Cung Vua và Phủ Chúa

(bài IV: Những mưu đồ chiến lược của Phủ Chúa:

Bùi Tín

1- Kềm giữ Việt nam trong vòng tay của Trung quốc.


Đây là mục tiêu chính trị hàng đầu của Bắc kinh. Làm sao Việt nam luôn và mãi mãi là ''bạn tốt'', nghĩa là chư hầu , ''phiên thuộc'', một vệ tinh, một thuộc địa kiểu mới của Bắc kinh. Ngăn ngừa xu thế đảng CS độc lâp tự chủ với đảng CS Trung quốc. Cảnh giác với khả năng Việt nam cân bằng quan hệ với Trung quốc và quan hệ với Hoa kỳ.

Đây là thái độ rất ích kỷ, vì chính Trung quốc tìm mọi cách để ưu tiên cải thiện quan hệ mọi mặt với Hoa kỳ và phương Tây nhằm ưu tiên hiện đại hóa kinh tế và quốc phòng với tốc độ cao, lại ngăn chặn Việt nam thực hiện chính điều ấy.

Chính họ đã dùng Phủ Chúa ở Hànội để thực hiện sự kìm hãm ích kỷ này.

2- Kềm giữ Việt nam luôn theo gót Trung quốc


Đi sau Trung quốc, lẽo đẽo theo sau với một khoảng cách nhất định, không cho phép bứt lên, ngang hoặc vượt lên trước, đặc biệt là trong quan hệ với các nước phương Tây và Hoa kỳ. Đổi mới ở Trung quốc khởi đầu từ năm 1978, ở Việt nam năm 1986, sau Trung quốc đến 8 năm. Bình thường hóa quan hệ với Mỹ, vào Liên Hợp Quốc, vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, Trung quốc luôn dùng Phủ Chúa để trì hoãn Việt nam, không cho qua mặt Trung quốc. Năm 1999, lẽ ra Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ đã được ký kết tại New Zealand (Tân Tây Lan) nhưng chủ tịch Lê Đức Anh đã lệnh cho thủ tướng Phan Văn Khải hoãn việc ký mà không giải thích lý do, để tháng 7-2000 mới ký được.

Riêng trong quan hệ với Hoa kỳ, Bắc kinh luôn giành thế thượng phong so với Việt nam. Tổng thống Nixon thăm Trung quốc ký Tuyên bố Thượng hải từ tháng 2 năm 1972. Tổng thống Clinton đi thăm chính thức Bắc kinh tháng 6-1998. Tổng thống Bush thăm tháng 2-2002. Trung quốc vào WTO từ tháng 12-2001, trước Việt nam đến 5 năm. Bắc kinh vào Liên Hợp Quốc thay Đài loan từ năm 1971. Việt nam vào lâu sau đó, tháng 9-1977.

Mọi người không thể quên câu nói của Đặng Tiểu Bình ngày 19-5-1978: ''Trung quốc là NATO phương Đông (ngụ ý để cùng NATO bao vây Liên xô), Việt nam là Cuba phương Đông (ngụ ý là chư hầu Liên xô) ''.

3- Kềm giữ Việt nam trong chế độ XHCN mác-xít mao-ít


Với đặc điểm là theo học thuyết đấu tranh giai cấp và thiết lập nên chuyên chính của một đảng duy nhất - đảng cộng sản. Từ Đại hội VII (năm 1991), đến Đai hội VIII (1996), rồi đến Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006), mặc cho có hàng vạn ý kiến của trí thức, tuổi trẻ, văn nghệ sỹ cùng một số nhà kinh doanh, cả nhà cách mạng lão thành bác bỏ nền '' dân chủ một đảng '' giả dối, thực hiện nền dân chủ đa nguyên đa đảng lành mạnh, tiến bộ, nhóm lãnh đạo vẫn một mực duy trì chế độ độc quyền đảng trị cổ lỗ lạc hậu. Từ sau Đại hội VI (1986) trong đảng CS có một số ý kiến đòi đổi tên đảng (trở lại tên đảng Lao động, hay đổi thành đảng Dân chủ xã hội, đảng dân chủ mới) và đòi đổi tên nước (trở lại tên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa), bỏ Điều 4 cuả Hiến pháp (từng bắt chước hiến pháp của đảng CS Liên xô), đến nay theo tác động của Phủ Chúa, những ý kiến theo hướng dân chủ như thế đều bị coi là đồ quốc cấm (tabou), không được đưa trên báo chí và mọi phương tiện truyền thông khác.

4- Thực hiện đàn áp thẳng tay, tức thời mọi biểu hiện chống đối độc quyền đảng trị, đòi tự do dân chủ:


Đây là một hướng hành động rõ ràng, dứt khoát không được chập chờn nhân nhượng của chính quyền độc đảng, vì chính nó tự hiểu nó đã gây nên bao bất công, bao nhiêu đau khổ chết chóc, mất mát và tàn phá, và tích lũy biết bao uất hận trong lòng nhân dân qua nhiều thế hệ. Nó càng hiểu rằng nếu nó chịu nhượng bộ lẽ phải và chân lý, lùi một bước thì sẽ phải lùi thêm một bước , rồi một bước nữa, để rồi không tránh khỏi bị ngã ngựa, xuống đài và lăn kềnh.

Trước công luận, trước thế giới hiện đại, có khi nó phải dịu giọng, trưng ra bộ mặt thức thời, phải đạo, lên giọng hứa hẹn giả đạo đức, nhưng ngay trong lúc đó ở trong nước nó vẫn hành động ngang ngược theo bản chất hung hãn chà đạp nhân phẩm và nhân quyền cố hữu. Do đó những người cầm quyền cao nhất từ tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, người phát ngôn của họ vẫn cứ leo lẻo nói không chút ngượng ngịu rằng ở Việt nam không hề có tù nhân chính trị, trong khi có cả một quyết định và thông báo về '' tù chính trị '' của bộ chính trị được tiết lộ công khai. Giữa thời kỳ mà minh bạch công khai trở thành tiêu chuẩn của đổi mới và hội nhập, họ vẫn bám chặt lấy kiểu nói lấy được, nói theo kiểu lưỡi gỗ của thời cường hào cực thịnh xa xưa.

* Bắc kinh kiểm soát chặt chẽ internet , thanh tra thường xuyên mọi quán càfê internet, Việt nam cũng làm theo đúng vậy.

* Bắc kinh cấm báo chí tư nhân , Việt nam làm theo đúng vậy.

* Bắc kinh lập tường lửa chặn các mạng internet đòi dân chủ, phá sóng Đài Á châu Tự do RFA , Việt nam cũng làm theo.

5- Làm tay trong để thỏa mãn tham vọng bành trướng xuống phương Nam của Trung quốc:


Đây là một mưu đồ hệ trọng bậc nhất. Như đã nói ở phần trên, việc đàm phán và ký kết 2 Hiệp ước Việt - Mỹ về phân định biên giới trên bộ và trên biển trong Vịnh Bắc bộ đã được thức hiện chóng vánh, trôi chảy ra sao; phía Việt nam đã nhượng bộ như thế nào qua hàng loạt câu hỏi chưa được giải đáp có sức thuyết phục. Việc ký Nghị định thư về đánh cá chung ký cùng ngày với Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ cũng gây thiệt hại vô hạn, vì rõ ràng Trung quốc có đội đánh cá ở vùng biển phía Nam mạnh gấp 20 lần của Việt nam trong Vịnh Bắc bộ. Giống như việc chia chiếc bánh '' bình đẳng '' giữa một lực sĩ tham ăn với một chú bé lên 10 ốm yếu vậy. Bao nhiêu tài nguyên hải sản trong Vịnh Bắc bộ đã và còn bị ông bạn khổng lồ phía Bắc vơ vét hết. Các nhân vật cao nhất tham dự vào các Hiệp ước và Nghị định thư tệ hại trên là các ông : Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên, Lê Công Phụng...

Cuối năm nay (2008), Nghị định thư ký sau khi hoàn thành việc cắm mốc dọc biên giới Việt - Trung sẽ được công bố công khai cùng toàn bộ bản đồ tỷ mỷ vẽ theo thực địa, lúc ấy mọi người có thể biết là phía Việt nam đã bị mất bao nhiêu đất. Cái tội ấy sẽ được toàn dân biết rõ và quy đúng trách nhiệm. Vì lúc ấy phía Trung quốc thu lợi lớn sẽ không ngần ngại công bố công khai tập bản đồ có lợi cho họ trên báo chí và mạng thông tin điện tử.