TỰ DO, DÂN CHỦ, CÁN CÂN CỦA CÔNG LÝ

Chu Chi Nam


“ Người ta có thể nói dối một, hai lần;

nhưng người ta không thể nói dối mãi mãi.

Người ta có thể lừa đảo một người, hai người;

nhưng người ta không thể lừa đảo cả một dân tộc.”

( Abraham Lincoln )




Có người cho rằng dân chủ là mảnh đất mầu mỡ để, không những cho kinh tế, mà cho cả con người nẩy mầm, sinh hoa, kết trái. Người khác thì lại nói tự do, dân chủ là sự trong sáng, là nền tảng và cán cân của công lý.

Vậy tự do, dân chủ là gì ? Tại sao chúng lại là sự trong sáng, là công bằng và là cán cân của công lý ?

Tự do là những quyền căn bản của con người, có tính chất bẩm sinh, đi từ quyền tự do đi lại, tự do sinh sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận, tự do chính trị, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, tự do kinh tế, tự do tư hữu v.v.. . Những quyền này được ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc chấp nhận vào ngày 10/12/1948.

Lời Mở đầu bản Tuyên ngôn có nói rõ:


“ Xét rằng sự công nhận nhân phẩm bẩm sinh, sẵn có của con người, thành viên trong đại gia đình nhân loại; và sự công nhận những quyền bình đẳng, bất khả nhượng; là căn bản chính của tự do, của công lý và của hòa bình trên thế giới.

“ Xét rằng sự sao nhãng, khinh miệt và chà đạp những quyền căn bản của con người đã dẫn đến những hành động man rợ, đi ngược lại lương tâm, lương tri của nhân loại; và một thế giới mà trong đó, mọi người đều được quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, không bị đe dọa bởi nghèo đói, thế giới đó phải được coi như ước vọng cao cả nhất của con người.

“ Xét rằng quả là cần thiết để những quyền căn bản của con người phải được bảo vệ bởi một nhà nước pháp quyền, để con người không bị áp bức; trong trường hợp ngược lại, con người có quyền nổi lên chống lại độc tài và áp bức. “

Sau đây tôi xin tóm lược sơ qua về tự do hay là những quyền căn bản của con người được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền:

Điều 1: Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân cách và quyền lợi. Họ tự nhiên có lý trí, lương tâm, lương tri; và phải hành xử người này với người nọ trong tinh thần tương thân, tương ái.

Điều 17: Tất cả mọi người, dù sống một mình hay trong tập thể, đều có quyền tư hữu. Không ai có thể bị cấm đoán quyền tư hữu.

Điều 18: Tất cả mọi người ai cũng có quyền tự do tư tưởng và tự do tín ngưỡng.

Điều 19: Tất cả mọi người đều có quyền tự do ngôn luận.

Điều 20: Tất cả mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình… Không ai bị bắt buộc theo một hội nào mà họ không thích.

Dân chủ chúng ta có thể định nghĩa nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta có thể định nghĩa một cách đơn giản, đó là một thể chế chính trị, mà trong đó những quyền tự do căn bản của con người, trong đó có 2 quyền căn bản là quyền tự do bầu cử và ứng cử, và quyền tự do ngôn luận, được bảo đảm và tôn trọng; trái với chế độ độc tài là một chế độ mà trong đó, nhân quyền bị chà đạp, không được tôn trọng, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và bầu cử.

Có người đưa ra những lý luận theo đó nhân quyền và dân chủ là sản phẩm của tây phương, người đông phương không cần đến. Điều này hoàn toàn sai. Con người dù đông phương hay tây phương, có ai sinh ra lại muốn những quyền tự do căn bản bẩm sinh của mình bị mất không, không được đi lại, không được nói, phát biểu những điều mình muốn. Ngay cả một con chim kia, chúng ta nhốt nó vào trong lồng, nó cũng còn muốn bay ra ngoài trời tìm tự do. Những lập luận trên chẳng qua là lập luận của những chính quyền độc tài và những trí thức hèn hạ cố nặn óc ra để tìm lý lẽ bênh vực cho bạo quyền.

Thêm vào đó, họ còn cho rằng mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc có những hình thức dân chủ khác nhau. Đành rằng, hình thức có thể đặc thù, khác nhau; nhưng bản chất, nội dung vẫn giống nhau và có tính chất toàn cầu. Có thể có chế độ quân chủ đại nghị như ở Anh, ở một vài nước Bắc Âu, ở Nhật, chế độ tổng thống như ở Hoa kỳ, chế độ đại nghị như ở Đức, ở Ý, chế độ nửa tổng thống, nửa đại nghị như ở Pháp; nhưng nội dung chính vẫn giống nhau; đó là ở những nước dân chủ này, đặc biệt 2 quyền căn bản là quyền tự do ngôn luận và quyền tự do bầu cử được tôn trọng.

Để lấy một thí dụ cho dễ hiểu, như chiếc xe hơi, về hình thức, nó có thể là màu vàng, màu xanh v. v.., nhưng về bản chất, nội dung chính đó là chiếc máy nổ.

Để xét một chế độ có tự do dân chủ hay không, chúng ta chỉ cần xét ở dưới chế độ đó có quyền tự do ngôn luận và tự do bầu cử thực sự hay không. Chẳng hạn chế độ cộng sản Việt nam hiện nay không phải là một chế độ tự do, dân chủ, vì không có quyền tự do ngôn luận, mặc dầu có 700 tờ báo và gần 70 đài phát thanh truyền hình, nhưng chỉ là “ Nói leo, nói theo, nói dài, nói dở và nói dai “, nói theo chỉ thị của Bộ chính trị; những ai nói lời nói trung thực, thì bị bắt bỏ tù, như linh mục Nguyễn văn Lý, luật sư Lê thị Công Nhân và nhiều nhà lãnh tụ tôn giáo và trí thức khác. Còn về quyền bầu cử, thì là “Đảng cử, dân bầu “, một thứ bầu cử gian lận, dân bị bắt buộc bầu, chứ không được tự do bầu cử và ứng cử.

Chính vì Tự do dân chủ là sự trong sáng, là nền tảng của công bằng và công lý, nó cho phép người dân bầu lên người cầm quyền, kiểm soát họ, và nếu cần, có thể truất phế họ. Ý thức được điều đó nên khi vừa mới lên chức Tổng Bí Thư, ông Gorbatchev đã đưa ra 2 chính sách le Pérestroïka ( Tái cấu trúc ) và Le Glasnost ( Sự trong sáng ). Phải tái cấu trúc lại chế độ cộng sản, độc tài bất công, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng hối lộ lan tràn, những quyền căn bản của con người bị chà đạp, sự thật bị che dấu. Và phải trong sáng để sự thật được phơi bày, tôn trọng, chứ không thể bị dấu diếm, che đạy. Chính vì vậy mà ông tuyên bố:

“ Tôi đã bỏ hơn nửa đời người đấu tranh cho lý tưởng cộng sản; nhưng ngày hôm nay, tôi phải đau buồn mà nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo.”

Lịch sử những nước độc tài, nhất là độc tài cộng sản là không có sự trong sáng; vì độc tài nào cũng dựa trên 2 cột trụ chính: 1) Bộ máy thông tin, tuyên truyền làm mất đi sự trong sáng, chỉ có bôi bác và dấu diếm sự thật; 2) Bộ máy công an, dọa nạt không những người dân mà ngay cả những người trong đảng, làm cho không ai dám cất tiếng nói lên sự thật, ai cũng phải sống dấu diếm, che đạy, giả dối, đâu còn là trong sáng, công bằng.

Những nhà đấu tranh cho dân chủ nhân quyền Nga chống lại chế độ độc tài, bắt đầu bằng nhà văn hào Soljennytsine, nhà bác học Sakharov, đã lấy câu châm ngôn Nga “ Một lời nói sự thật nặng hơn quả địa cầu “ làm kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh cho nhân quyền. Và Đức Giáo hoàng Jean Paul I I , khi ngài mới nhậm chức Giáo hoàng, trở về thăm Ba Lan, đã kêu gọi dân: “ Hãy can đảm ! Đừng sợ sệt ! Và hãy hy vọng ! “ Cũng như Ngài nói: “ Tôi sẵn sàng bỏ chức Giáo hoàng về tranh đấu kháng chiến, nếu Ba Lan bị hồng quân xâm chiếm.”

Can đảm đứng lên đấu tranh để làm gãy cột trụ thứ nhất của độc tài, đó là bộ máy công an dọa nạt, đàn áp. Nói lên sự thật, phơi bày sự trong sáng, nói lên công lý, chính là đánh gãy cột trụ thứ nhì của độc tài, đó là bộ máy tuyên truyền bôi bác sự thật. Chính vì vậy mà tự do, dân chủ và sự trong sáng là nền tảng của công lý và công bằng vậy. (1)