Tại sao một cuộc đàn áp đẫm máu như Thiên An Môn không xảy ra ở Đông Âu?

Jonathan Ayal – Nguyên Hân dịch

Hầu như ai ai cũng tham gia cuộc nổi dậy trong cuộc cách mạng chôn vùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.


Những nhà lãnh đạo châu Âu vừa gặp nhau tuần rồi ở thủ đô nước Đức nhằm đánh dấu lần thứ 20 ngày sụp đổ bức tường Bá Linh có những ý kiến trái ngược nhau, về điều gì đã đưa đến sự chấm dứt cuộc Chiến tranh Lạnh. Cuộc thành công nào cũng có nhiều nguyên do, và nước nào ở châu Âu nào cũng cho mình đóng một vai trò trong đó.

Tuy khác nhau về ý kiến, châu Âu đã đồng nhất với nhau một yếu tố căn bản: Ngoại trừ Lỗ Ma Ní (Romania), nơi đã có một vài cuộc đánh nhau, cuộc cách mạng của lục địa này năm 1989 đã xảy ra một cách ôn hòa.

Sự thành tựu này càng đặc biệt hơn nữa, nếu người ta nhớ rằng, cũng trong cùng năm, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc đã dùng vũ lực nghiền nát một cuộc nổi dậy quần chúng ở ngay trong đất nước của họ. Một cách kỳ lạ, cái phương cách sắt máu ở Quảng trường Thiên An Môn đó đã không được mang ra thử ở Đông Âu: một cách đơn giản, các chế độ cộng sản ở đó tự tan biến đi.

Sự trái ngược nhau giữa Trung Quốc và châu Âu tiếp tục làm các sử gia vò đầu gãi tai. Phải chăng đó là sự thất bại trong ý muốn của những nhà lãnh đạo cộng sản châu Âu, hay đâu là những lý do sâu xa hơn tại sao quân đội, súng đạn và bạo lực đã bị loại trừ, không được đem ra áp dụng ở châu Âu?

Các chế độ cộng sản Đông Âu chắc chắn không e dè gì chuyện máu đổ thịt rơi. Những cuộc nổi dậy trước đó – Hung Gia Lợi (Hungary) năm 1956, Tiệp Khắc (Czechoslovakia) năm 1967 và Ba Lan năm 1981 - tất cả đều bị nghiền nát một cách tàn nhẫn. Châu Âu có Thiên An Môn riêng của mình, khoảng chừng một thập niên kể từ ngày Đệ nhị Thế chiến chấm dứt. Thực tế là, người Trung Hoa cộng sản chỉ thuần tuý bắt chước phương cách của Đông Âu.


Tuy nhiên, năm 1989, Đông Âu ở trong một tình thế hoàn toàn khác hẳn với những gì mà Trung Quốc đối diện.

Sự khác biệt đầu tiên là vai trò của Liên bang Xô-Viết. Đảng Cộng sản Trung Quốc có nguồn gốc quốc gia và tự nắm lấy quyền lực hơn là dựa vào Liên bang Xô-Viết. Các đảng cộng sản Đông Âu; tuy thế, đã không bao giờ thành công trong việc tạo cho mình một bản thể quốc gia; cho đến giờ phút cuối, họ vẫn là những giống cộng sản được cấy mầm từ Sô-Viết.

Giống như người Trung Hoa, người cộng sản Đông Âu có một lực lượng công an và quân đội hùng hậu. Tuy thế, những nhà cầm quyền ở Đông Âu ngay từ đầu đều hiểu rằng không thể tin cậy những lực lượng này có thể quay súng bắn vào chính đồng bào của họ nếu không có sự hậu thuẩn của Xô-Viết. Khi nhà lãnh đạo Liên bang Xô-Viết nói rõ là ông không còn chuẩn bị cung cấp vốn liếng xây dựng cho các thuộc địa của ông nữa, toàn bộ công trình xây dựng này bắt đầu sụp đổ.

Như thế, cùng ngày xe tăng Trung Quốc tiến vào quảng trường Thiên An Môn, thì những nhà lãnh đạo Ba Lan đồng ý chia sẻ quyền hành với những nhà bất đồng chính kiến chống cộng sản ở nước họ. Sử dụng bạo lực đơn giản không còn là một sự chọn lựa.

Nhà cầm quyền cộng sản Đông Đức đã có nghĩ đến chuyện dùng quân đội để trấn áp. Khi những cuộc biểu tình bùng lên hôm tháng Mười 1989, có tới 8.000 nhân viên an ninh Đông Đức được chuẩn bị để ra tay. Bệnh viện địa phương được cảnh báo là chuẩn bị để tiếp nhận thương vong hằng loạt.

Cuối cùng, không có gì xảy ra, phần lớn là do nhà nước Đông Đức nhận thức rằng sự phân hủy của nhà nước họ đã đến hồi hết thuốc chữa, không cách gì ngăn chận được nữa. Người Đông Đức đã đào thoát qua Tây Đức qua ngõ các nước láng giềng.

Cái điều gay go ở Đông Đức nhấn mạnh một sự khác biệt nữa giữa Trung Quốc và Đông Âu. Các nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc cân nhắc chiến lược trấn áp ở quảng trường Thiên An Môn mà không để ý nhiều về thế giới bên ngoài; đất nước của họ phần lớn bị cách ly không tiếp xúc thường xuyên với thế giới phương Tây.

Nhưng những nhà lãnh đạo Đông Âu thì lại không có được điều này. Trước hết, tuy bị ngăn chận bởi bức tường Bá Linh, người châu Âu cũng đã liên lạc với nhau. Hằng chục đài truyền hình và phát thanh từ phương Tây phát vào vùng này, hằng triệu du khách phương Tây đi vào và ra như đi chợ; biên giới thì bị xoi thủng như tổ ong và Đông Âu về phương diện kinh tế lại đang mắc nợ phương Tây.

Các chính trị gia Trung Cộng hiểu điều đó, bên cạnh tác động thương tổn luân lý, đạo đức; những hành động đàn áp của họ ở Thiên An Môn sẽ không có tác động dài lâu. Các nước Đông Âu cộng sản thì không được sự bảo đảm an toàn đó.

Và rồi, có sự khác biệt trong mức độ giữa những thành phần chống cộng ở Đông Âu và Trung Quốc. Phong trào Thiên An Môn thu hút giới sinh viên và dân thành phố, hơn là công nhân ở các nhà máy hay đại chúng ở nông thôn. Ở Đông Âu thì ngược lại, hầu như ai ai cũng tham gia cuộc nổi dậy.


Dẹp một vụ biểu tình là điều khả thể, như Trung Cộng đã làm. Nhưng không ai có thể dự tính chuyện tấn công tới tấp, dồn dập mỗi một thành phố, mỗi một ngôi làng hay nhà máy, như những nhà lãnh đạo cộng sản Đông Âu phải đối đầu nếu họ chọn phương cách trấn áp thẳng tay.

Điều này không có nghĩa là các lục địa này không học được lẫn nhau. Mặc dầu đã chọn cho mình một phương cách giải quyết khác, đảng Cộng sản Trung Quốc đã học được một bài học cho chính mình từ cuộc cách mạng ở châu Âu. Họ hiểu rằng một nền kinh tế phồn thịnh là phương thuốc duy nhất cho sự tồn vong thể chế chính trị của họ. Sự tan rã của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, một cách nghịch lý, đã thúc đẩy người Trung Hoa cộng sản cải cách thị trường. Kết qủa là một châu Âu tự do hơn và một Trung Quốc giàu có hơn.

Biến cố Thiên An Môn cũng đã thuyết phục những người chống cộng ở Đông Âu hành động chậm và cẩn thận hơn, để tránh đưa đến chuyện trả thù của những nhà lãnh đạo trên đà bị truất phế. Được xem như là một trong những cú ngoặc lạ đời nhất của lịch sử, sự đổ máu ở Thiên An Môn đã bảo đảm sự an bình ở châu Âu. Như ông Timothy Garton Ash - một trong những sử gia nổi tiếng nhất thời đó nhận xét, một cách đúng đắn: “Sự thật là biến cố Thiên An Môn xảy ra ở Trung Quốc là một lý do làm cho cảnh máu đổ thịt rơi đã không xảy ra ở châu Âu.”