Dòng thơ Vĩnh Nhất Tâm


NỖI LÒNG NGƯỜI CHẠY GIẶC


Ta không phải, kẻ ngây thơ, khờ khạo
Đường trần ai còn mò mẫm, chưa tường.
Để giống nòi vác nặng những tai ương,
Biến mơ tưởng...thành thiên đường ảo vọng?

Ta tha thiết từ bao năm trong mộng
Giữa xứ người: cười, khóc chẳng ai hay!
Vẫn làm Thân Chạy Giặc, sống qua ngày
Không mơ tưởng gì hơn... tình Cố Quận

Ta tin tưởng không ai quên Quốc Nạn
Như ngàn xưa Lê Lợi với Mười Năm
Chống nhà Minh, giặc Hán cướp giang san
Cùng Nguyễn Trãi xoay càn khôn, khôi phục...

Thương cả nước trong nỗi đau: Quốc Nhục?
Do Mao-triều lợi dụng bọn vô tâm
Đã nhân danh "đuổi giặc Pháp xâm lăng"
Để dâng đất tiền nhân cho giặc Hán.

Thác Bản Giốc ải Nam Quan, giới tuyến
Lẫn "bản triều" Bắc-bộ-phủ trong tay
Khác gì hơn là ngoại tộc từ ngày:
Hồ phản quốc cắt chia bờ Nam Bắc?

Lá cờ máu là chư hầu, đâu khác!
Mấy mươi năm, các bạn thấu chưa nào?
Khi trùng dương dậy sóng, chửa hay sao?
Hãy nhớ lại "Ngàn Năm" trăn trở đó!!!
Vĩnh Nhất-Tâm 12.01.2008

HIỂM HỌA


Lạc Hồng, trang sử ngàn năm
Giang sơn một cõi...cháu Tiên con Rồng.
Ải Nam Quan thế biên phòng
Bao triều phương Bắc lâm vòng thây phơi.

Ngàn thu không đội chung trời
Xưa nay Việt Hán, hai trời đối nhau.
Thư hùng, mấy trận trước sau
Bắc Nam “bờ cõi phân mao ” rõ ràng.

Tổ Tiên cơ nghiệp vững vàng
Non sông kỳ vĩ, trời Nam oai hùng.
Tiếc thay sự nghiệp Quang Trung
Còn đang dang dở, hóa công an bày...

Băng hà vào lúc nghiệt thay!
Não nùng non nước, phủ đầy tang thương.
Gặp Nguyễn Ánh lúc tranh vương,
Nhờ vào nước Pháp, tìm phương san bằng

Thắng Tây Sơn, được ngai vàng
Sau năm thập kỷ, thực dân thay lòng ?
Mấy đời hậu bối Gia Long
Non sông nghiêng ngửa giữa dòng trầm luân.

Bắc-Trung-Nam khắp ba miền
Anh hùng hào kiệt gắn liền máu xương
Sáu mươi năm một chiến trường
Toàn dân nước Việt đuổi phường thực dân.

Trận sống mái, đảng Quốc Dân
Tinh thần Yên Báy máu loang sơn hà.
Đoạn đầu tận số Mười Ba
Muôn dân căm phẫn, xông pha diệt thù.

Bừng bừng “Cách Mạng Mùa Thu”
Vừng hồng độc lập, tinh mơ chưa tròn.
Chẳng may, loại ốc mượn hồn
Theo đuôi chủ thuyết, vô thần Mác-Lê

Mang dân vào chốn lê thê
Mượn danh chống Pháp, dể bề mị dân.
Thừa cơ tiêu diệt từng phần
Những nhà Ái-quốc vì dân một lòng.

Đuổi thực dân, cứu giống dòng
Than ôi ! Bi thiết, nỗi lòng ai hay ?
Ngấm ngầm “ném đá dấu tay”
“Bác Hồ vĩ đại” có ai sánh bằng?
30.04.1980

TÂM SỰ CÙNG CÁC EM



Trời quê hương, bên kia bờ biển Thái
Nay biến thành địa ngục giữa trần gian.
Mấy mươi năm với chủ nghĩa vô thần,
Đã đảo ngược cả luân thường đạo lý.

Có phải không em? Đời buồn quá nhỉ?
Những phố phường, hàng quán của ngày nao.
Có còn chăng...chỉ trong giấc chiêm bao,
Anh tin chắc cỏ cây còn ủ rũ.

Và đâu nữa những bạn thân, thầy cũ?
Những con đường hoa trắng có còn không?
“Đảng” bắt em đi đến những nông trường
Biến mười ngón tay thon thành… sỏi đá

Hẳn Em biết nhiều hơn anh hết cả;
Một “thiên đường Cộng Sản” quá điêu ngoa.
Chúng bắt Em: con “ngụy” phải thi đua,
Để tẩy não thành “cháu ngoan của Bác”

Em tuyệt đối không thể nào con “ngụy”,
Vì cha Em đâu theo Pháp, Tàu, Nga
Rước ngoại nhân vào chuốc khổ trầm kha
Phá luôn cả giang sơn và tổ quốc.

Em thừa hiểu, Cha em, người giữ nước,
Định nghĩa thế nào Cộng bảo “ngụy quân”?
Phường loạn ngôn nên dân mãi cơ hàn
Ai cũng rõ trò trả thù, ngược đãi

Chúng chém giết bất nhân, không hối cãi,
Ngược lòng nhân và phản bội giống nòi.
Để ngoại nhân sai bảo tợ tôi đòi
Mà cứ tưởng mình đứng ngang thiên hạ.

Nhờ cấm vận thu hồi, đâu có lạ!
Mở thương trường, đường rộng rải ăn chơi
Đóng thêm đinh, cửa ngục tới ngạt hơi
Gom tiền của, mặc tình tiêu hoang phí

Mấy mươi năm, một “thiên đường ấu trĩ”,
Dân đã nghèo, lại càng phải nghèo thêm
Vác đau thương, mang trên cổ xích xiềng
Vì “ơn Đảng” nên khổ DÂN, mất NƯỚC?

Em là một chứng nhân cho đất nước,
Khi vào tay của lũ giặc vô thần:
Sáng đến trường bị nhồi sọ “Mác-Lê”
Chiều về ngắm, khen “bác Hồ”: vĩ đại

Anh cảm phục tuổi Em dù nhỏ dại,
Sống trong bùn vẫn trong sạch như sen.
Chẳng nhuộm màu, chẳng tráo trở, bạc đen,
Nên tâm sự với Em lòng nhớ nước.

Hơn mười năm như xa dần từng bước:
Lờng dặn lòng từ ngày vượt biển Đông
Phải cứu dân ra khỏi ách cùm gông,
Đưa dân tộc thoát khỏi hầm tai vạ.

Thôi chừng ấy, dòng thơ anh tâm sự:
Nỗi niềm đau viết bằng máu thấm hồn.
Trao tặng Em mang dòng máu Triệu, Trưng,
Mưu trí lớn, anh thư dòng giống Việt.

Em, trai Việt noi gương dòng tuấn kiệt
Của Đức Trần, của Lê Lợi, Quang Trung...
Của Trần Bình Trọng trước bọn giặc Mông,
Của Thái Học... ung dung giờ Tuẩn Quốc.

Nhớ nghe Em! Tình thương Nòi, giữ Nước,
Kẻ đầu non, người cuối bể: một lòng.
Quyết đấu tranh cho nòi giống Tiên Rồng
Cho Việt-tộc thoát khỏi vòng nô lệ.

Vĩnh Nhất-Tâm viết sau ngày Mỹ “bỏ cấm vận” 1990

HỠI LOÀI MAN RỢ


Bà Triệu, Bà Trưng: trang nữ-kiệt
Một lòng khởi nghĩa cứu non sông
Đuổi quân xâm lược từ phương Bắc!
Việt, Hán: hai trời không đội chung!

Xung trận, gươm vàng vung hiển hách!
Đằng Giang thủy táng bọn xâm lăng
Chi Lăng, bọn giặc bay hồn phách
Đại Hán bao triều cũng vỡ tan.

Như Nguyệt trận đầu, quân Tống vỡ
Phục thù: Đại Việt đánh ba Châu
Chương Dương, Vạn Kiếp... quân Mông Cổ
Giặc chết, thây phơi tuyến địa đầu

Quân Mãn ngang tàng, Tôn Sĩ Nghị
Vứt luôn ấn soái, chạy tay không
Đống Đa: Nghi Đống đành treo cổ
Trang sử nước nhà rực chiến công
Đại Việt ngàn năm lưu sách sử
Bao nhiêu hào kiệt rất kiên cường
Có đâu như lũ làm tôi tớ,
Thảm đỏ lót đường, rước Bắc phương!
Nhục nhã vô cùng, năm Bảy Chín (1979)
Kiêu căng tự đắc: “Vượt Trường Sơn”
Mà không trấn nỗi Nam Quan ải!
Để giặc thừa cơ cướp nước non

Thập kỷ tám mươi (1980-1990), đầu giới tuyến
Hán quân chiếm đất biết là bao?
Sâu vào lãnh thổ..., câm như hến
Lính chết, thây phơi khắp địa đầu...

Ba mốt năm, lòng dân uất hận
Ngàn sau hậu thế chẳng ai quên
Rước thù: quốc nhục, đau canh cánh
“Cách Mạng” ngu đần phản tổ tiên.

Hồ tặc rước voi dày đất tổ
Nhuộm “hồng” áo… “đỏ” lũ “đười ươi”
Vô tâm: đoàn, đảng đều man rợ
Chinh, Duẩn, Đồng, Phiêu, Giáp, Kiệt, Mười

Lương, Khải, Mạnh, An, Trà…tướng tá
Thầy nào, trò ấy khác gì đâu
Đẩy dân vào kiếp làm nô lệ
Ba mốt năm rồi ai thấu cho???
Vĩnh Nhất-Tâm 3-05-2006

VIỆT TỘC VÙNG LÊN!



Nước Nam lừng lẫy thời hưng quốc
Dấu ấn ngàn năm đuổi Bắc phương
Uy dũng oai phong, tài giữ nước
Lằn ranh Việt, Hán: nhớ Trưng Vương.

Dẹp yên phương Bắc, nhưng chưa dứt
Thống nhất sơn hà, mộng chửa xong
Đáng tiếc Quang Trung sao sớm thác...?
Nên màu dân chủ vẫn hư không
Trời Nam chưa thoát vòng nô lệ
Nguyễn Ánh thừa cơ rước Pháp về
Đau đớn thêm lần nhơ quốc thể
Trăm năm Pháp trị kéo lê thê.

Chẳng may vận nước còn tăm tối
Gặp kẻ gian hùng hại núi sông
Rước kẻ thù chung, trời không đội.
Hồ trong Pác-pó hại giang sơn.

Bốn Lăm (1945) thủa ấy muôn dân đợi
Một lá “cờ thiêng của Lạc Hồng”
Từ Bắc chí Nam bay phất phới
Nhưng rồi ngăn cách bởi dòng sông;

Bến Hải cắt chia trời Nam, Bắc
Hiệp Định Đau Lòng đâu dễ quên.
Hồ tặc, quả là tên phản trắc!
Theo Tàu, rước Mác, vác Lê-nin.

Bảy Lăm Quốc Nạn (1975) loang màu máu
Đất Việt, trời Nam phủ một màu:
“Giải phóng” trải đầy xương, thịt, máu
Mỹ từ “cải tạo”, gốc nhà lao.

Nước Nam hoang phế, thành trơ trụi
Một đám hung đồ đáng phỉ-khinh
Hán tộc sai đâu, qùy tới đấy
Làm sao mệnh nước chẳng chênh vênh

Bao giờ Việt-tộc vươn lên nhỉ!
Chẳng lẽ, ngồi xem Bắc thuộc sao?
Hán Cộng còn hơn loài quái quỷ
Tần... xưa, nay lại tái sanh Mao.
Vĩnh Nhất-Tâm

ĐỒNG TÂM LẤY LẠI NƯỚC NHÀ


Tiền nhân từng lớp đem xương trắng
Dân Việt ngàn năm đổ máu đào
Tô điểm non sông, trừ giặc Hán
Mà sao hùng khí đất thiêng cao

Để cho một lũ làm tôi tớ
Dâng ải Nam Quan tuyến địa đầu?
Lãnh hải, Hoàng Trường đem trả nợ
Sau ngày “Quốc Hận” của “Năm Tư”

Quyết không để giặc làm hoen ố:
-Sử Việt ngàn năm máu vẫn sôi!
-Việt-tộc muôn đời thương đất Tổ
-Anh hùng liệt nữ vẫn muôn nơi.

Dù cho trời đất xa muôn dặm
Máu chảy trong tim vẫn Lạc Hồng
Giữ một lòng son, thề Quốc Nạn
Đường về cố-quốc vẫn hằng mong!

Đường về cố-quốc phải thành công!!!
Đồng tâm lấy lại toàn non nước
Chữ “S” giang sơn của Tiên Rồng
Diệt lũ gian manh, loài phản quốc.

Cam làm tôi tớ bán non sông
Buôn dân, vơ vét… loài man rợ
Bán trẻ thơ ngây chửa biết gì...
Qủa tội tày trời quân giặc đỏ!

Bán người rao cả “Lưới Ebay.”
Vĩnh Nhất-Tâm

ẢI NAM QUAN ĐÂU NHỈ!?


Đồng bào ơi! Ai buôn dân bán đất?
Ải Nam Quan, vùng chiến lược địa đầu.
Dâng cho Tàu, ôi quả thật là đau!
Còn đâu nữa! Nam Quan ngàn năm trước.

Hỡi các bậc sĩ-phu trong ngoài, nước,
Vì Tiền nhân xin cùng cất bước đi.
Đã hết rồi! Vận nước rất suy vi,
Chờ ai nữa! Ải Nam Quan đã biến

Ngô, Lê, Lý; Trần, Hậu Lê, Tân Nguyễn
Ải Nam Quan là cửa tử quân thù.
Trải bao triều phương Bắc vẫn còn trơ
Giặc khiếp sợ đâu dám liều bén mảng.

Thật quái quỉ, bọn phỉ quyền cộng sản,
Là tội đồ đã giết hại nhân dân.
Đất tổ-ti ên đem đi bán từng phần
Ai dân Việt không hận thù chứ nhỉ?

Giờ đã điểm xin đừng ai vị kỷ,
Chữ “đồng tâm” thuở “Hội Nghị Diên Hồng”
Cả trong, ngoài đặt chủ đích non sông,
Trên tất cả những lợi quyền riêng biệt.

Chỉ có thế mới là tình bất diệt,
Tình quê hương, tình không của riêng ai!!!
Vĩnh Nhất-Tâm