phan đăng Lưu.”

Nguyễn thị minh Khai vừa nói xong thì bỗng nghe có tiếng trống nhỏ, trống lớn như trống thúc quân, tiếng tù và thổi inh ỏi rồi một đội quân đông cả dăm ngàn người tay cầm giáo, đại đao, mâu, thuẫn hùng dũng đi đều bước theo sau một ngọn cờ đào ở giữa lá cờ có viết một chữ Trưng lớn. Đội quân đông như kiến nhưng chia ra thành từng đội ngũ rất có tổ chức. Đội nhỏ nhất xếp hàng ba, mỗi hàng 12 người quân binh, vị chi đội nhỏ nhất là 36 quân binh. Quân binh mặc đồng phục xanh lá cây đậm, áo ngắn tay, quần bó ống, lưng cột một thắt lưng mầu đào giống mầu cờ. Ở lưng áo mỗi người đều có một chữ Trưng viết bằng mực đen. Đầu mỗi quân binh đội một cái nón sơn mầu vàng chỉ nhỏ như cái nón của mục đồng, họ đi chân đất nhưng tướng chỉ huy thì có giầy vải có giây cột. (Giầy này sau người Tàu thấy hay nên bắt chước mẫu mã, thực ra nó phát xuất từ Giao Chỉ).

Cứ 4 đội như vậy dàn một hàng ngang, tiếp theo là 4 đội khác. Cứ 12 đội có một lá cờ đào lớn có chữ Trưng, bên dưới là cờ đuôi nheo viết số của đội để quân binh không lẫn lộn.

Hàng quân đi dài dằng dặc như vậy xong cuối cùng đến một đàn 12 thớt voi, trên mỗi thớt voi có một vị tướng quần áo uy nghi, tay cầm trường kiếm chỉ tới, mỗi thớt voi có một quản tượng cũng mặc quân phục, dùng búa gỗ điều khiển voi đi cho đúng hàng. Xung quanh mỗi thớt voi có tượng binh cầm khí giới đi theo trông rất dũng mãnh.

Hai thớt voi lớn nhất đi sau cùng có cờ quạt, tàn tán che xung quanh, tất cả đều mầu vàng nghi vệ thiên tử. Tượng binh đông gấp ba những thớt voi trên.

Khi hai thớt voi này đi đến chỗ sân khấu lộ thiên thì quân tướng dừng cả lại. Hai Nữ Hoàng, mặc hoàng bào, tay cầm bảo kiếm, đứng uy nghi trên hai thớt voi. Khán giả nhìn, nín thở vì hai vị tỏa ra cái phong thái kiêu dũng, mạnh mẽ quá khiến ai chứng kiến cũng phải nể trọng.

Một Nữ Hoàng phát biểu:

“Các quân binh, tướng sĩ của ta,

Đồng bào Việt Nam thân mến,

Tất cả hãy nghe ta đây:

Ta là Trưng Nữ Vương....

Vị Nữ Hoàng vừa nói đến đó thì những khán giả ngồi đó như bị điện giật, đồng đứng lên vừa vỗ tay vừa hô lớn làm ồn ào náo nhiệt cả một bãi cỏ rộng lớn:

- Nhị vị Trưng Vương muôn năm!

- Tổ Quốc Việt Nam thân yêu muôn năm!

Tiếng hoan hô kéo dài cả mười phút mới tạm bớt. Trưng Nữ Vương tiếp tục:

“Chị em ta hôm nay xin phép Ngọc Hoàng Thượng Đế đến đây để gặp gỡ đồng bào vì có nhiều người chưa được gặp chúng ta. Trước hết, để nhắc lại lời thề Mê Linh khi xưa, đồng bào hãy cùng Vua Trưng Nhị hô lớn mấy câu sau đây:

Trưng Nhị Vương bèn dùng micro hô:

“Việt Nam Độc Lập muôn năm!”

Tất cả hô lại:

- Muôn năm!

“Cương quyết tiêu diệt bọn bá quyền xâm lược Trung cộng!”

- Cương quyết!

“Cương quyết giết sạch bọn bán nước cầu vinh!”

- Cương quyết!

“Dân chủ, Tự Do, No ấm, Tiến Bộ muôn năm!

- Muôn năm!

Sau đây đồng bào hãy nghe lời hiệu triệu của chị em ta:

Kể từ thời vua Hùng Vương họ Hồng Bàng dựng nước, kể có 2,000 năm trước ta, biết bao xương máu của quân tướng và nhân dân đã đổ ra để giữ vững cõi bờ. Nhưng đến nay, nước Việt Nam mà chúng ta quí yêu, hết sức bảo vệ thì lại sắp lọt vào tay bọn hậu duệ của Mã Viện, kẻ thù không đội trời chung của riêng chị em ta và của cả dân Việt.

Ta muốn biết chắc những điều ta nghe được là đúng. Vậy ta nhờ vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nước Việt, hãy thuật đại cương tình hình hiện tại chính sự trong nước cho ta nghe xem sao?”

Vua Bảo Đại đứng vái hai vua Trưng một cái rất sâu xong cầm micro nói:

“Khải Nhị Vị Trưng Vương,

Kể từ năm 1945, dựa vào lòng dân căm thù giặc Pháp đã đô hộ nước VN hơn 80 năm, ông Nguyễn sinh Cung, hiện đứng nơi kia, đã lừa dối nhân dân VN áp đặt chủ nghĩa Cộng sản lên đầu lên cổ dân tộc. Nhân dân vì tin tưởng ở ông ta, giao phó quyền chống xâm lăng và quyền cai trị cho ông ta, ông ta lợi dụng lòng tin ấy của nhân dân nên đã làm một tên xung kích cho quốc tế CS Nga Tàu.

Nay ông Cung bắt dân chúng thờ phượng ông ta như Phật Thích Ca, bắt dân học những lý thuyết bá láp của Mác-Lê và của ông ta. Để có chỗ dựa chắc chắn, ông Cung đã bán đứng nước Việt cho Hán bang. Hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa, ải Nam quan, thác Bản Giốc là lãnh thổ, lãnh hải của nước Việt nay ông Nguyễn sinh Cung đã dâng cho Hán bang để đổi lấy chức Thái Thú như Tô Định ngày xưa đặng vinh thân phì gia, ngồi trên ngai vàng muôn đời.

Từ ngày 19-8-1945, hơn 10 triệu người Việt đã chết thảm vì những cuộc chiến tranh tàn khốc do ông Nguyễn sinh Cung gây ra.

Đó là cuộc chiến 1945-1954 với Pháp.

Kế là cuộc chiến xâm chiếm miền Nam 1954-1975, dương danh một cách láo toét là cuộc chiến chống Mỹ-Nguỵ.

Cuộc chiến sang chiếm Căm-pu-chia 1978.

Cuộc chiến tại biên giới với Tàu cộng năm 1979 và sau đó.

Nay hết chiến tranh vì ông Cung xua quân chiếm miền Nam thì đất nước lại rơi vào nạn tham nhũng, lạc hậu, dân tình đói khổ, nghèo giầu cách biệt hết biết, con gái 10 tuổi đã đi làm điếm kiếm miếng ăn, bị bán sang Đài Loan, Hàn, Mã Lai, Trung cộng, Căm-bốt. Con trai đi lao nô cho các nước trong vùng kéo dài thân phận nô lệ cho người ngoại quốc. Nông dân đói, công nhân đói nhưng cấm không được biểu tình đòi hỏi chủ nhân nước ngoài trả lương thỏa đáng Công nhân đình công bị chính phủ của hậu duệ ông Cung ra tay đàn áp, đánh đập, bỏ tù mặc dù cứ ra rả tuyên truyền là chính phủ CS của công nhân nghèo. Tùnh trạng bi thiết lắm, tôi không có đủ ngôn ngữ để diễn ta hết được. Kính xin Nhị Vị Trưng vương cho hỏi thêm nhân chứng.”

Trưng Nhị Vương nghe xong liền đứng thẳng lên trên lưng voi. Bà cầm thanh bảo kiếm chỉ thẳng xuống bên dưới, hỏi:

“Nguyễn sinh Cung là tên nào, trình diện chị em ta coi!”

Nguyễn sinh Cung sợ quá, ú ớ chưa dám bước ra thì ông Hoàng MC đẩy ra:

“Có gan ăn cướp, có gan chịu đòn. Sao mọi khi ông hăng hái lắm kia mà!”

Nguyễn sinh Cung run rẩy:

“Thực ra, tôi chỉ đẩy cho thanh niên xung phong ôm bom vào trận địa chết cho tôi lên đài vinh quang của Mác-Lê chứ tôi khiếp chết lắm. Chết rồi thì làm sao mà hưởng các em Xuân, em Khai, em Minh, em Lạc được? Xin đồng chí nói khó với Hai Vua Trưng dùm tôi. Lấy cớ tôi bệnh không “làm việc” được.”

Ông Hoàng bèn thưa:

“Khải Nhị vị Trưng Vương, xin Nhị vị cho ông ta khất lần này vì ông ta bị cảm, khản tiếng không “làm việc” được.”

Vua Trưng Nhị nói:

“Nếu vậy, ta hãy để tội đó. Lần sau chớ trách ta nghiêm nhặt.”

Quay ra phía đồng bào, Trưng Nữ Vương nói:

“Chị em ta có lời chào đồng bào hết thảy. Hãy luôn luôn nhớ lời ta trong những khẩu hiệu hô lúc nãy. Nếu không bảo nhau đoàn kết bỏ mất nước thì cũng là mất mọi thứ. Nghe rõ chưa?”

Cả triệu cái miệng cùng hô lớn:

“Thưa rõ.”

Đoàn quân của Nhị vị Trưng vương lại rùng rùng tiến ra phía cổng.

Khi đoàn quân đã đi hết, ông Hoàng tuyên bố nghỉ giải lao 15 phút, sau đó họp lại.

Vừa tái họp có một người đàn ông trung niên, mặc quần áo trận (treillis) Quân lực VNCH, đeo ba mai bạc ở mũ và cổ áo, từ trong hàng ghế khán giả bước ra, xin nói:

Kính thưa Quí Liệt vị,

Kính thưa bà con hết thảy,

Tôi là Trung Tá Võ văn Đường, Chỉ huy trưởng Cảnh Sát tỉnh Chương Thiện, xin được giới thiệu cùng quí vị một vị anh hùng, một người anh của chúng tôi, đó là Đại Tá Hồ ngọc Cẩn, chức vụ cuối cùng: Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện thuộc vùng IV Chiến thuật.

Đại tá Hồ ngọc Cẩn sanh năm 1938 tại Cần Thơ; khi anh hi sinh vì chính nghĩa QG anh mới 37 tuổi, tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tĩnh, ít nói. Anh Hồ ngọc Cẩn nguyên xuất thân là Thiếu sinh quân, năm 1962 anh tốt nghiệp khóa Sĩ quan đặc biệt v! ơi cấp bậc Chuẩn Úy. Sau khi ra trường, anh theo học khóa huấn luyện Biệt động quân, chuyển về phục vụ tại Khu 42 Chiến thuật với chức Trung đội trưởng.

Năm 1966 Đại Úy Hồ ngọc Cẩn là Tiểu đoàn trưởng TĐ 1/33 Sư đoàn 21 Bộ binh. Là một Sĩ quan BĐQ gan dạ, anh Cẩn đã tham gia hầu hết các trận đánh lớn nhỏ tại miền Tây. Đơn vị anh tìm và diệt địch dưới mọi tình huống gây cho địch nhiều trận khiếp đảm. Uy danh Đại Úy Hồ ngọc Cẩn, Tiểu đoàn phó TĐ 42 “Cọp ba đầu rằn” vang lừng một thời. Sau đó anh nắm chức Tiểu đoàn trưởng đánh một trận để đời là tiêu diệt toàn bộ TĐ 514 cơ động Việt cộng tại Mỹ Tho, bắn chết 320 tên, bắt sống 176 tên. Chính chiến công này, anh được Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson thưởng huy chương và Thống tướng Westmoreland đại diện Tổng Thống trao tặng.

Năm 1972, nhờ lập chiến công tại chiến trường An Lộc khi đó anh là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15, SĐ 9 Bộ binh. Từ tháng 6-1973: vinh thăng Đại Tá, làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng cho đến ngày mất miền Nam.

Ngày 14-8-1975, Việt cộng đem các sĩ quan sau đây ra sân vận động Cần Thơ bắn:

- Đại tá Hồ ngọc Cẩn

- Trưởng Ty Cảnh Sát Chương Thiện: Trung tá Võ văn Đường

- Đại Úy Phạm văn Bé, ĐĐT/ Đại đội Trinh sát Tỉnh.

Nhiều vị Quận trưởng khác cũng như nhiều Xã trưởng đã bị Việt cộng giết ngay tại địa phương. Dù vậy, lực lượng chiến đấu tại Cần Thơ và Chương Thiện vẫn bắn như mưa bấc vào Việt Cộng cho mãi tới 10 giờ sáng 2-5-1975 mới im tiếng súng.

Bây giờ tôi xin nhường lời cho Đại Tá Hồ ngọc Cẩn.

Một tràng pháo tay ào ào nổi lên không dứt.

Sau đó, Đại Tá Hồ ngọc Cẩn tiến ra. Ông đứng giơ tay chào mọi người theo lối nhà binh, xong nói:

Thưa quí vị trưởng thượng,

Thưa đồng bào thân mến,

Xin cho tôi được hỏi ông Nguyễn sinh Cung vài câu.

1- Đảng Cộng sản Đông Đức, sau khi Liên Xô tan rã đầu những năm 1990, đã tự ý giải thể, chịu sự chi phối của quốc dân Đức, hòa hợp với chính quyền Tây Đức để viết nên một bản Hiến Pháp mới chọn hướng Dân chủ, Tự Do, Quốc Hội nước Đức thống nhất do toàn dân Đức bầu lên. Người ta cũng là đảng Cộng sản cũng say mê chủ nghĩa Mác-Lê, sao người ta giác ngộ dễ dàng như vậy mà đảng Việt Minh cứ ngoan cố đi theo ý riêng của mình, đày đọa dân tộc xuống vũng bùn. Ông xưa nay tự hào là đỉnh cao trí tuệ nhưng 6 tỉ người trên hành tinh này nghi ngờ lời khoa trương đó khi đảng của ông chỉ cúi đầu rúc vào cát như con đà điểu. Xin ông có thể giải thích cho biết?

Ông Hoàng MC:

“Xin ông Nguyễn sinh Cung trả lời cho Đại tá Hồ ngọc Cẩn.”

Ông Nguyễn sinh Cung, hai Vua Trưng đi rồi nên khoẻ trở lại, hót như khướu:

“Đức là Đức, Việt là Việt, giống nhau thế nào được? Có thể là người CS Đức không cần quyền lực, còn đảng Việt Minh chúng tôi luôn luôn phải giữ quyền lực; không có quyền lực thì làm sao mà củng cố đảng, mà làm mưa làm gió trên mọi bình diện của đất nước, mà bán biển, dâng đất, ôm đuốc Thế Vận chạy như ma đuổi, đánh, nhốt, bỏ tù đồng bào và Sinh viên học sinh dám phạm đến Thiên triều? Nắm giữ quyền lực có lợi lắm, không khi nào nhả ra được. Nhờ có quyền lực mới được giao chức Thái Thú đấy.

Sông Hồng Hà có thể cạn, núi Ba Vì có thể sạt lở nhưng chân lý đó bất biến.

Vả lại, tôi rất khinh những đảng CS tự giải thể. Có ông Yeltsin, có ông Gorbachev trong các vụ giải thể, xét lại nhưng không có tôi. Xin đừng ai đề cập đến chuyện tự giải thể này nữa. Nó lố bịch lắm.”

Đại tá Hồ ngọc Cẩn:

“Sao vừa nãy ông không đứng ra mà trả lời Nhị Vị Trưng Vương, bây giờ ông mới mở miệng?”

Nguyễn sinh Cung:

“Ai dại giơ đầu ra cho hai bà ấy báng? Đảng chúng tôi chỉ khôn khéo ở chỗ đó. Kẻ nào ngu thì chết, nghe chưa? Nói thực, Trần ích Tắc, Lê chiêu Thống, Hồ quí Ly ... tức những anh hùng làm tôi nhà Hán thì sau này sẽ được đúc tượng thờ trong chùa như tôi vậy. Còn Trần hưng Đạo, Hai Bà Vua, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Lý thường Kiệt v.v.. tức những kẻ chống thiên triều thì sau này sẽ mang xú danh đến muôn kiếp! Chống mắt coi xem ta nói trúng hay nói trật?”

(còn tiếp)

Phóng viên từ Mặt Trăng

Bút Xuân TRẦN CÔNG TỬ