McNamara và Kissinger
Lê Văn - lược dịch
Ngày 3 tháng Giêng 1973 – ba tuần rưỡi trước ngày ký Hiệp Định Đình Chiến Paris, lúc 5.45 chiều cựu bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, McNamara - lúc này là Thống đốc Ngân hàng Thế Giới - gọi phôn cho Henry Kissinger, lúc đó là Cố vấn An Ninh của Tổng thống Nixon và là nhân vật chủ chốt về phía Hoa Kỳ trong Hội Đàm Paris.
Qua cuộc nói chuyện điện thoại này, McNamara muốn khuyến khích Kissinger không được nhượng bộ đồng minh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trong điều khoản mà chính McNamara gọi là “điều mơ hồ cố ý”. Đây chính là điều khoản mở đường cho Hoa Kỳ rút hết quân về “trong danh dự”, đồng thời cho phép quân đội Bắc Việt tiếp tục hiện diện ở miền Nam Viêt Nam. Đây chính là điều khoản khiến phái đoàn VNCH, vào thời điểm đó, không chịu ký Hiệp định Paris.
Cuộc điện đàm được thu thanh lại, bản ghi xuống (transcript) được lưu trữ tại đại học George Washington, thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington, D.C.)
Điện đàm giữa McNamara và Kissinger, 5 ngày 2 tháng Giêng 1973, về Hội đàm Paris
Kissinger: Hello!
McNamara: Henry, Bob đây. Chức mừng năm mới.
Kissinger: Cũng xin chúc mừng năm mới ông bạn.
McNamara: Henry, vài ngày nữa thôi là tôi đi Phi Châu rồi, có lẽ trước khi ông lên đường trở lại (hội đàm) Paris, hay cùng lúc. Trước khi đi, tôi muốn gọi để nói với ông để nói “đừng để ý đến những chuyện chung quanh”.
Kissinger: Ông bạn thật tốt với tôi.
McNamara: Tôi quan tâm thật đó, ông bạn à. Ông trời biết lúc này ông bạn đang muốn bể đầu, tôi cũng hiểu rất rõ. Tôi nhớ lại câu ông nói với tôi, khoảng bốn năm trước, khi ông bắt đầu dính vô chuyện này và tôi đã dứt nó ra được một năm. Lúc đó, ông có nói ông nghĩ rằng bất cứ ai dính vô Việt Nam đều có nguy cơ “tù chết đến bị thương”. Nhưng nghĩ cho cùng, Henry, cũng không đến nỗi tệ như thế, nhất là với bàn tay của ông! Ông sắp sửa đi vào lịch sử như là người đã kéo Hoa Kỳ ra khỏi (vũng lầy) đó. Ông sẽ hoàn tất chuyện này một cách ngon lành.
Kissinger: Thật sự cám ơn ông bạn.
McN.: Tôi thật sự nghĩ thế, Henry. Tuần rồi, tôi đi trượt tuyết ở Aston. Tuyệt vui! Nhưng thời gian đó cũng có ba bốn người quen gọi điện thoại nói về chuyện bỏ bom (Bắc Việt) và đủ thứ chuyện chung quanh. Trở về, tôi đã đọc hết những bài báo liên hệ mà trước khi đi chơi tôi dặn thư ký cắt ra để dành… cả những lời đồn đại trước khi tôi đi nghỉ và sau đó… nên tôi hiểu rõ những chuyện đang làm bận tâm mọi người bên đó (1). Tôi chỉ muốn nói, đừng để chuyện đó làm ông nản lòng! (2). Những lời chỉ trích cà chớn (3), nào là “lung tung”, “không rõ rệt” – Ông bạn à, ông và tôi biết chỉ có một cách duy nhất để giải quyết chuyện này (4), đó là phải cần giữ điều khoản cố tình mơ hồ (5) trong cái văn kiện khốn nạn (6) đó.
Kissinger: Đúng như thế!
McNamara: Nhất định phải giữ điều khoản đó, đây chính là cách làm ăn.
Kissinger: Không sao đâu! Ông bạn biết mà… chẳng qua là những tay chuyên ngồi văn phòng ghen tuông bày đặt ra thôi.
McNamara: Tôi biết chứ. Tôi có thể nói với ông… nhưng cũng chẳng cần nói, ông biết chúng ở đâu ra! Không chỗ nào khác hơn là hai tòa nhà ở trong thủ đô này (7). Cả hai đám này rất gần gũi với nhau. Nói gì thì nói, những điều ông bạn đang làm đều đúng đường. Nhưng đó là nhờ có ông, chứ vào tay người khác thì tôi chẳng bao giờ dám tin chúng ta có thể thoát ra khỏi nơi đó.
Kissinger: Cám ơn ông bạn rất nhiều.
McNamara: Tôi nghĩ, cũng chẳng phải là cái nhìn riêng của tôi đâu, mà chắc chắn của một số bạn khác của ông, cả McGeorge Bundy (8) và nhiều người tôi quen biết khác nữa. Bởi vậy ông không nên nghĩ mọi chuyện đang tối thui. Đã đành giai đoạn này có nhiều chuyện nhức đầu, điều này chắc chắn rồi, nhưng…
Kissinger: Những điều ông nói an ủi tôi rất nhiều.
McNamara: Cũng không phải ai cũng có cái nhìn gay gắt như những tay bình luận trên báo chí và những tay khác.
Kissinger: Phải đấy, tôi hy vọng khi ông trở về (sau chuyến đi Phi Châu) chúng ta đã vượt qua những trở ngại chính.
McNamara: Okay, chúc ông nhiều may mắn, Henry.
Kissinger: Cám ơn ông bạn, chào ông.
McNamara: Chào tạm biệt ông bạn.
Phụ chú
(1) nguyên văn: “.. in that building over there” – Chắc chắn McNamara muốn nói đến tòa Bạch Ốc, nơi Kissinger làm việc. Sự thật là tòa nhà World Bank và nhà Bạch Ốc chỉ cách nhau một dãy phố.
(2) nguyên văn: “Just let it get you down, that’s all” – có nghĩa: “Cứ để cho chuyện đó làm ông nản lòng”. Nhưng như vậy không có nghĩa gì cả! Người dịch cho là McN. muốn nói “Just don’t let it get you down”, nhưng nói thiếu chữ “don’t”, hay người ghi lại từ băng thu âm đã chép thiếu.
(3) nguyên văn “all this crap…”.
(4) “chuyện này” tức là Hội nghi và Hiệp định Paris.
(5) nguyên văn: “a conscious ambiguity”. Chắc chắn ám chỉ điều khoản “các lực lượng quân sự nước ngoài phải rút ra khỏi miền Nam”. Điều khoản này cho phép Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam, đồng thời quân đội CS Bắc Việt lại được ở lại miền Nam một cách “hợp pháp”, vì CS miền Bắc đâu có chịu nhận là họ có quân ở miền Nam - tất cả đều là quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam!
(6) nguyên văn: “the damned thing”.
(7) Một trong hai “toà nhà” mà McNamara nói tới, chắc chắn là bộ Ngoại Giao, còn “tòa nhà” thứ hai có lẽ là Ngũ Giác Đài tức bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.
(8) McGeorge Bundy là cố vấn của TT Kennedy và TT Johnson. McGeorge Bundy từng tuyên bố: Nếu không bi ám sát và tái đắc cử năm 1964, TT Kennedy sẽ giảm quân số của Hoa Kỳ ở Việt Nam.