Tôn Giáo và Chính trị…
VAI TRÒ TÔN GIÁO TRONG SINH HOẠT BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở HOA KỲ
Thạch Nguyên
Trong thời gian hơn sáu tháng qua, vấn đề tôn giáo, nói rõ hơn, tín ngưỡng của ứng cử viên Tổng Thống, được dư luận và báo chí Hoa Kỳ lưu ý nhiều trong cuộc vận động bầu chọn ứng cử viên của đảng Cộng Hòa. Trong số các ứng cử viên đảng Cộng Hòa, Mitt Romney là tín đồ đạo Mormon, một tôn giáo rất khác biệt so với các giáo hội Tin Lành cùng có đức tin nơi Đức KiTô. Sự kiện này đã khiến nhiều người liên tưởng đến trường hợp John F. Kennedy, ứng cử viên đảng Dân Chủ, trong cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1960.
Mitt Romney là ngôi sao đang lên của đảng Cộng Hòa, một doanh gia có tài quản lý, lãnh đạo. Ông đã tổ chức thành công Winter Olympics ở Salt Lake City, Utah, năm 2002; là cựu Thống Đốc tiểu bang Massachusetts (2002-2006) nơi được xem là vùng đất ảnh hưởng của đảng Dân Chủ với nhiều thành quả tốt đẹp. Cha của ông là George Romney, Thống Đốc tiểu bang Michigan ba nhiệm kỳ liên tiếp. Năm 2006, Romney được bầu làm chủ tịch Hội Các Thống Đốc Cộng Hòa.
Đạo Mormon
Đạo Mormon (1), tên chính thức Church of Jesus Christ of Latter-Day Saints (LDS), hình thành năm 1830 ở tiểu bang New York. Giáo chủ Joseph Smith được mặc khải dịch quyển sách “Book Of Mormon” từ những chữ khắc trên thẻ vàng ẩn dấu dưới lòng đất. Đây là quyển Thánh Kinh của đạo Mormon, “một kinh ước khác của Chúa KiTô” (“Another Testament of Jesus Christ.”)
Đạo Mormon hiện nay có hơn 4.2 triệu tín đồ ở Hoa Kỳ (thống kê năm 2000), là tôn giáo lớn hạng thứ sáu ở Hoa Kỳ. Nhà thờ chánh tòa đặt ở Salt Lake City, thủ phủ tiểu bang Utah. Đa số cư dân Utah là tín đồ Mormon. Đạo này hiện phát triển rất mạnh ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác nhờ tinh thần dấn thân truyền giáo của giới thanh niên. Họ thường đi truyền giáo từng nhóm 2 hay 3 người.
Nói đến giáo hội Mormon, dư luận thường nghĩ ngay đến chế độ đa thê được giáo hội cổ súy và thịnh hành trước đây. Từ khi Utah trở thành tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1890, dưới thời giáo chủ thứ tư Wilford Woodruff, định chế đa thê đã trở nên bất hợp pháp về mặt đạo cũng như mặt đời, mặc dù hiện nay vẫn còn có chi phái đạo này tiếp tục duy trì ở vài nơi.
Tín đồ Mormon tuân giữ luật lệ đạo như người Công Giáo, Tin lành, Do Thái truyền thống, bảo thủ giữ đạo. Họ kiêng cử thức ăn uống kích thích như rượu, cà phê, trà, thuốc lá…, quan tâm đến nếp sống gia đình, đóng góp tích cực vào những hoạt động của giáo hội và cộng đồng xã hội. Nói tóm, về chiều kích xã hội và trách nhiệm công dân, tín đồ Mormon sống gương mẫu như bất cứ tín đồ KiTô giáo nào ở Hoa Kỳ. Nhưng cái làm tín đồ Mormon tách rời khỏi các KiTô giáo khác chính là những điều họ tin tưởng, không phải những hành động họ làm (2).
Ngoài thành kiến “đa thê” có trước nay trong dư luận, đạo Mormon không chia sẻ chung một số tín lý của các KiTô giáo khác ở Hoa Kỳ.
Đạo Mormon không tin tưởng vào “Chúa Ba ngôi,” nhưng tin rằng Chúa Cha và Chúa Con là hai ngôi vị với hai bản thể riêng biệt, và cũng tách rời với Chúa Thánh Thần.
Họ cũng không tin Thiên Chúa tao dựng vũ trụ từ hư vô, nhưng xếp đặt từ những thành tố có sẵn (2).
Nhưng điểm giáo lý tách biệt đạo Mormon khỏi truyền thống KiTô giáo là quan niệm về cuộc sống đời sau (afterlife). Công Giáo và Tin Lành đều tin sau khi chết, mỗi người sẽ lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục. Người Công Giáo còn tin trước khi lên thiên đàng, có thời gian ở nơi “luyện hình” để đền tội.
Tín đồ Mormon tin rằng sau khi chết những “đứa con của tội lỗi,” (Sons of Perdition) sẽ đến chỗ “Tối Tăm,” và những người khác tùy theo sự xét định của Thiên Chúa – căn cứ vào mức độ tốt lành của đời sống, việc tuân giữ luật Thiên Chúa, chu toàn sứ mệnh được giao phó… -- sẽ về các “Vương Quốc của Vinh Quang” (Kingdoms of Glory), tức Thiên Đàng. Nhưng thiên đàng của đạo Mormon có ba cấp bậc với mức độ vinh quang khác nhau (3), như ánh sáng của các vì sao so với mặt trăng và mặt trời nhìn từ trái đất:
• Vương Quốc Các Vì Sao (Telestial Kingdom): cấp thấp nhất, ánh sáng vinh quang mờ ảo, không rõ.
• Vương Quốc Mặt Trăng (Terrestrial Kingdom): cấp trung, ánh sáng tỏ hơn các vì sao, nhận được vinh quang của Thiên Chúa nhưng không đầy đủ, trọn vẹn.
• Vương Quốc Mặt Trời (Celestial Kingdom): Đây mới đúng là thiên đàng đích thật, chan hòa vinh quang, ánh sáng, là nơi Thiên Chúa và Đức KiTô ngự.
Đạo Mormon diễn tả diễn trình này là “đễ trở nên giống Chúa” (becoming “like God”) như một giáo chủ của đạo này trước đây đã nói: “Con người bây giờ giống như Thiên Chúa trước đây; Thiên Chúa là con người có thể sẽ trở thành.” (“As man is, God once was; as God is man may become.”) (2)
Hoa Kỳ vẫn là quốc gia theo KiTô giáo (hơn 90%), với ¼ dân số là công giáo (77 triệu), phần còn lại thuộc các giáo hội Tin Lành, đông nhất là Southern Baptist Convention với hơn 21 triệu tín đồ (thống kê năm 2003).
Mitt Romney được tôi luyện để nhận lãnh hệ thống giá trị về gia đình, đời sống đạo đức, phục vụ quốc gia… như bất cứ công dân Hoa kỳ nào về phương diện xã hội. Nhưng Romney cũng hấp thụ hệ thống tín lý của đạo Mormon. Chính sự khác biệt về tín lý đã khiến nhiều người, nếu không muốn nói là đa số dư luận, nhìn Mitt Romney với sự ngờ vực. Rất nhiều người Công Giáo và Tin Lành không xem đạo Mormon là KiTô giáo dù đức tin Mormon cũng từ Đức KiTô mà ra.
Ngày 06-12-2007, Mitt Romney đã đọc bài diễn văn quan trọng tại tòa nhà Thư Viện Tổng Thống George Bush ở College Station, Texas, “Faith in America” (“Tín Ngưỡng ở Hoa Kỳ”) để trả lời những ngờ vực của dư luận cũng như để trình bày quan điểm về tương quan giữa tín ngưỡng, tôn giáo của mình với chức vụ chính trị. Nhiều báo chí và dư luận đã so sánh diễn văn của Romney với diễn văn nổi tiếng của ứng cử viên đảng Dân Chủ John F. Kennedy đọc trước Hiệp Hội Truyền Giáo Tin Lành ở Houston, Texas, ngày 12 tháng 09 năm 1960.
Cũng cần phải nói là thời điểm tranh cử của hai bài diễn văn khác nhau. Năm 1960, Kennedy là ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, tranh với Richard Nixon, ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Mitt Romney hiện nay vẫn còn tranh cử trong nội bộ đảng Cộng Hòa để được chọn làm ứng cử viên Tổng Thống.
Năm 1960, Kennedy muốn trấn an cử tri Hoa Kỳ là ông sẽ không nhận chỉ thị từ Roma khi đắc cử làm Tổng Thống Hoa Kỳ: “Tôi không phải là ứng cử viên Tổng Thống của đạo Công giáo. Tôi là ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, theo đạo Công giáo. Tôi không nói thay cho giáo hội tôi về những vấn đề công cộng; và giáo hội tôi cũng không nói thay cho tôi.”
Bài diễn văn 2007 của Romney nhắm tới thành phần cử tri đảng Cộng Hòa ngờ vực về đức tin Mormon của ông, đặc biệt là các nhà lãnh đạo và truyền giáo các giáo hội Tin Lành, một thành phần có tầm ảnh hưởng quan trọng trong đảng Cộng Hòa hiện nay: “Tôi ứng cử với tư cách là một công dân Hoa Kỳ. Tôi không ứng cử với tư cách là tín đồ của đạo tôi. Một người không thể được chọn bầu theo tiêu chuẩn đức tin và cũng không thể bị khước từ vì đức tin của mình.”
Những Khác Biệt Giữa Hai Trường Hợp của John Kennedy và Mitt Romney
Mặc dầu dư luận báo chí đã nói nhiều đến những tương đồng giữa hai bài diễn văn và mục đich nhắm tới, giữa hai trường hợp có sự khác biệt rõ rệt, nhất là trọng điểm liên quan đến Hiến Pháp Hoa Kỳ về tôn giáo.
1. Viện Dẫn Hiến Pháp Hoa Kỳ
Cả Kennedy và Romney đều viện dẫn Hiến Pháp Hoa Kỳ để kêu gọi cử tri đừng quan tâm đến vấn đề tín ngưỡng riêng của ứng cử viên trong việc bầu chọn.
Kennedy dùng Tu Chính Án Thứ Nhất về sự tách rời giữa giáo quyền và chính quyền, giáo hội và chính phủ, và cam kết tôn trọng Tu Chính Án này để đi tới kết luận: Tín ngưỡng Công Giáo của ông không có liên hệ gì đến tư cách Ưng Cử Viên Tổng Thống cả. Nói khác, tôn giáo của ứng cử viên không phải là yếu tố xứng hợp để xét đoán ứng cử viên.
Romney không thể dùng lý luận tương tự của Kennedy vì lẽ nhiều lãnh tụ đảng Cộng Hòa theo đạo Tin Lành không ủng hộ việc tách rời giáo hội và chính quyền, nhưng dùng Điều VI của Hiến Pháp -- “no religions test shall ever be required as a qualification to any office or public trust under the United States,” tạm dịch, “trắc nghiệm tôn giáo không thể được dùng để xét định như điều kiện xứng hợp cho chức vụ hay sự tín nhiệm công cộng ở Hoa Kỳ” -- để xác định và mời gọi cử tri.
Lời kêu gọi của Romney, tuy nhiên, có ảnh hưởng rất ít đến những người sắp đi bầu chọn ứng cử viên của đảng ở Iowa trong cuộc bầu cử sơ bộ. Cuộc thăm dò dư luận ngày 10-12-2007, tức bốn ngày sau khi Romney đọc diễn văn kêu gọi, cho thấy tỷ lệ số người định chọn bầu cho Romney không gia tăng đáng kể.
Lý do không phải khó tìm. Điều VI Hiến Pháp thường được mọi người hiểu là chính phủ không thể dùng yếu tố tôn giáo như một điều kiện để giao trách nhiệm nắm giữ chức vụ công cộng, nhưng không có nghĩa là cử tri không thể không được quyền quan tâm đến tôn giáo của ứng cử viên trong việc bầu chọn.
2. Thời Đại và Thành Kiến
Ngoài việc sử dụng những điều khoản khác nhau của Hiến Pháp để binh vực cho trường hợp của mình, Romney và Kennedy còn phải đối phó với thành kiến của công luận đối với tín ngưỡng/tôn giáo của mình.
Mặc dầu như sử gia nổi tiếng Arthur Schlesinger Sr. xác nhận “thành kiến chống Công Giáo là thành kiến sâu đậm nhất trong lịch sử dân tộc Hoa Kỳ,” đến năm 1960 chủ trương bài chống Công Giáo (anti-Catholism) đã phai tàn và không được công luận chấp nhận. Sau bài diễn văn của Kennedy, tờ báo lớn ở New York lúc đó, báo New York Herald Tribune, mặc dầu luôn ủng hộ đảng Cộng Hòa, đã nhiệt liệt ngợi khen Kennedy và bài bác luận điệu của các lãnh tụ giáo hội Tin Lành muốn khích mồi ngọn lửa chống Công Giáo.
Ngày nay, theo nhận định của Laura Olson, tác giả quyển sách nổi tiếng “Religion and Politics in America,” “ứng cử viên công giáo không còn là điều dị ứng trong các cuộc vận động bầu cử ở Hoa Kỳ,” trừ một vài vùng quê ở miền Nam. Rudy Giuliani, cựu Thị Trưởng thành phố New York, đang tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống đảng Cộng Hòa với Mitt Romney, là người công giáo. Không ai đặt vấn đề tín ngưỡng/tôn giáo của ông trong việc bầu cử cả.
Mitt Romney khó thể lướt thắng dị ứng của dư luận, cử tri đối với đạo Mormon, một phần do liên hệ lịch sử của tín ngưỡng này. Ngay từ đầu, lúc mới thành lập, tôn giáo này đã mãnh liệt khước từ sự hội nhập vào dòng mạch chính của xã hội Hoa Kỳ. Chẳng hạn, tín đồ và những người lãnh đạo tôn giáo Mormon đã bác bỏ yêu sách của chính phủ liên bang yêu cầu họ từ bỏ chủ trương đa thê. Chánh quyền liên bang đã gởi quân đội đến lãnh thổ Utah đòi buộc họ phải tuân giữ luật lệ Hoa Kỳ. Mãi đến năm 1890, để gia nhập cộng đồng Liên Bang, giáo hội Mormon mới công khai và chính thức từ bỏ chế độ đa thê. Sau đó, tuy có những cố gắng của tín đồ đạo này hội nhập vào môi trường hoạt động xã hội, tôn giáo, chính trị…, mức độ hội nhập vẫn còn rất chậm.
Thử Thách Lớn Lao
Mặc dầu ngày nay người dân Hoa Kỳ có cảm nghĩ tích cực đối với người theo đạo Mormon nhiều hơn trước, thế kỷ 20, nhất là về phương diện giáo dục, gia đình, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ quốc gia…, thành kiến đối với tôn giáo này vẫn còn khá mạnh. Chẳng hạn, nhiều người Hoa Kỳ vẫn còn tin đạo Mormon cho phép đa thê. Thêm vào đó, thỉnh thoảng các cơ quan truyền thông lại nêu lên trường hợp một vài người theo đạo Mormon ở tiểu bang Utah sống với nhiều vợ (không chính thức) và một đàn con… Cuộc thăm dò mới đây của tổ chức Pew cho biết hơn 25 phần trăm dân Hoa Kỳ không bỏ phiếu cho ứng cử viên Tổng Thống theo đạo Mormon, nhưng chỉ 7 phần trăm cho biết sẽ không ủng hộ ứng cử viên công giáo.
Sau bài diễn văn của ứng cử viên đảng Dân Chủ John Kennedy, nhiều người “hy vọng vấn đề tín ngưỡng/tôn giáo của ứng cử viên sẽ không được đặt lại và vĩnh viễn quên đi” (Tổng Thống Eisenhower). Thế nhưng ngày nay, nhiều người Hoa Kỳ vẫn còn tin rằng tôn giáo của ứng cử viên là yếu tố chính đáng để thẩm định xem ứng cứ viên có xứng hợp với chức vụ chính trị quan trọng không, và đức tin là dấu chỉ hé lộ ít nhiều tâm tính cũng như phán đoán của ứng cử viên.
Như vậy, dù ở Hoa Kỳ, một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời, tín ngưỡng vẫn là yếu tố quan trọng trong quyết định bầu chọn người nắm giữ vai trò lãnh đạo quốc gia. Mitt Romney chắc chắn đang gặp phải một thử thách lớn lao trong việc vận động tranh cử vòng sơ kết của đảng Cộng Hòa, và cả sau này nữa nếu “may mắn” được chọn làm ứng cử viên đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2008. Kết quả tới giờ phút này cho thấy những cố gắng của Mitt Romney không mang lại kết quả như mong muốn.
Mặc dầu Hiến Pháp Hoa Kỳ tách riêng hai lãnh vực giáo quyền và chánh quyền, giáo hội và quốc gia, tôn giáo vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các sinh hoạt chính trị ở Hoa Kỳ, đặc biệt trong cuộc bầu cử chức vụ quan trọng nhất, Tổng Thống!
***
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Shipps, Jan, “Mormonism: The Story of a New Religious Tradition,” University of Illinois Press 1987.
(2) Shipps, Jan, “Beliefs rather than actions make Mormonism distinctive,” St Paul Pioneers Press, 12-05-2007.
(3) Mormon Wiki, “Celestial, Terrestrial, and Telestial Kingdoms.”