(1) Tháp Báo Thiên không phải là nơi thờ Phật mà là nơi tế trời của vua như Nam Giao ở Huế, nên không liên hệ gì đến Phật Giáo.
(2) Khu đất có Chùa Bảo Thiên trước đây chỉ còn là một khoảng đất trống đang được dùng để họp chợ và được Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ cấp cho Giám mục Puginier, chứ không phải Tây đã cho đập phá Chùa Bảo Tháp rồi lấy đất cấp cho Công Giáo.
(3) Chùa Báo Thiên nằm ở thôn Báo Thiên Thị, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, do vua Lý Thánh Tông dùng tài sản quốc gia để xây dựng vào năm 1056. Như vậy, chùa này tuy được dùng để thờ Phật nhưng không thuộc quyền sở hữu của bất cứ tông phái Phật Giáo nào. Nói theo danh từ ngày nay, đây là “Chùa quốc doanh”. Vậy Hòa Thượng Thích Trung Hậu lấy tư cách gì để đòi lại?
Phải chăng ông đã chính thức nhìn nhận GHPGVN là một giáo hội quốc doanh (state-run Church), tức một công cụ tôn giáo vận của Nhà Nước chứ không phải là một tôn giáo?
(4) Tại sao vua Lý Thánh Tông lấy đất dân xây Chùa Báo Tháp cho Phật Giáo thì không bị gọi là ưu đãi Phật Giáo, còn Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ lấy đất đó cấp cho Công Giáo xây nhà thờ thì bị coi là ưu đãi Công Giáo? Phải chăng chỉ một mình Phật Giáo mới được quyền ưu đãi mà thôi sao?
VỀ PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ
Trong thời Pháp thuộc, hai Bộ Dân Luật Trung và Bắc đều quy định thời hiệu để thủ đắc quyền sở hữu bất động sản vô chủ là 100 năm. Dân Luật Việt Nam sau này rút xuống còn 20 năm.
Điều 1452 của Bộ Dân Luật Việt Nam quy định: “Sự chấp hữu một bất động sản trong 20 năm, nếu hội đủ điều kiện đã định ở điều 1444, sẽ là người chấp hữu thủ đắc quyền sở hữu về bất động sản ấỵ”
Điều kiện án định nói ở điều 1444 như thế nào? Điều này nói: “Muốn được thủ đắc thời hiệu, cần phải chấp hữu liên tiếp yên ổn, công khai và minh bạch, với tư cách là sở hữu chủ.”
Những trường hợp nào bị coi là không chấp hữu liên tiếp yên ổn? Theo điều 1460, bị coi là gián đoạn thời hiệu, một trong 3 trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Có trát đòi người chấp hữu ra trước tòa về sự chấp hữu ấy.
Trường hợp hai: Có sự sai áp đồ vật (ở đây là đất) chấp hữu.
Trường hợp 3: Có sự đốc thúc người chấp hữu phải trả lại đồ vật (ở đây là đất) bằng một văn thư do một công lại hữu quyền tống đa.t.
Nếu trong 20 năm không hề xẩy ra một trong ba trường hợp nói trên, sự chấp hữu được coi như là “liên tiếp và yên ổn” nên đương nhiên có quyền thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản.
Nói chung, các luật pháp thuộc hệ thống Roman Law như ở hầu hêt các nước Âu Châu và Việt Nam trước đây, đều quy định tương tự như thế. Chỉ có chế độ cộng sản mới áp dụng luật man rợ mà thôi.
Tòa Giám Mục Hà Nội đã chấp hữu khu đất làm Tòa Giám Mục và Tòa Khâm Sứ hiện nay “liên tiếp và yên ổn” từ năm 1884 đến nay, tức 122 năm, không hề xẩy ra một trong ba trường hợp nói trên, nên phải được coi là người thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản đã chấp hữu.
Ngoài ra, về phương diện pháp lý, chỉ có sở hữu chủ của sở đất nói trên trước năm 1884 và các thừa kế hợp pháp của họ mới có quyền đứng đơn khiếu na.i. Giáo Hội Phật Giáo Nhả Nước và tất cả các tổ chức Phật Giáo khác không có tư cách để khiếu nại.
Đây là đều GHPGVN phải biết.
ĐIỀU ĐÁNG NGẠC NHIÊN
Chúng tôi tự hỏi: Trong lịch sử, các vua Việt Nam đã ban cho Phật Giáo vô số tài sản, nhất là dưới thời Lý – Trần và dưới thời các Chúa Nguyễn, nhưng sau đó đã bị Hồ Quý Ly và vua Quang Trung “cướp” sạch. Tại sao Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước không đòi lại các tài sản đó mà chỉ đòi khu đất Tòa Khân Sứ ở phố Nhà Chung, Hà Nội, mà thôi?
Trong lịch sử Trung Hoa cũng như Việt Nam, Phật Giáo luôn trải qua những thời kỳ thịnh suy nối tiếp nhau: Vua nào thích Phật Giáo thì xây chùa, cấp đất và nông nô cày ruộng cho chùa, đem nhiều báu vật của quốc gia dâng cho chùa. Vua nào không thích Phật Giáo hay thấy việc chu cấp cho Phật giáo gây nhiều tổn thất cho quốc gia, lại ra lệnh đập phá chùa và thu hồi tài nguyên quốc gia, gây ra “Pháp nạn”.
Tại Trung Hoa, có ba Pháp nạn lớn nhất, thường được gọi là “Tam Võ Nhất Tôn Pháp Nạn”. Ở Việt Nam, Phật Giáo đã phải trải qua hai “Pháp nạn” kinh hoàng nhất trong lịch sử, đó là “Pháp nạn” dưới thời Hồ Quý Ly và “Pháp nạn” dưới thời vua Quang Trung.
Thời Lý – Trần, Phật Giáo được các vua cấp đến 1/3 đất đai và tài nguyên của quốc gia. Trong bài Ký Tháp Linh Tế, Trương Hán Siêu đã ghi: “trong thiên hạ ba phần, chùa chiếm ở một phần, bỏ dứt luân thường, hao tổn của báu...”. Nhưng sau đó, để có tài nguyên chống lại giặc Minh, Hồ Quý Ly (1400 – 1407) đã quyết định áp dụng chế độ hạn điền và hạn nô, lấy lại phần lớn các tài sản đã cấp cho nhà chùa, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhập ngũ hay làm lao di.ch. Tuy nhiên, ông hành động quá chậm và không triệt để nên Việt Nam bị mất vào tay nhà Minh.
Để có tài nguyên chống lại giặc Thanh, vua Quang Trung (1788 – 1792) đã chơi bạo hơn: Ông ra lệnh đập phá hầu hết các chùa, đem tượng Phật và chuông chùa ra đúc vũ khí, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhâp ngũ hay đi lao di.ch... Nhờ vậy, Quang Trung đã thắng trận vẻ vang. Tập “Tonkin et Cochinchine” của các nhà truyền giáo Pháp đã ghi: “Họ đã cướp phá chùa và họ đã đốt những ngôi chùa danh tiếng nhất của các cựu vương Bắc Hà.” Vua Quang Trung không cho phép mỗi làng đều có chùa như trước. Ông ra lệnh phá hủy các chùa riêng và tuyên bố khoảng 200 làng mới có thể họp lại để xây một ngôi chùa chung.
Việc kiểm kê các tài sản đã bị “cướp” này rất dễ dàng, vì trong cổ sử đều có ghi năm nào vua nào đã xây chùa nào cho Phật Giáo, chẳng hạn như Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu có ghi: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể...” Những đoạn như thế đươc gặp rất nhiều trong cổ sử, nên Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước có thể sưu tra và đòi Nhà Nước phải trả lại cho Phật Giáo. Miếng đất thuộc khu Tòa Khâm Sứ có đáng giá gì đâu mà đứng lên đòi được tham khảo?
TÂY CHÈN ÉP PHẬT GIÁO?
Trong các bài viết về Tòa Khâm Sứ, nhóm quốc doanh ở trong nước và nhóm thân cộng ở hải ngoại luôn rêu rao rằng dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã chèn ép Phật Giáo và nâng đỡ Công Giáo. Nhưng sự “xác tín” này hoàn toàn trái với các sử liệu. Vì bài báo có hạn, chúng tôi chỉ xin ghi lại một số điểm chính.
Có thể nói, chính quyền Pháp đã yểm trợ Phật Giáo tối đa. Họ cho các viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa đứng ra thành lập các hội Phật Giáo và xuất bản các tâp san Phật Giáo trong cả ba Kỳ để giúp Phật Giáo phát triển.
Trước hết, Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương đã ban hành Nghị Định ngày 28.1.1930 thành lập “Viện Nghiên Cứu Phật Giáo Tiểu Thừa Bản Xứ” (Institut Indigène d’Étude du Bouđhisme du Petit Véhicule) để truyền bá Phật Giáo Tiểu Thừa cho dân bản xứ. Sau đó, tại Nam Kỳ, năm 1931 Pháp đã thúc đẩy một số cư sĩ Tây học như Ngô Văn Chương, Phạm Ngọc Vinh, Trần Nguyên Chấn, Nguyễn Văn Cần, v.v. đứng ra thành lập “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học” và xuất bản tạp chí “Từ Bi Âm”... Ông Trần Nguyên Chấn đã mời Thống Đốc Nam Kỳ Khrautheimer làm hội trưởng danh dự của hội.
Tại Trung Kỳ, năm 1932, Bác Sĩ Lê Đình Thám đã được chính quyền thuộc địa đưa ra Huế thành lập “Hội An Nam Phật Học” và xuất bản tạp chí “Viên Âm Nguyệt San”, sau đó lập ra “Trường An Nam Phật Học” tại chùa Trúc Lâm để đào tạo các tăng sĩ.
Tại Bắc Kỳ, ngày 23.12.1934, Tổng Đốc Nguyễn Năng Quốc đã chính thức tuyên bố thành lập “Phật Giáo Bắc Kỳ Hội”, lấy chùa Quán Sứ làm trụ sở và cho xuất “Tập Kỷ Yếu số 1” và sau đó là tạp chí “Đuốc Tuệ”. Tạp chí này cho biết trong vòng một năm đã có 2.000 tăng ni và hơn 10.000 Phật tử là hội viên.
Trong bộ “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”, Tập III, Nguyễn Lang, tức Thiền Sư Nhất Hạnh, đã cho biết: “Hiện nay nhờ thế lực của các quan đại thần và của các bậc thượng lưu, hội đã lan ra hầu khắp Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bô..” (tr. 168)
Trong “Việt Nam Phật Giáo tranh đấu sử” Tuệ Giác đã công nhận: “Phải nói rằng từ năm 1920 đến hết năm 1956, Phật giáo Việt Nam thật là một thời kỳ hưng thịnh. Số Phật Tử càng ngày càng đông các tổ chức thanh niên, sinh viên, học sinh Phật tử đều được sắp xếp quy củ.” (tr. 77)
Trên đây là những sự ghi nhận của các sử gia Phật Giáo. Như thế mà bảo Phật Giáo bị Pháp chèn ép sao?
MỘT VÀI NHẬN XÉT
Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 23.2.2008, Thượng Tọa Không Tánh thuộc GHPGVNTN không được công nhận, đã nhận xét về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu gởi cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng như sau:
“Cái vấn đề là mình phải biết rằng bây giờ là do ai thúc đẩy mà Hòa Thượng Trung Hậu đã làm cái văn thư đó, là do cái lệnh của ai, và người ta đã mượn tay Hòa Thượng Trung Hậu làm cái văn thư đó nhắm mục đích gì. Mình phải biết cái chuyện đó.
“Bây giờ biết cái tài sản đó là của Tòa Khâm Sứ từ thời xa xưa rồi. Cái chuyện đó ai cũng biết. Từ cái thời xa xưa đó, lúc đó Hòa Thượng Trung Hậu cũng chưa sinh ra, và cái GHVN cũng chưa có. Bây giờ người ta lại mượn tay Phật Giáo.
“Có những cái luật bất hồi tố. Thí dụ như có những tài sản, theo quốc tế người ta quy định, thí dụ như là những cái đất đai, những cái tài sản mà nó có từ Đệ Nhất hay Đệ Nghị Thế Chiến, thí dụ như vậy, hay là những cái thời điểm nào đó thì nó đã trở thành bất hồi tố. Cho nên bây giờ nó đã qua như vậy rồi.
“Bây giờ thì Nhà Nước Cộng Sản họ thấy họ khó đáp ứng theo cái đòi hỏi, cái đấu tranh, cái nguyện vọng của bên Công Giáo, thì họ mượn tay của Phật Giáo Việt Nam, rồi cuối cùng họ lấy cái cớ đó mà nói rằng tài sản này có tranh chấp nên chúng tôi không thể giải quyết hay là đình lại, hay là thế nọ thế kia gì đó. Như vậy, vai trò GHPGVH trở thành tay sai để gỡ cái rồi cho Nhà Nước, trước cái hoàn cảnh Nhà Nước không có cái cách để mà giải quyết.
“Còn đối với GHVNTN là một giáo hội đang bị bức tử, đang bị đàn áp, đang là một nạn nhân. Còn cái việc của GHVN đã làm đó, mình chẳng có để ý gì cái việc đó.”
Trong cuộc phỏng vấn ngày 21.2.2008, ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó Vụ Trưởng Vụ Công Giáo thuộc Ban Tôn Giáo Chính Phủ Việt Nam đã nói về văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu như sau:
"Nếu nói nguồn gốc của tổ chức cá nhân này, thì tổ chức cá nhân khác, người ta cũng có các căn cứ, các chứng lý, để nói đó là của người ta"
Ông nói sẽ xử lý các vấn đề trên tinh thần của Luật Đất Đai năm 2003 đã được Quốc Hội thông qua và phía Chính phủ sẽ giải quyết các nhu cầu của cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng về nhà, đất lâu dài và ổn định trên cơ sở thấu tình đạt lý.
Ông Thịnh bênh vực GHPGVN là chuyện đương nhiên, vì tổ chức này là một công cụ tôn giáo vận của Đảng và Nhà Nước. Nhưng ông đã ngụy biện. Như chúng tôi đã nói ở trước, GHPGVN mới được thành lập năm 1981, không phải là sử hữu chủ hay thừa kế hợp pháp của sở đất mà vua Lý Thánh Tông đã lấy để xây chùa và tháp Báo Thiên trên đó, nên về phương diện pháp lý, Giáo Hội này không có tư cách và thẩm quyền để khiếu nại. Do đó, không cần phải xét đến văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu làm gì.
Chúng tôi tin rằng nhà cầm quyền thừa biết rằng không hề có chuyện Pháp đã cho đập chùa Báo Thiên rồi lấy đất cấp cho Công Giáo và Giáo Phận Hà Nội đã thủ đắc hợp pháp quyền sở hữu của sở đất này theo thời hiệu. Nhưng họ vẫn dùng tờ Công Giáo và Dân Tộc và Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước để quấy rối, với mục đích nói với phía Công Giáo rằng yêu cầu của các ông có sự chống đối của Phật Giáo. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xét và cấp đất cho Giáo Hội theo sự quy định của Luật Đất Đai năm 2003. Đây là một trò chơi lá mặt lá trái rất quen thuộc của Đảng CSVN.
Về sự ưu đãi: Nếu Thiên Chúa Giáo Việt Nam có được một chính quyền nào đó ưu đãi một vài thứ gì đó thì những ưu đãi đó cũng chưa bằng 1/10.000 những ưu đãĩ mà các chính quyền đã dành cho Phật Giáo trong quá trình lịch sử. Dưới thời Lý – Trần, chính quyền đã dâng hiến cho Phật Giáo một số tài sản lên đến bằng 1/3 tài sản quốc gia, khiến nền kinh tế bị kiệt quệ.
Trong 32 năm qua, nhà cầm quyền CSVN cũng đã và đang xây nhiều chùa và trung tâm rộng lớn cho Phật Giáo ở Vũng Tàu, Sài Gòn, Đà Lạt... Một ngôi chùa tuyệt đẹp vừa được chính quyền địa phương dựng lên ở Tiên Sa, Đà Nẵng. Trong khi đó, chính quyền chẳng những không xây một nhà thờ nào cho Thiên Chúa Giáo, trái lại còn đập phá hay ngăn cản không cho sửa chửa các ngôi thánh đường đã quá cổ và hư nát.
Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước thử suy nghĩ xem: Tại sao chỉ một mình Phật Giáo được hưởng các sự ưu đãi tối đa, còn các tôn giáo khác không được?
Ở các nước Tây Phương, nơi có đông Thiên Chúa Giáo, có quốc gia nào áp dụng thứ luật kỳ thị đó đối với Phật Giáo đâu?
Lữ Giang
Phụ chú