Hệ thống tham nhũng tại Việt-Nam từ 1975 đến nay

Tường Hải

Việt-Nam Cộng sản sống sót đến ngày nay toàn nhờ tham nhũng hối lộ:

Từ 1975 đến 1982:


Nhờ hối lộ của các thuyền nhân tỵ nạn cộng sản miền Nam mà một số người trở nên giầu sụ như Nguyễn Tấn Dũng chẳng hạn, vì ông Thủ Tướng là chuyên viên bán bãi để cho dân miền Nam vượt biên. Mỗi "bãi" như vậy ít nhất cũng thu được từ 50 đến 100 cây vàng. Trong khoảng thời gian kể trên thì có bao nhiêu bãi vượt biên tại miền Nam Việt-Nam ? Hơn nữa vào năm 1979 thì có những chuyến vượt biên chính thức cho phép người Việt gốc Hoa trả 12 cây vàng mỗi đầu người để xuất ngoại. Thời gian này nhiều người Việt gốc Việt đàng hoàng nhưng cũng hối lộ để làm khai sinh "giả mạo" thành người Tầu để được vuợt biên chính thức. Mỗi khai sinh giả đó ít nhất cũng tốn từ 5 cây đến 10 cây.

Từ 1984-1995:


Từ đó thuyền nhân vuợt biên ít đi vì các trại đã ra thông cáo không nhận thuyền nhân nữa, nên bãi vượt biên không còn, nhưng lại làm tiền làm khai sinh giả, làm hồ sơ chứng minh cho các gia đình đoàn tụ, ghép hộ cho các gia đình với các con lai. Làm hồ sơ chứng mình này nọ cho các cựu tù nhân chính trị cũng kiếm bộn bạc; ghép hộ cho các ông HO độc thân thành có gia đình đàng hoàng rồi sang đến Mỹ thì rã đám.

Từ 1995 đến nay:


Sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận và tái bang giao lại với Việt-Nam thì Việt Kiều thi nhau về Việt-Nam. Hải quan tại Tân sơn Nhất và Nội Bài chế ra một kiếm tiền mới là thủ tục "đầu tiên" . Mỗi năm nguyên tiền kẹp vào "hộ chiếu" cũng kiếm khá bộn. Việt Kiều về đến khu xóm, cũng phải ra trình diện các quan công an phường xã và "hối lộ" để khỏi bị làm khó dễ.

Thời kỳ mở cửa kinh tế, thì tại Việt-Nam có thể nói rõ là nếu không phải là một công ty quy mô có liên hệ với các toà đại sứ của nước họ, thì chắc chắn phải hối lộ không ít thì nhiều mới có thể đấu thầu, mở công ty làm việc được. Những công ty nhỏ nước ngoài, thì họ chỉ làm ăn ngắn hạn rồi rút ra, vì nếu để lâu sẽ bị gài độ, kết án bằng thứ luật rừng và bị tịch thu công ty ngay.

Những Việt Kiều đem tiền Việt-Nam làm ăn cũng vậy, muốn ký được giao kèo nào cũng phải chạy chọt tìm đường hối lộ - đó là "lộ trình" mà các công ty nước ngoài phải bắt buộc đi qua, không như ở các nước tự do dân chủ. Chạy tiền rồi mà hàng năm không đóng tiền "hụi sống" sòng phẳng , thì tin tức sẽ bị tiết lộ với quốc gia liên hệ và đương nhiên là công ty sẽ bị nước đó điều tra và đưa ra toà kết tội tham nhũng hối lộ, vừa ở tù, vừa bị phạt tiền và công ty phải khai phá sản.

Đối với công ty do chính người tại Việt-Nam trong nước làm chủ cũng vậy, họ phải lo hối lộ hàng tháng cho công an, cảnh sát phường xóm, lên cả đến huyện và ty sở địa phương. Nếu không chịu chi thì sẽ có côn đồ xã hội đen đến quấy phá ngồi ì ngay trước mặt tiền của công ty thì sẽ không có một khách hàng nào dám lai vãng sợ bị côn đồ hành hung. Hệ thống tham nhũng từ dưới lên trên đã trở thành hệ thống chằng chịt vào nhau như rễ cây vậy rồi. Nếu có đổ bể thì chỉ những tay cán bộ cấp nhỏ ở dưới mới bị đưa ra làm vật tế thần, còn các cấp lớn trên cao, vẫn phủi tay và nói: " không biết gì, cấp dưới chưa quán triệt đường lối của đảng mới làm sai mà thôi" . Ngày nay nhà nước còn chính thức dùng bọn côn đồ, đầu trộm đuôi cướp vào tù ra khám như cơm bữa, để bắt đám này đi làm tiền, đi trấn lột những đại gia không chịu trả tiền...Xin mời xem bài "không chi không xong" sau đây:

Không chi không xong

Trích báo Tuổi Trẻ"

TT - Trả lời câu hỏi “Không chi thì làm gì được nhau?” của bạn đọc Ly Thuy Du (Tuổi Trẻ ngày 2-11-2009), nhiều doanh nghiệp và nhân viên trực tiếp đi làm thủ tục hải quan cho rằng phải chi, không chi không xong.




Để hồ sơ khỏi bị “bới lông tìm vết” hoặc ngâm lâu, doanh nghiệp phải kẹp tiền chung chi cho cán bộ hải quan phụ trách khâu đăng ký... (ảnh chụp ngày 22-9-2009 tại Hải quan KV1 - Cát Lái) - Ảnh: H.K.




Tôi là chủ một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Mỗi lần nhân viên của tôi kê phí cho nhân viên hải quan là tôi hoảng. Khi đi kiểm tra thực tế tôi thấy quả thật không thể chịu nổi. Tôi thấy bạn Ly Thuy Du nói giống như không có một tí kiến thức nào về kỹ thuật kinh doanh hàng xuất nhập khẩu. Bạn thử nghĩ xem nếu hàng của bạn là một lô hàng đông lạnh thì bạn đợi lâu được không? Hoặc hàng của bạn cận kề ngày giao hàng hay ngày thay đổi chính sách thuế của Nhà nước rồi thì bạn có còn dám nói: “Không chi thì làm gì được nhau!” không?

Bao giờ doanh nghiệp mới đoàn kết lại?


Đọc ý kiến của bạn Ly Thuy Du tôi nghĩ có lẽ bạn chưa ra trường, chưa đi làm qua công việc có liên quan đến công chức hải quan, hoặc là bạn sống quá lý tưởng.

Khi doanh nghiệp nhất quyết không chi thì nhân viên hải quan kéo dài thời gian giải quyết lô hàng của doanh nghiệp và không phải kéo dài một ngày. Và giả sử họ chỉ kéo dài một ngày thì với tình trạng xuất nhập hàng cận ngày, doanh nghiệp cũng sẽ bị trễ chuyến bay, trễ tàu, hay hàng nhập về sẽ không kịp để sản xuất.

Lúc đó chi phí sẽ phát sinh rất nhiều. Bạn Du nói doanh nghiệp có quyền trong tay là không đúng, chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền. Tôi đồng ý với bạn là doanh nghiệp nhiều hơn nhân viên hải quan, nhưng chuyện doanh nghiệp hợp tác với nhau để nói không với nhân viên hải quan nhũng nhiễu chắc còn lâu lắm (hoặc sẽ không bao giờ xảy ra).

Dẫu sao tôi vẫn mong điều bạn Du nói sẽ xảy ra, doanh nghiệp sẽ đoàn kết lại, nhưng một mình doanh nghiệp chưa đủ để giải quyết nạn chung chi cho hải quan đâu.


ABC (abc@...)

Nhân đây tôi chỉ dám khuyên doanh nghiệp nên trang bị cho mình các kiến thức về ngoại thương cũng như cập nhật đầy đủ các chủ trương chính sách của Nhà nước để đối phó với các công chức hải quan biến chất, hạn chế các yêu sách vòi vĩnh của họ.


THANH (ndc201082@...)

* Tôi cũng đã từng nghĩ như bạn Ly Thuy Du, nhưng thực tế cho thấy công chức hải quan có 1.001 cách gây khó dễ doanh nghiệp. Ví dụ một lô hàng cả thế giới đều biết tên gọi, nhà sản xuất thì nổi tiếng thế giới, có đủ cả chứng chỉ xuất xứ, chất lượng tầm cỡ thế giới..., nhưng nhân viên kiểm hóa vẫn nói: “Không biết có đúng là hàng hóa như thế không? Phải đưa đi giám định”.

Trong khi đó có những loại hàng hóa mà chưa chắc chúng ta đã có đủ điều kiện tại phòng thí nghiệm để phân tích giám định chất lượng và hàng hóa thì phải lấy một mẫu hoặc rất nhiều mẫu để đem đi giám định. Và điều quan trọng là dẫu kết quả giám định có đúng như nhà nhập khẩu khai báo thì doanh nghiệp đã thiệt hại hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng cho việc giám định hàng hóa, lưu công, lưu bãi, phạt chậm giao hàng...

Quan trọng nhất là sau khi tốn những chi phí này thì bạn sẽ thu được kết quả gì ngoài cái sự lỗ. Thực tế cho thấy nhiều công chức hải quan chỉ dùng sự tinh tường để moi tiền doanh nghiệp chứ không phải để phân biệt đúng sai hay để chống buôn lậu.


Hoang Quan (hoangquan205@...)

* Bạn Ly Thuy Du nói có vẻ đúng, nhưng chỉ đúng với những trường hợp doanh nghiệp lâu lâu mới làm một lô hàng, hàng hóa về chậm cũng không ảnh hưởng nhiều đến kinh doanh.

Nhưng đối với đa số doanh nghiệp khác, nếu làm mất lòng mấy anh/chị hải quan thì chỉ có nước chết: hàng bị lục tung ra để kiểm hóa, phải chờ theo thứ tự để làm thủ tục (mà thứ tự thì ai cũng biết... đó là không có thứ tự), chưa kể sai ít thì bị xé ra cho to, lập biên bản, phạt..., thậm chí truy tố. Chết đấy! Sau bài viết của báo Tuổi Trẻ, theo tôi, các doanh nghiệp hãy.... chuẩn bị tinh thần đi.


(pearl_river_2007@...)

* Có lẽ bạn Ly Thuy Du chưa đặt mình vào vị trí của doanh nghiệp nên chưa thấy được những thiệt hại khi hàng hóa bị chậm trễ. Khi ấy doanh nghiệp có thể bị trễ tàu, bị đền hợp đồng, hàng hóa có thể hư hỏng, giá cả thị trường thay đổi... Còn công chức hải quan thì cho dù có ứ hàng đầy cảng họ vẫn đâu cần quan tâm, họ vẫn chậm rãi, từ từ làm “đúng”, “đủ” trách nhiệm của họ rồi thôi. Nếu doanh nghiệp không chi tiền và rồi nhân viên hải quan sẽ gắn môtơ vào làm cho nhanh... như bạn Ly Thuy Du nói thì mọi việc đã quá dễ dàng rồi!


NGUYEN DONG (giaon@...)

* Bạn Ly Thuy Du có biết một ngày lưu container doanh nghiệp phải trả bao nhiêu tiền không? Chưa kể khi xuất hàng phải theo lịch tàu, hàng còn mắc kẹt ở cảng mà tàu chạy thì sao? Còn khi nhập khẩu, doanh nghiệp phải giao hàng theo đúng tiến độ của hợp đồng, vì nếu trễ hẹn số tiền phạt sẽ rất cao. Đó là chưa kể doanh nghiệp phải trả lương cho nhân viên khi họ đi chầu chực để làm thủ tục hải quan...


HOANG HUY (hoanghuysteel@...)

Chờ đợi hay bất lực?

Cục Hải quan TP.HCM đã trả lời vụ “Trả giá chung chi” (Tuổi Trẻ ngày 31-10-2009) bằng cách đình chỉ công tác bảy công chức có liên quan đến chuyện này. Nhưng kèm theo đó là “mặt lạnh” của các công chức hải quan gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp (Tuổi Trẻ ngày 3-11).

Không rõ phản ứng “mặt lạnh” có nằm trong ý đồ của các cán bộ, nhân viên hải quan biến chất hay không, nhưng chắc chắn một lần nữa nó cho các doanh nghiệp hiểu rằng sẽ chẳng có lợi lộc gì nếu cố gắng phanh phui tiêu cực trong ngành hải quan. Trước mắt, các doanh nghiệp chỉ còn biết chờ đợi để trải qua những ngày nóng bỏng này. Họ chấp nhận thái độ “mặt lạnh” ấy như một điều tất yếu. Theo đó, sự chờ đợi chính là sự bất lực của các doanh nghiệp.

Không chỉ có các doanh nghiệp chờ đợi, ngay cả vị phó Ban chỉ đạo TP.HCM về chống tham nhũng cũng...chờ đợi. Trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, vị này cho rằng: “Bản thân mỗi người không chấp hành tốt thì cũng khó. Với số lượng lớn như vậy làm sao kiểm tra, kiểm soát từng người được” và “cứ phát hiện ai tiêu cực, vi phạm là xử lý nghiêm đối với người đó”.

Nhìn dưới góc độ nào đó thì ý kiến vừa nêu cho thấy Ban chỉ đạo về chống tham nhũng TP cũng chỉ biết chờ đợi, khi nào phát hiện tiêu cực thì xử lý. Điều đó đối với một cơ quan có trách nhiệm thanh tra, giám sát là đúng nhưng chưa đủ. Bởi trách nhiệm của một cơ quan kiểm tra, thanh tra, giám sát để phòng chống tiêu cực không chỉ là chờ để xử lý từng vụ việc mà phải chủ động đề ra biện pháp phòng tránh.

Ngay chính trong ngành hải quan, những tiêu cực trên không hề mới, nếu không muốn nói là thường xuyên bị phanh phui. Nếu như thế cũng chỉ tiếp tục chờ đợi xử lý khi đổ bể thì chẳng khác nào cơ quan này đã bất lực.

Từ lâu ai cũng hiểu chính sách và chủ trương luôn chống lại bất cứ tiêu cực nào. Nhưng chính sách và chủ trương về bản chất chỉ có ý nghĩa gợi mở và đó không thể là cơ sở nền tảng trực tiếp để đảm bảo cho những tiêu cực không xảy ra. Nền tảng cơ sở trực tiếp phải là những quy chế, biện pháp quản lý kiểm soát cụ thể, có tính khả thi để đảm bảo hạn chế được tối đa các tiêu cực.

Đó còn là thước đo năng lực cho các cơ quan có trách nhiệm. Còn khi chúng ta không có được những quy chế, biện pháp cụ thể ấy thì chúng ta đang chờ đợi một cách bất lực trong việc chống tiêu cực.


NGÔ MINH TRÍ (TP.HCM)

* Ngành hải quan cần phải có hạn định khi hàng hóa xuất nhập cảng, phải quy định ngày giải quyết các hàng hóa xuất nhập, như việc một số địa phương ban hành cơ chế một cửa và hạn định trả hồ sơ. Việc chống tham nhũng sẽ dựa vào quy định đó, và khi kiểm tra chỉ cần phát hiện hồ sơ quá ngày mà thủ tục không sai phạm thì có thể đưa ra quyết định kỷ luật nhân viên đã không làm tốt. Đa phần tham nhũng đây đó là do quy trình và quy định còn quá lỏng lẻo, lẫn không chặt chẽ dẫn tới việc thanh tra giám sát gặp khó khăn.

Khi quy định đã chặt chẽ thì nhân viên hải quan có muốn "ăn" cũng khó vì không thể ngâm hàng hóa hơn ngày quy định được. Doanh nghiệp cũng căn cứ vào đó để dựa vào loại hàng hóa nào tương ứng với mức ngày như thế nào để xuất nhập hàng theo đúng hợp đồng. Mọi sự chậm trễ mà không có sự giải thích rõ ràng thì ban chủ nhiệm đơn vị hải quan đó sẽ chịu mọi trách nhiệm, doanh nghiệp có thể tiến tới chuyện kiện tụng.


VŨ VĂN CHÚC

* Việc chung chi khi làm thủ tục bắt nguồn từ tâm lý lẫn cơ chế "xin - cho". Ai cũng muốn nhanh, thuận tiện cho mình, nên ai cũng cố tìm cách để đẩy nhanh việc làm thủ tục, nhanh hơn người khác... giống như đi trên đường đông người vậy: ai cũng muốn chen lên, vượt qua kẻ khác... Vậy nên, phải sinh tiêu cực phí, bởi ai cũng nghĩ rằng, mất mấy đồng mà được việc thì cũng cần làm. Hiện nay, phải nhìn nhận rằng tiêu cực phí có ở nhiều nơi, nào chỉ ở khâu hải quan. Nhưng bản thân chúng ta vẫn cứ phải chấp nhận như đó là chuyện bình thường. Cụ thể: - Vi phạm luật giao thông: ai cũng muốn xin xỏ, nhờ cậy người quen, nếu không được thì xì tiền; - Vào bệnh viện, xin học cho con, đi làm thủ tục hành chính, xin cấp phép xây dựng....


BÙI NGỌC LỢI

* Đọc bài báo mà phát tức cho loại cán bộ công chức này. Tôi xin đề nghị các vị lãnh đạo vi hành kiểm tra xử lý, ai ù lì không năng nổ làm việc đuổi việc, nhận các sinh viên mới ra trường vào.


AN ĐÔNG

Tôi cũng là chủ một doanh nghiệp may quần áo cho ngoại quốc. Khổ cho chúng tôi là mỗi tháng phải trả mấy chục triệu cho các công an phường để được cán bộ bảo vệ an ninh, nếu không thì du đãng đến quấy rồi gây phiền hà cho các khách hàng. Ngoài trả tiền hàng tháng, thì cứ 2,3 tháng lại phải mời các quan lớn trên quận đi ăn nhậu và ăn chơi thâu đến suốt sáng 1 lần, tính cũng mất mấy chục triệu.



Rồi với giọng cò mồi của các ông lớn ra ngoại quốc mời Việt Kiều về Việt-Nam mua nhà. Nghe thì ngon và dễ dàng lắm nhưng nhiều Việt Kiều đã bị lừa vì những lời hứa hẹn đường mật, đem tiền về đầu tư rồi bị chiếm đoạt gia sản, tiền mất tật mang, chạy ra lại hải ngoại nhưng vì thể diện không dám nói ra. Lý do là mua phải những căn hộ trong những khu đất chưa được phép của các quan lớn ở quận và tỉnh , chỉ có phép nhỏ của các quan ở phường xã thôi và hàng tháng đóng tiền "hụi". Nên biết một điều là xây nhà ở Việt-Nam thì người chủ chỉ có cái xác nhà còn đất thuộc về nhà nước. Xây nhà trong khu "bị gọi là bất hợp pháp" thì mất nhà luôn. Ca sĩ Việt Kiều có vài ba mạng bỏ nhà ..,chạy lấy người.

Việt Kiều cao cấp mua nhà trong khu Phú Mỹ Hưng đang méo mặt lên cơn sốt vì giá tiền sử dụng đất quá cao từ 500 đến 600 triệu (VN) 1 năm. Tính ra đôla Mỹ là từ $27,000 đến $33,000 1 năm. Việt Kiều dù là triệu phú thì cũng lắc đầu, vì ngay tại Hoa Kỳ ở những tiểu bang có luật thuế đất mắc nhất cũng chỉ đến $10,000 1 năm là quá mức. Cộng Sản Việt Gian chuyên nghề lừa bịp, để chiếm đoạt, kiếm tiền mà thôi.

Mai mốt đây chắc chắn CSVG sẽ hỏi tội mấy căn hộ do người trong nước làm chủ "giùm" các ông bà Việt Kiều nữa. Hiện tại họ chưa đả động tới vì chim đã nằm trong lồng, thứ nữa là họ không muốn bứt dây động rừng, không lôi kéo được nhiều VK về xây nhà nữa, vả lại họ vẫn còn muốn Việt Kiều hàng năm đem tiền du lịch ăn chơi, đem tiền về tu sửa nhà cửa.

Sau này nếu muốn, họ chỉ cần hỏi xuất xứ tiền của người trong nước đứng tên làm chủ căn hộ khang trang mới xây hay sửa chữa lại kia, thì làm sao mà trả lời:


* Nếu khai rằng có Việt Kiều ở hải ngoại đứng bảo trợ đằng sau, cho tiền để xây sửa nhà, họ sẽ tính tiền thuế đất sử dụng theo giá nhà mới thì liệu xem VK đó có đủ tiền hàng năm đóng thuế đất không hay là lúc đó chỉ có cách bỏ của chạy lấy người, mất hết, kể như cúng Bác

* Nếu không chịu khai là có bà con Việt Kiều giúp đỡ thì sẽ bị đưa ra toà kết án là làm ăn không khai thuế mới có tiền nhiều như vậy và đưa vào tù vì tội trốn thuế. Đàng nào cũng chết.


"Cơ Chế" hay Mốt "XIN-CHO"


CSVG làm giầu vì mốt Xin-CHO. Nghĩa là bất cứ ai xin mà có thủ tục "đầu tiên" vừa ý thì bên trên sẽ xét và CHO. Nhiều tổ chức người Việt Hải ngoại làm từ thiện xin tiền của đồng bào hảo tâm đem về nước. Có những tổ chức ra rả xin tiền trên2,3 đài TV Việt Ngữ hải ngoại từ ngày này sang ngày khác, đủ mọi kiểu: nào là mua một lọ thuốc là giúp được một cụ già Việt-Nam có cơm ăn 1 tháng; nào là lá lành đùm lá rách v.v.. Nguyên cái vụ bỏ tiền ra quảng cáo hàng ngày các cơ quan từ thiện cũng đã phải chi bộn tiền rồi. Đem tiền về VN làm phúc thì phải "xin-cho" thế nào với công an cảnh sát đây. Các tổ chức từ thiện hải ngoại làm ăn không minh bạch, chưa bao giờ thấy nói là nhận được bao nhiêu của các nhà hảo tâm, chi phí là bao nhiêu cho những mục gì? Và đến tay của người nghèo ở VN là bao nhiêu? Hơn nữa là trong nước cũng có nhiều người giầu nứt đố đổ vách - cứ xem những nhà của khu Mỹ Hưng và xe cộ họ trưng bầy thì đã lác mắt rồi - thế mà chưa nhóm từ thiện nào đến xin tiền các cán bộ và đại gia ở Việt-Nam, mà chỉ đi vắt các con bò sữa tại hải ngoại mà thôi, thế là làm sao?

Vì vấn đề xin - cho tạo ra quyền thế, vì ai không xin thì sẽ không cho. Mà chẳng lẽ lại đi xin mà đi tay không? Ít nhất cũng có phong bì dầy cộm bỏ túi chứ.

XIN-CHO lây cả đến mấy quan lớn các tôn giáo nữa. Muốn được dễ dãi hành đạo thì các vị cao cấp các tọn giáo cũng XIN-CHO. Nghĩa là các vị được quyền xin xuất ngoại ra ngoại quốc dễ dàng, để quyên tiền các bò sữa tại các chuà chiền, nhà thờ. Khi về đến nhà thì ngày hôm sau phải lên trình diện Công An để "quà cáp" cho phải phép thường là tứ lục như các tổ chức từ thiện vậy. Quà cáp xong thì các vị Xin được việc này việc nọ như xây cất chùa chiền hay nhà thờ hoành tráng. Vì vậy CSVG vừa được quà cáp bằng phong bì lại vứa được tiếng là "có tự tôn giáo". Đúng là thứ "tự do tôn giáo mốt XIN-CHO".