Nam Trung Hoa Lên Cơn Động Kinh
Duy Hoàng
Khi Trung Quốc thiết lập một đơn vị hành chánh mới để quản lý 3 quần đảo trên biển Nam Trung Hoa vào tháng 12/2007 — trong đó có 2 quần đảo do Việt Nam tuyên bố chủ quyền — thì Bắc Kinh đã khơi lại một hoàn cảnh bối rối khó chịu cho Hà Nội. Liệu nhà cầm quyền CSVN, có nên vì quyền lợi của tổ quốc, mạnh mẽ đưa ra tuyên bố chủ quyền lịch sử của đất nước trên vùng lãnh thổ bị tranh chấp, hay chỉ bảo vệ quyền lợi hẹp hòi của ĐCSVN bằng cách cúi đầu quỳ lạy một tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc đang ủng hộ Hà Nội về mặt chính trị.?
Mối lo sợ đó chính là một thế hệ mới của người Việt Nam hiện đang bắt đầu hòa mình vào một cuộc tranh luận giữa quyền lợi của đất nước đối với quyền lợi của đảng; thế hệ này đang xuất hiện bên cạnh dân tộc; và họ ít sẵn lòng chấp nhận việc nhà nước kiểm duyệt cuộc tranh luận đó.
Hoàn cảnh bối rối này là sự kiện mới nhất trong một mối bất đồng đã có từ lâu. Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Nam Trung Hoa, bao gồm nhiều đảo nhỏ và các rặng san hô ngầm giàu có về hải sản, và có khả năng là nguồn dự trữ dầu hoả, đồng thời có vị trí chiến lược tại một trong những hải lộ bận rộn nhất thế giới. Đối với các quốc gia có quan tâm về tự do hàng hải và một giải pháp ôn hòa cho các tranh chấp về hải phận, thì vấn đề biển Nam Trung Hoa có nhiều ẩn ý chiến lược. Dầu hoả vận chuyển từ Vịnh Ba Tư đến Nhật Bản và Nam Hàn phải đi qua vùng biển này. Và hải quân Hoa Kỳ không muốn Trung Quốc coi biển Nam Trung Hoa như một cái hồ riêng của họ.
Các triều đại vua chúa Việt Nam trải dài hàng thế kỷ qua đã tuyên bố chủ quyền trên những vùng biển mà bây giờ được biết như Hoàng Sa và Trường Sa. Và người Việt Nam không phải là những kẻ duy nhất dòm ngó các quần đảo này. Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Mã Lai Á, và Phi Luật Tân tất cả đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc từng phần trên một hoặc cả hai quần đảo này. Tổng thống Đài Loan Trần Thuỷ Biển đã đích thân khánh thành một phi đạo trên một đảo thuộc quần đảo Trường Sa hồi đầu tháng này.
Trong thế kỷ 20, việc tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đã trở thành một con bài thương lượng trong cuộc tranh đấu dành quyền kiểm soát đất nước. Năm 1958, bốn năm sau khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Bắc và Nam ở vĩ tuyến 17, thì thủ tướng của Bắc Việt là Phạm Văn Đồng đã gởi một công hàm đến Chu Ân Lai, nhìn nhận tuyên bố chủ quyền tổng quát của Bắc Kinh trên toàn bộ biển Nam Trung Hoa. Phía cộng sản Việt Nam hy vọng rằng, bằng cách làm như vậy thì họ sẽ đạt được sự hậu thuẫn của Trung Quốc cho cuộc chiến với miền Nam.
Nhưng không sao cả vì hai quần đảo đó không phải của Hà Nội để họ cho không vào lúc đó — Miền Nam Việt Nam có quyền sở hữu hợp pháp và hợp lý trên hai quần đảo vì (hai quần đảo) nằm dưới vĩ tuyến 17. Năm 1974, lợi dụng chiến tranh đang xảy ra tại Việt Nam, Bắc Kinh đã tìm cách thắt chặt thêm chủ quyền của họ bằng việc xâm lăng Hoàng Sa. Sau một trận hải chiến kéo dài ba ngày, Trung Quốc đã chiếm đoạt quyền kiểm soát quần đảo này từ phía miền Nam Việt Nam. Phản ứng của cộng sản miền Bắc là im lặng, với các tuyên vận viên của của Hà Nội tuyên bố rằng, chẳng thà để cho các quần đảo này lọt vào tay của một nước cộng sản đồng chí, còn hơn là rơi vào tay của chế độ Sài Gòn.
Sau chiến tranh, chế độ Hà Nội đã chính thức tuyên bố rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, nhưng thường nhịn nhục các hành động của phía Trung Quốc muốn đóng chặt quyền kiểm soát trên các quần đảo. Trong vài năm vừa qua, nhiều tàu hải quân Trung Quốc thỉnh thoảng đã bắn phá các tàu đánh cá Việt Nam và làm thiệt mạng nhiều ngư phủ trên vùng biển ngoài khơi Việt Nam, mà Trung Quốc tự coi là khu vực kinh tế độc quyền của họ. Phía Trung Quốc gọi những ngư phủ Việt Nam là hải tặc. Nhưng các cơ quan truyền thông báo chí quốc doanh của Việt Nam đã hầu như làm ngơ các vụ tấn công này, và trong một vài bài báo vẩn vơ chỉ dám đề cập các vụ bắn phá các ngư phủ là bởi các “tàu lạ”.
Đồng thời, việc tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo đã đánh trúng vào lòng yêu nước trong nội địa. Mặc dù chế độ đã có nhiều nỗ lực cao nhất để giữ vụ tranh chấp ra khỏi trí óc của mọi người, hầu tránh việc tăng thêm căng thẳng với Bắc Kinh, nhưng nó vẫn là một đề tài gây ra nhiều cảm xúc trên đường phố. Vừa qua đã có nhiều lời kêu gọi từ phong trào của các blogger trong nước, yêu cầu nhà nước Việt Nam đưa vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Nhiều tin tức đưa ra cho rằng Trung Quốc đã nắm chặt quyền quản lý hành chánh trên các quần đảo, đã gây nên những cuộc biểu tình phản đối của sinh viên, mà trước đây chưa từng xảy ra, ở bên ngoài đại sứ qúan Trung Quốc tại Hà Nội và lãnh sự quán tại TPHCM.
Nhà cầm quyền Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp để đe doạ và sau đó cấm đoán các cuộc xuống đường biểu tình. Công an đã đi xa hơn bằng cách bắt giữ những bloggers nào thông báo kêu gọi biểu tình. Nhưng mặc dù như vậy, áp lực có lẽ đã trở nên quá nặng nề. Các cơ quan truyền thông chính thức đã cho đăng tải một bản tin của báo South China Morning Post nhiều tuần lễ sau đó, trong bản tin này có thuật lại lời của một viên chức chính quyền địa phương Trung Quốc nói rằng ông ta không biết gì về vụ thành lập thành phố Tam Sa, với mục đích làm thuyên giảm đi sự nghiêm trọng của hành động vừa qua của Trung Quốc.
Làm cho vấn đề càng rắc rối hơn là cái ghế của Việt Nam vừa cực khổ giành giựt được tại Hội đồng Bảo an. Chế độ hy vọng rằng cái ghế này sẽ là một cơ hội để đánh bóng hình ảnh của họ ở trong lẫn ngoài nước. Bây giờ Hà Nội phải đáp ứng lại lời kêu gọi của dư luận quần chúng, dùng cái vị trí cao trọng của Việt Nam trên trường quốc tế để theo đuổi vấn đề tuyên bố chủ quyền lãnh thổ quốc gia, vốn đi ngược lại với quyền lợi tối thượng của đảng.
Không có gì phải nghi ngờ là có nhiều thành phần trong chế độ — và đặc biệt là trong giới Quân đội Nhân dân Việt Nam — quan ngại về chính sách bành trướng của Trung Quốc. Nhưng lại có một số lớn hơn các thành phần trong chế độ rất lo sợ về “diễn biến hoà bình”, là danh từ của đảng dùng để gọi sự thay đổi về dân chủ, có thể đưa đến hậu quả là nghiêng quan hệ hữu nghị khỏi Trung Quốc và về phía Tây phương.
Rất khó khăn cho Hà Nội để tiếp tục đi theo mô hình Trung Quốc — cởi mở kinh tế, khép lại chính trị — khi cùng một lúc lại phải đối đầu với kẻ ủng hộ mình, thêm với sự lệ thuộc về lý thuyết của Hà Nội đối với Trung Quốc. Nhưng mối lo sợ lớn nhất của chế độ không phải là Trung Quốc. Mối lo sợ đó chính là một thế hệ mới của người Việt Nam hiện đang bắt đầu hòa mình vào một cuộc tranh luận giữa quyền lợi của đất nước đối với quyền lợi của đảng; thế hệ này đang xuất hiện bên cạnh dân tộc; và họ ít sẵn lòng chấp nhận việc nhà nước kiểm duyệt cuộc tranh luận đó.