Nhập nhằng và ngụy biện
Tâm Thành
Đọc bài giảng của Đức Giám mục Bùi Văn Đọc tại Đền thờ Thánh Phao-lô ngoại thành
Được Chủ tịch Ủy ban Giáo lý Đức tin trình bày ngày 23-06-2009 tại Vương cung thánh đường Phaolô Ngoại thành với đề tài “Sứ vụ loan báo Tin Mừng của các Giám mục Việt Nam hôm nay” nhân chuyến hành hương Ad limima của các vị, bài giảng hẳn phản ảnh ý kiến và đường lối của đa số các chủ chăn Công giáo tại Việt Nam.
1- Công cụ của thế lực chính trị
Mở đầu, Đức Cha Đọc nói: “Trước sự phức tạp của tình hình thế giới, trước những thế lực giằng co chống đối nhau luôn muốn lôi kéo chúng tôi về phía họ, chúng tôi phải làm gì, nói gì?... Để không làm công cụ cho một thế lực chính trị nào, chúng tôi phải giữ gìn lời ăn tiếng nói… chọn thái độ dè dặt thận trọng.”
Nói cho chính xác, thật ra đó là tình hình của Việt Nam, nơi các Giám mục đang sinh sống và hoạt động, nơi có hai khuynh hướng chính trị đối nghịch nhau: một là khuynh hướng độc tài, chuyên chế của tập đoàn cai trị, hai là khuynh hướng dân chủ nhân quyền của phong trào đấu tranh cho tự do (và của toàn dân đang rên siết dưới ách CS). Xét về thế lực chính trị thì tại đó có một thế lực mạnh, tức đảng Cộng sản, vốn mang đặc tính toàn trị, nghĩa là chủ trương công cụ hóa (hay tê liệt hóa nếu cần) mọi sự, mọi người, mọi tổ chức trong xã hội; và một thế lực yếu, tức các thành phần đối kháng, đang ra sức giới thiệu các giá trị nhân bản nhân quyền bị tước đoạt và kêu mời toàn dân dấn thân đòi lại. Thành ra chỉ có đảng Cộng sản mới tìm phương công cụ hóa các Giám mục , dùng các ngài để nắm Giáo hội trong tay hầu duy trì chế độ, hay ít nhất tê liệt hóa các ngài bằng cách khiến các ngài im lặng trước sai lầm và tội ác của đảng, từ đó biến tôn giáo thành thuốc phiện ru ngủ quần chúng. Đang khi đó, phong trào đấu tranh dân chủ chỉ nhắc cho ý thức của toàn dân, đặc biệt cho lương tâm các lãnh đạo tinh thần, nhớ tới và đòi lại những quyền người cơ bản được diễn tả qua các Tuyên ngôn lẫn Công ước Quốc tế nhân quyền và qua Giáo huấn xã hội của Giáo hội, hay chí ít thì cũng kêu gọi mọi giới đồng bào hãy phản ứng mạnh mẽ và đồng loạt trước các bất công xã hội tràn lan. Ở đây xin nhắc tới một tay chuyên cổ vũ sự im lặng của các Giám mục Việt Nam là tác giả Nguyễn Cần (với bút hiệu Lữ Giang hay Tú Gàn). Qua nhiều bài viết, ông này đã lắm phen ngụy biện và chụp mũ rằng những nhà đấu tranh dân chủ trong Công giáo luôn thúc ép các Giám mục làm theo ý riêng của họ, và rằng Giáo hội Công giáo không có thói a dua, bắt chước ai cả !?!
Nếu muốn nói đến thế lực chính trị ở các quốc gia dân chủ nhân quyền, thì các thế lực này cũng chẳng chủ trương công cụ hóa ai, bởi lẽ chế độ dân chủ không phải là một ý thức hệ toàn trị độc tài như chế độ Cộng sản. Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II từng cộng tác chặt chẽ với tổng thống Ronald Reagan cuối thập niên 80 thế kỷ trước để xóa sổ chế độ CS tham tàn độc ác tại Ba Lan (1), nhưng phải chăng ngài từ đấy mang mặc cảm “công cụ của thế lực chính trị Hoa Kỳ” ? Rồi tiếp đó, với sự trợ giúp ít nhiều của Tây Âu dân chủ, những nhà chủ xướng các cuộc cách mạng tại Đông Âu, trong đó không thiếu hàng lãnh đạo Giáo hội bản địa, đã thành công trong việc đẩy đảng CS bất nhân bất tài ra khỏi ghế quyền lực, vậy chẳng lẽ các Hồng y, Giám mục này là “công cụ của thế lực chính trị Tây Âu”? Hay các ngài chỉ là “công cụ của sự thật và lẽ phải” ?
2- Vai trò ngôn sứ
Đức Cha Đọc nói tiếp: “Điều quan trọng đối với chúng tôi là không ngừng đối diện với Chúa, lắng nghe Chúa, để cho Chúa thanh tẩy tâm hồn và môi miệng, như Chúa đã giơ tay chạm vào miệng Giêrêmia và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi”. Chúng tôi phải can đảm và mạnh dạn đón nhận sứ mạng, tiếp tục để cho Thiên Chúa sai bảo: “Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói” . Hiển nhiên đây là mệnh lệnh làm ngôn sứ: nói những gì Thiên Chúa muốn nói qua Kinh Thánh và qua thời đại, đi tới đâu và gặp những ai Thiên Chúa muốn cho nghe lời cứu độ của Người. Lời này có khi là lời khuyến khích, an ủi và phù hợp với mong đợi của con người, nhưng lắm khi lại là lời cảnh cáo, phản kháng hay tuyên án trước tội lỗi của dân chúng hay của nhà cầm quyền. Thế nhưng câu trích dẫn (Gr 1,7) được dừng ở đây, và lạ một điều là để biện minh cho sự im lặng của các Giám mục về nhiều vấn đề quan trọng, gay cấn, “nhạy cảm”, dễ chọc giận nhà nước, mà lâu nay ai cũng mong các ngài lên tiếng, với tư cách thầy dạy sự thật trong tôn giáo và lãnh đạo tinh thần trong xã hội.
Đang khi đó, nếu đọc tiếp Kinh Thánh thì sẽ thấy Thiên Chúa rõ ràng báo trước khó khăn và thử thách chờ đợi kẻ được sai đi, đồng thời báo trước tính chất khủng khiếp, quyết liệt và nguy hiểm của sứ mạng phải chu toàn. Quả thế, Người lại phán: “Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi… Coi, hôm nay ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để hủy, để phá, để xây, để trồng” (Gr 1,8.10). Và qua toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta biết không những Giêrêmia mà mọi Ngôn sứ Cựu Ước đều nếm trải một cuộc đời đầy chông gai và gian khổ, rồi chết trong cảnh bị bách hại, chỉ vì trung thành với nhiệm vụ loan báo sự thật và bênh vực lẽ phải, bất chấp những hăm dọa của cường quyền thế gian. Ngay cả vị Ngôn Sứ số một là Chúa Giêsu, 12 Tông đồ của Người, và mọi Mục tử Ngôn sứ đúng nghĩa qua dòng lịch sử Giáo hội cũng không thoát khỏi số phận nghiệt ngã như thế!
Hoàn cảnh Việt Nam thời nay -hơn tất cả mọi thời khác- đầy dẫy khó khăn, thử thách và nguy hiểm cho các ngôn sứ kiêm mục tử đích thực , đòi hỏi các vị “phải can đảm và mạnh dạn đón nhận sứ mạng” (như chính ĐC Đọc xác nhận), vì chế độ CS là chế độ bóp méo sự thật và chà đạp lẽ phải, coi rẻ con người và khinh thị tôn giáo, tràn lan áp bức và nhung nhúc bất công. Vậy tại sao nhiều vị đại diện Chúa Kitô, kế nghiệp các Tông đồ, tiếp bước các Ngôn sứ, lại muốn một con đường êm ả, một kiếp sống an bình, một đường lối thỏa hiệp với chế độ, một nguyên tắc hành động “được việc hơn đúng việc”, rồi lại sử dụng (đúng ra là cắt xén) Lời Chúa để biện minh cho thái độ của mình ? (Dĩ nhiên cũng có vài Giám mục hiên ngang can đảm). Lời thánh Phaolô căn dặn môn đệ giám mục Timôthê sau đây, các vị quên bẵng rồi sao: “Tôi tha thiết khuyên anh: hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu theo giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà tìm kiếm hết thầy này đến thầy kia… Phần anh, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh” (2 Tm 4,1-3.5).
3- Chính trị và làm chính trị
Tiếp theo câu trên, Đức Cha Đọc xác định: “Sứ mạng của chúng tôi là một “sứ vụ tôn giáo”, không phải là một nhiệm vụ chính trị”. Ở đây thiết tưởng nên lưu ý: từ “chính trị” là một từ đa nghĩa, hàm hồ, cần phân biệt cho rõ: thái độ chính trị với hoạt động chính trị, làm chính trị công dân với làm chính trị đảng phái. Giáo hội dĩ nhiên không phải là một tổ chức chính trị và các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ Công giáo dĩ nhiên không được làm chính trị gia, nghĩa là không được thành lập hay tham gia một đạo quân để đấu tranh vũ trang lật đổ một nhà nước một chế độ, không được thành lập hay tham gia một chính đảng để đấu tranh nghị trường với các đảng khác hầu lên cầm quyền, không được dấn thân vào bộ máy công quyền với những chức vụ rõ rệt như đại biểu, dân biểu... (Trong thực tế tại Việt Nam hiện nay, nhiều tu sĩ và linh mục có chân trong các hội đồng nhân dân từ cấp quốc gia đến cấp địa phương, làm thành viên bộ máy cai trị của CS, hay tham gia các tổ chức ngoại vi của đảng CS như Mặt trận Tổ quốc, Ủy ban đoàn kết, với sự cho phép của các Giám mục !?!).
Thế nhưng Giáo hội nói chung và các thành phần Giáo hội nói riêng không thể không có một thái độ chính trị, nghĩa là một cái nhìn, một tiếng nói, một lối hành xử nào đó trước các vấn đề chính trị, nghĩa là trước các vấn đề xã hội, tựu trung là trước các vấn đề của cuộc sống con người (như Hòa thượng Thích Quảng Độ đã có lần khẳng định bên phía Phật giáo). Làm chính trị công dân là thế, vì Kitô hữu không chỉ là công dân của Nước Trời mà còn là công dân của một nước đất, nơi mình chào đời và sinh hoạt. Sứ vụ tôn giáo liên quan không chỉ phần hồn mà cả đến phần xác, nhất là khi thân xác bị đày đọa bởi cường quyền. Hoạt động tôn giáo thăng tiến không chỉ cá nhân mà còn cả xã hội, nhất là khi xã hội bị băng hoại vì lề lối cai trị. Giáo hội nỗ lực giúp con người không chỉ thoát khổ đau mai hậu (Hỏa ngục) và đạt tới hạnh phúc đời sau (Thiên đàng) mà còn thoát khổ đau hiện tại và đạt tới hạnh phúc đời này nữa (với phương thức riêng của Giáo hội). Tin Mừng được rao giảng không chỉ cho kẻ nghèo về của cải, về thân phận mà còn cho và đặc biệt cho kẻ nghèo về nhân phẩm, về nhân quyền... Điều này đã được chính Chúa Giê-su khẳng định khi khởi đầu sứ vụ: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho những người bị áp bức” (Lc 4,18) (2).
Vậy thì các môn đệ Chúa Kitô, đặc biệt các lãnh đạo Công giáo, làm sao có thể thờ ơ trước áp bức, bất công -đặc biệt do thế lực cầm quyền- gây ra cho cá nhân, cho xã hội, cho dân tộc; làm sao có thể im lặng trước các vấn đề thời sự nóng bỏng, từ việc Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận, các Linh mục tuyên úy quân đội, Linh mục Nguyễn Văn Lý bị cầm tù, đến việc nông dân thị dân bị cướp nhà cướp đất, công nhân bị bóc lột sức lao động, thanh niên thiếu nữ bị bán ra ngoại quốc làm lao nô tình nô, các nhà dân chủ đối kháng bị bỏ tù, các chức sắc lẫn tín đồ tôn giáo bạn bị hành hung tống ngục; từ đường lối quản lý xã hội đầy gian tham và vô trách nhiệm đến đường lối giáo dục giới trẻ kiểu chính trị hóa, “chuyên thua hồng”; từ việc nhiều cơ sở của Giáo hội như Toà Khâm sứ, linh địa Thái Hà, nhà thờ Tam Toà, trường học Loan Lý bị cướp đoạt, đến việc nhiều mảnh đất của Tổ quốc bị để mất vào tay ngoại bang?…
Im lặng trước các vấn đề thời sự nóng bỏng như thế phải chăng là “giữ gìn lời ăn tiếng nói… chọn thái độ dè dặt thận trọng” ? Tuyên bố “Chúa đòi hỏi chúng tôi can đảm nói sự thật khi cần, dù phải trả giá bằng mạng sống” , sao Hội đồng Giám mục cho tới nay vẫn chưa có Ủy ban Công lý Hòa bình (để thường xuyên nghiên cứu các vấn đề gây bức xúc trong xã hội) và Phát ngôn nhân của Hội đồng (để cấp thời lên tiếng trước các vụ việc gây chấn động toàn dân) ?
Chẳng lẽ “Tin Mừng mở ra niềm hy vọng cho tất cả thế giới, cho mọi người, đặc biệt là những kẻ bé mọn” chỉ có nghĩa là cấp học bổng cho học sinh nghèo, mở trạm xá cho người bệnh tật, đem cơm áo cho kẻ bần cùng, chuyển phẩm vật giúp các nạn nhân thiên tai? (Nạn nhân nhân tai thì tự cứu lấy!). Ứng xử như thế thì làm sao có thể nói “chúng tôi rao giảng Tình yêu của Thiên Chúa bằng “lời nói và hành động”, cho mọi người, không trừ một ai” ?? Phải chăng Tin Mừng giải thoát đã bị cắt một nửa?
4- Yêu thương người Cộng sản
Đức Cha Đọc nói tiếp: “Đã có một thời, cách đây khoảng 50 năm, có rất nhiều người ước ao được hiện diện, được rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu tại các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Sô, các nước Đông Âu, Trung Hoa lục địa, mà không được mãn nguyện. Bây giờ, chính chúng tôi, được hiện diện, được rao giảng Tin Mừng trong một Nước cộng sản” .
Nói thật, không ai ao ước sống trong chế độ CS độc tài, chỉ trừ hai hạng người: một là những kẻ đang khai thác, bóc lột nhân dân và đang đàn áp bách hại các tiếng nói đối kháng tại đó nhờ nắm và để nắm trọn vẹn quyền lực, hai là những người liều mạng xâm nhập hay can đảm trụ lại đó để an ủi, nói thay cho các nạn nhân hay cảnh báo, kết án những tên đồ tể, với thái độ sẵn sàng bị bắt tớ, tù đày, giết hại. Nay có những vị lãnh đạo tinh thần tỏ ra bằng lòng với cái quyền “được hiện diện, được rao giảng Tin mừng…” cụ thể là được phép xây dựng cơ sở, tổ chức lễ hội, đi ra nước ngoài, cất nhà thờ, mở chủng viện, truyền chức linh mục, cử hành bí tích, bay sang Âu Mỹ v.v… với cái giá là phải ngậm miệng để đảng CS tiếp tục phạm sai lầm và tội ác, phải làm thinh mặc cho chủ nghĩa CS tiếp tục đầu độc tâm trí con người, phải im tiếng cho dẫu chế độ CS tiếp tục tàn hại cuộc sống xã hội. Thế thì hiện diện để làm gì? rao giảng Phúc Âm vì mục đích chi? quan niệm Tin mừng là đường hay là muối ?
Đức Cha lại tiếp: “Nếu có ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ… Chúng tôi không thể vừa căm ghét người khác, vừa rao giảng Tin mừng Tình yêu cho họ, vì như thế là tự mâu thuẫn. Những người “ngoại giáo mới” thuộc thời đại chúng ta, trong đó có người cộng sản, cũng là một trong những đối tượng mà Thiên Chúa muốn chinh phục bằng tình yêu” . Một lần nữa, ở đây cần minh định từ ngữ “cộng sản”. Nó có ba khía cạnh như chúng tôi đã nhắc sơ trên kia: chủ nghĩa, chế độ và chính đảng. Là người Công giáo, chúng ta chẳng những không thể chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản vô thần, chế độ Cộng sản độc tài, mà còn phải tìm mọi cách khử trừ hai thực thể đang tàn hại tâm trí và xã hội đó. Thế nhưng, như các nhà đối kháng bất bạo động, Kitô hữu không chủ trương tiêu diệt đảng và đảng viên Cộng sản. Họ cũng là đồng loại, hơn nữa còn là đồng bào với chúng ta. Chúng ta chẳng có lý do gì để căm ghét bản thân họ. Tuy nhiên, để yêu thương người Cộng sản, thiết tưởng cần làm hai việc quan trọng: một là nói thẳng những sai lầm của họ để dẫn họ về lại sự thật, hai là vạch trần những tội ác của họ để dẫn họ về lại sự thiện, hầu giúp họ thoát khỏi tòa án công thẳng của nhân dân, của lịch sử trong tương lai và của Thiên Chúa trong mai hậu. Dĩ nhiên, làm những công việc này đối với cái hạng người rất tự cao, rất tự ái, đang nắm quyền, đang nắm tiền như người Cộng sản, chắc chắn sẽ chuốc lấy sự căm ghét, thậm chí sự trả thù của họ (nhưng hẳn là không chuốc sự khinh bỉ). Đó là cái giá tự nhiên của lòng bác ái sáng suốt và chân thực.
Trong thực tế, nhiều Kitô hữu chủ trương yêu người CS bằng cách im lặng trước những áp bức bất công của họ, bằng cách mời họ ăn uống nhậu nhẹt phủ phê hay tặng cho họ những món quà hậu hĩnh, đặc biệt khi xuất ngoại trở về, hầu mong họ để cho mình yên ổn hay dễ dàng cho mình nhiều loại giấy phép. Đó có phải là cách chinh phục bằng tình yêu “những người “ngoại giáo mới” thuộc thời đại chúng ta, tức những người cộng sản” hay không?
Kết luận:
Hội đồng Giám mục Việt Nam đang họp Hội nghị thường niên kỳ II tại Toà Giám mục Xuân Lộc (từ 5 đến 10-10-2009) với sự thiếu vắng hai tiếng nói can đảm: Đức TGM Ngô Quang Kiệt (ốm đau) và Đức GM Lê Đắc Trọng (mới qua đời). Nhiều hành trang nặng trĩu có thể được mang theo (hay không mang theo) đến Hội nghị: Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, An Hải, Thủ Thiêm, Hoàng Sa Trường Sa, Nam Quan Bản Giốc, Tây Nguyên bauxite, Bắc phương hiểm họa… Không rõ bài giảng của Đức Cha Chủ tịch Ủy ban Giáo lý Đức tin nói trên -một bài giảng đầy từ ngữ nhập nhằng và lý luận ngụy biện- có ảnh hưởng gì tới Hội nghị này không, để rồi dân Chúa tại Việt Nam, như mọi lần, lại tiếp tục được nghe những Thư Chung… chung vô thưởng vô phạt, những thái độ dửng dưng tránh né trước thời cuộc Đất nước ngày càng biến động theo chiều hướng thê thảm, thay vì được nghe những lời kiểu ngôn sứ thời đại như của Đức Hồng y Franz Tomasek, Tổng Giám mục Praha (Tiệp Khắc) sau đây:
“Tôi không thể nào tỏ ra xa lạ với định mệnh quốc gia của tôi và toàn thể đồng bào đất nước tôi. Tôi không thể im lặng trong lúc tất cả anh chị em đang hiệp lực với nhau để phản đối những bất công mà anh chị em phải chịu từ 40 năm nay. Người ta không thể duy trì lòng tín nhiệm đối với giới lãnh đạo quốc gia chẳng muốn nói sự thật và chối bỏ các quyền lợi lẫn các tự do của nhân dân… Từ Đông sang Tây, chúng ta đang ở giữa những quốc gia trong quá khứ cũng như hiện tại đang đập đổ những hàng rào của những chế độ độc đoán. Về phần chúng ta, chúng ta không thể nào chờ đợi được nữa. Bây giờ cần phải ra tay hành động. Chúng ta cần có một chính phủ dân chủ, nếu không thì chúng ta không thể nào thành công trong việc chận đứng những tai họa về môi sinh và những tai ương khác” (Công bố ngày 21-11-1989, trước 200.000 người biểu tình tại Praha và được đọc tại các nhà thờ Chúa nhật 26-11-1989. Bản dịch của Linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh).
07-10-2009, nhân Hội nghị thường niên kỳ II của Hội đồng GMVN
Tâm Thành
Chú thích
(1) x. cuốn “Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta” của Carl Berstein và Marco Politi)
(2) Thư Mục vụ của HĐGMVN năm 2003, tại số 3 và 7, có trích dẫn câu Tin Mừng này, nhưng chỉ lấy phần đầu (loan báo Tin Mừng cho người nghèo).
Phụ đính: Bài giảng của Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành
ROMA Ngày 23-6-2009 -- Những lời nói đầu tiên của các giám mục Việt nam đến viếng mộ các thánh Phêrô và Phaolô, dựa theo bài đọc sách Giêrêmia hôm nay, là những lời khiêm nhường của tiên tri Giêrêmia thưa với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, chúng con đây còn quá trẻ, chúng con không biết ăn nói!”.
Trước sự phức tạp của tình hình thế giới, trước những thế lực giằng co chống đối nhau luôn muốn lôi kéo chúng tôi về phía họ, chúng tôi phải làm gì, nói gì? Điều đó là một gánh nặng rất lớn, là một vấn đề không đơn giản chút nào. Để không làm công cụ cho một thế lực chính trị nào, chúng tôi phải giữ gìn lời ăn tiếng nói. Khi chọn thái độ dè dặt thận trọng, chúng tôi phải chịu đựng những lời phê phán nặng nề, và nhiều khi rất bất công. Xin dành lại cho sự phán xét của Thiên Chúa.
Điều quan trọng đối với chúng tôi là không ngừng đối diện với Chúa, lắng nghe Chúa, để cho Chúa thanh tẩy tâm hồn và môi miệng, như Chúa đã giơ tay chạm vào miệng Giêrêmia và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi”. Chúng tôi phải can đảm và mạnh dạn đón nhận sứ mạng, tiếp tục để cho Thiên Chúa sai bảo: “Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói”. Rõ ràng sứ mạng của chúng tôi là một “sứ vụ tôn giáo”, không phải là một nhiệm vụ chính trị, như Chúa Giêsu khẳng định trước mặt Philatô: “Nước Ta không thuộc về thế gian này”. Quả thật, nếu Nước Thiên Chúa thuộc về thế gian này, thì người ta có thể lôi cuốn chúng tôi theo quan điểm chính trị của họ. Nhưng Nước Thiên Chúa không thuộc về thế gian này, nên chúng tôi không dựa vào thế lực nào cả, chỉ dựa vào Chúa, dựa vào Phêrô và Đấng kế vị Phêrô mà Chúa đã đặt làm đầu chúng tôi.
Sứ vụ chính yếu của chúng tôi ngày hôm nay vẫn là sứ vụ loan báo Tin Mừng. Tin Mừng đó là tin mừng về Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại! Tin Mừng về một Thiên Chúa Tình yêu đã chiến thắng sự dữ, tội ác, và hận thù, chiến thắng sự chết là kẻ thù lớn nhất của loài người. Tin Mừng mở ra niềm hy vọng cho tất cả thế giới, cho mọi người, đặc biệt là những kẻ bé mọn.
Đó chính là lý do của sự lạc quan của chúng tôi, của nhiều người trong anh em chúng tôi. Chúng tôi vẫn tươi cười, vẫn làm việc hăng say, hết lòng phục vụ Dân Chúa và những người chưa biết Chúa. Chúng tôi hãnh diện và sung sướng nói với những người chúng tôi phục vụ như thánh Phêrô: “Anh em thân mến, tuy không thấy Đức Giêsu Kitô, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người”.
Hôm nay, tại đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, kỷ niệm 2000 năm sinh nhật của Thánh Phaolô, chúng tôi cần phải xác tín sứ mạng “đến với muôn dân” (ad Gentes), của chính chúng tôi. Đã có một thời, cách đây khoảng 50 năm, có rất nhiều người ước ao được hiện diện, được rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu tại các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Sô, các nước Đông Âu, Trung Hoa lục địa, mà không được mãn nguyện. Bây giờ, chính chúng tôi, được hiện diện, được rao giảng Tin Mừng trong một Nước cộng sản, anh chị em hãy khích lệ chúng tôi rao giảng Tình Yêu của Thiên Chúa bằng “lời nói và hành động”, cho mọi người, không trừ một ai.
Nếu có ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ. Chúa chỉ đòi hỏi chúng tôi “can đảm nói sự thật khi cần”, dù phải trả giá bằng mạng sống. Chúng tôi không thể vừa căm ghét người khác, vừa rao giảng tin mừng Tình Yêu cho họ, vì như thế là tự mâu thuẫn. Những người “ngoại giáo mới” thuộc thời đại chúng ta, trong đó có người cộng sản, cũng là một trong những đối tượng mà Thiên Chúa muốn chinh phục bằng tình yêu.
Có người sẽ nói rằng, đó là ảo tưởng, là điều không thể được, giống như việc bà Elisabeth, vợ của thầy tư tế Zacaria sẽ sinh con trai, tuy tuổi đã già! Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể được. Sứ thần của Chúa đã nói với Zacaria: “Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỉ hoan ngày con trẻ chào đời!”
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong lá thư gởi cho Giáo hội tại Trung Hoa, đã biểu lộ “niềm hy vọng lớn lao” do tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh. Ngài đã mạnh dạn nói với mọi người trong Giáo hội, không phân biệt phe phái, kêu gọi mọi người, hãy hợp nhất, hãy một lòng một ý loan báo Tin Mừng Chúa Kitô. Không phải Đức Thánh Cha không biết những khó khăn, những bách hại mà nhiều người trong Giáo hội hầm trú đã chịu đựng.
Tại Đền thờ thánh Phaolô hôm nay, chúng tôi như nghe tiếng thúc giục của Vị tông đồ Dân ngoại: “Hãy mạnh dạn loan báo Chúa Kitô, đừng sợ, hãy mở toang mọi cánh cửa cho Chúa”.
+GM Phaolô Bùi Văn Đọc
(Nguồn: http://hdgmvietnam.org/News.aspx?Type=8&Act=Detail&ID=477&CateID=63)