Vài Ý Kiến Về Đạo Đức Trong Nhiệm Vụ Truyền Thông.

• Chu Tất Tiến.

Có lẽ từ khi báo chí tiếng Việt được phổ biến cách đây nhiều thập niên, câu chế diễu “Làm báo, nói láo ăn tiền” đã được truyền tụng. Khi nghe đến câu này, những người làm báo, viết báo chân chính thường có cảm giác không vui nhưng đành phải chấp nhận và mỉm nụ cười chấp nhận, vì một sự thật phũ phàng không thể chối cãi: những người làm báo, viết báo không trung thực vẫn luôn hiên diện trong làng báo Việt Nam. Thời đại nào, tổ chức nào cũng có những “con sâu làm rầu nồi canh”, sự Xấu luôn bám theo sự Tốt, cỏ dại không ngừng quấn chân những khóm hoa tuyệt đẹp.

Điều bất hạnh cho văn hóa Việt Nam là hiện nay, ở trong nước, toàn bộ báo chí đều đặt dưới quyền chỉ đạo của một đảng độc tài, phản dân chủ, cho nên, tình trạng “làm báo, nói láo ăn tiền” lại là một sự kiện bắt buộc. Hơn 600 tờ báo, từ Trung Ương đến địa phương, từ báo ngày sang báo tuần hay báo tháng, từ báo giấy đến báo điện tử, tất cả đều phải tuân theo một quy luật “đi trên lề phải”, một thứ “lề” do Đảng chỉ định, tuy được đặt tên là “lề phải”, nhưng thực chất là một thứ lề “trái”, “lề của sự nói láo liên tục, dưới bất cứ một hình thức nào”. Những sự thực được bóp méo, điều cần tuyên truyền thì lặp đi lặp lại liên tu bất tận, các chuyện nhỏ được thổi phồng, việc tối quan trọng đến đất nước bị dẹp bỏ, các bài viết đa dạng về cả chuyện tốt và chuyện xấu thì bị cắt xén theo ý Đảng.

Người viết bài này cũng có một kinh nghiệm đau thương về việc đẽo gọt này. Cách đây hơn 10 năm, người viết có một bài đăng trên Nhật Báo Người Việt, tựa đề “Thư gửi người ở lại”, được viết sau khi tất cả các trại tị nạn ở Á Châu đóng cửa. Hồi đó, tất cả những ai vượt biên mà không thuộc thành phần chế độ Cộng Hòa và cũng không có người bảo lãnh, sẽ bị trả về nguyên quán. Với mục đích giúp ngăn những thảm cảnh sẽ xẩy ra cho các thành phần ấy nếu không thông hiểu luật lệ mới cũng như không rõ thực trạng đời sống của người tị nạn, người viết đã trình bầy 10 lý do không nên vượt biên, nếu chỉ vì kinh tế khó khăn. Trong 10 lý do đó, có 6 lý do liên hệ tới những sinh hoạt tại các cộng đồng tị nạn xẩy ra hoàn toàn khác với những điều mà người ở Việt Nam mong mỏi. Thành phần cần vượt biên bằng bất cứ giá nào là những người thuộc chế độ cũ và những người làm chính trị bị săn đuổi. Sau khi bài báo được đăng ở hải ngoại, Báo Tuổi Trẻ và Lao Động ở trong nước lập tức đăng lại với lời tựa như sau: “Bài này được viết bởi tên Chu tất Tiến, một cây viết chống Cộng điên cuồng tại hải ngoại”. Và, điều đáng lưu ý là bài viết đó được cắt bỏ 4 đoạn tích cực liên quan đến việc chống Cộng, mà chỉ được đăng 6 phần còn lại, là những phần nêu lên những khó khăn trong sinh hoạt cộng đồng hải ngoại. Từ bài báo đó, những anh chị em còn lại bên nhà đã truyền tay nhau đọc và … “chửi” người viết không tiếc lời. “Sao lại qua sông, rút cầu? Viết những điều làm người chưa đi hoang mang?” Một người cháu cắt bài viết đó, gửi qua Mỹ, với những lời chua xót: “Sao chú lại viết như thế?” Cái tên tác giả lúc đó, bị người bên nhà coi như một kẻ xấu xa nhất trong những kẻ đã ra đi trước. Không có cách gì cải chính được!

Đó là một đòn rất độc mà báo chí Cộng Sản đã thi hành theo “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” là: “Bảo vệ Đảng, tiêu diệt tàn dư Mỹ Ngụy.” Và đó cũng chính là phương cách thực hiện truyền thông của Đảng Cộng Sản từ nhiều thập niên nay.

Vụ việc PMU 18 cũng là một thí dụ điển hình cho việc bịt miệng báo chí. Hai phóng viên viết bài về việc tham nhũng của tập đoàn này đã bị tống giam với các bản án vô căn cứ, vô lý, và vô luân.

Mới vài tuần trước đây, tờ báo Du Lịch phổ biến ở trong nước đã có một bài “đột xuất” nói về việc Đảng bán đất, bán nước cho Trung Cộng. Bài báo này cho rằng “với những kẻ xuống đường, chống đối lại chế độ, chỉ vì muốn nêu cao lòng yêu nước, thì nên kính phục. Còn những kẻ lãnh đạo, ngoài miệng nói “yêu nước” nhưng lại bảo vệ kể cướp nước thì phải xét lại.” Vì thế, tờ Du Lịch bị đình bản ngay lập tức. Những người chủ trương tờ báo bị kiểm điểm, mất chức, chỉ vì muốn nói lên một Sự Thật, và chỉ vì không muốn bị lây tiếng xấu với các kẻ “làm báo, nói láo ăn tiền” khác.

Còn ở hải ngoại? Như đã trình bầy ở trên, bất cứ chỗ nào có hoa thơm, đều có cỏ dại. Nhất là với cộng đồng Việt, là những kẻ xa quê hương, như những cây bị bứng gốc mang về trồng nơi xứ lạ, bắt buộc phải có những thay đổi, phải có những lây lan với chỗ đất mới, phải có sự trộn lẫn giữa văn hóa quê hương và thị hiếu xứ người, nửa Việt nửa Mỹ. Miếng đất nào nhiều chất Việt hơn, thì văn hóa khởi sắc và hòa đồng hơn. Phần nào Mỹ nhiều hơn, thì tư tưởng có lạ lẫm. Với phần nào chỉ quy về tư tưởng “vật chất, cá nhân chủ nghĩa” mà đa số người Mỹ vẫn hưởng thụ thì thường đi ngược lại tinh túy của văn hóa Việt, nghĩa là không còn tính chất tôn trọng người cùng quê, cùng hoàn cảnh, cùng mục đích, mà chỉ chú trọng đến cá nhân, đến sự nổi tiếng để kiếm thêm lợi nhuận. Vài cơ quan truyền thông, chỉ vì muốn cạnh tranh, đã xử dụng các thủ thuật tung tin thất thiệt, bôi lọ, mạ lị, đặt dấu hỏi về việc làm của một cá nhân hay tổ chức nào đó, miễn sao cho tờ báo mình nổi lên, nhiều người đọc hơn, bất chấp sự đau đớn của nạn nhân nào mà mình đưa lên báo để hỏi thăm hay tấn công. Có tờ báo đăng nguyên lời mạ lị của một cá nhân đến một cá nhân khác trên trang bìa (1) với hàng chữ thật lớn, để câu độc giả. Điều tệ hại và thiếu đạo đức, thiếu chuyên môn nhất là cho phổ biến những bức thư nặc danh của những người vô danh, chụp mũ một cá nhân hoặc một tổ chức một cách trịnh trọng như các bài viết của những tác giả thiệt sự. Việc tung tin thất thiệt này, những người làm truyền thông chân chính, có lương tâm không bao giờ dám làm vì nhiều lý do: Phổ biến thư nặc danh chứng tỏ là mình thiếu kinh nghiệm, và thiếu khả năng, đồng thời vì “đói” tin mà làm liều. Ngoài ra, còn thiếu đạo đức truyền thông, khi đưa một nguồn tin không rõ xuất xứ làm tổn hại đến thanh danh người khác. Sau hết, chứng tỏ người làm truyền thông này ham lợi cá nhân, muốn nổi tiếng mà bất chấp thủ đoạn, tự mình bôi lọ mình. Chưa kể những điều tai hại gây ra cho tập thể. Thí dụ như việc dựa trên một thư nặc danh mà tố cáo những người thực hiện các chương trình giúp Thương Phế Binh và Quả Phụ có thể làm cho những người thiện chí bị thương tổn, và từ đó, có thể không hân hoan làm việc thiện nguyện nữa. Việc dựa theo thư nặc danh, để thắc mắc về công tác thiện nguyện của một tổ chức có uy tín cũng làm cho những ai lo giúp Thương Phế Binh phải thối chí. Có cá nhân còn đòi tìm người thay thế tổ chức tốt đẹp này trong công tác vất vả ấy. Từ đó, việc yểm trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ có thế bị trở ngại, người Xấu có thể nhân cơ hội mà nhào vào nắm quyền. Như vậy, người thiệt thòi, ngoài những người tổ chức, thì người bị hại lại là các Thương Phế Binh và Quả Phụ, những anh hùng và vợ của các anh hùng đang bị bỏ rơi nơi quê nhà. Sự làm nổ bùng lên những nghi vấn một cách không cần thiết, dựa trên dư luận vô căn cứ này vào đúng dịp tưởng niệm Tháng Tư Đen là một việc làm tai hại, nếu có thể nói là đâm vào những vết thương của Thương Phế Binh và Quả Phụ. Ai cũng biết, mỗi năm, cứ đến Tháng Tư Đen, thì tâm hồn của các cựu chiến sĩ, các viên chức của chế độ Cộng Hòa lại đau đớn, quặn thắt, còn với các Thương Phế Binh và Quả Phụ, các vế thương của họ hình như lại ứa máu.

Dĩ nhiên, việc thắc mắc về những món tiền mà cộng đồng đóng góp cho một mục tiêu chung của cộng đồng, không những là một việc làm đúng, mà là việc cần làm và phải làm. Trong một số lượng sinh hoạt khổng lồ liên quan đến sự trợ giúp cho những kẻ bất hạnh ở Việt Nam, có khá nhiều sinh hoạt giả, lợi dụng những câu ca dao, tục ngữ “huynh đệ chi binh”, “máu chẩy, ruột mềm”, “lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi, thương lấy bí cùng”... để làm lợi cho cá nhân. Một số lại làm giầu hoặc tạo chính danh cho Cộng Sản. Nhưng, để cho những sự thắc mắc không mang tính chất chụp mũ, vu cáo, làm buồn lòng người công chính, các thắc mắc đó nên được đưa ra dưới một hình thức trao đổi thoải mái hơn. Việc phổ biến một lá thư nặc danh vu cáo ra công chúng với lời hường dẫn thiếu chuyên nghiệp không phải là một phương cách mà những người cần tìm hiểu đích thực thực hiện.

Qua những sự việc nêu trên, một điều nổi bật mà độc giả và khán thính giả chân chính thấy rằng, đạo đức truyền thông đã không còn được tôn trọng nhiều như trước. Người ta muốn làm gì lợi cho cá nhân thì làm, không kể đến danh dự hoặc niềm đau của ai. Chưa kể, nói theo một số quan điểm giận dữ, khi làm thiệt hại cho Thương Phế Binh và Quả Phụ, thì đương nhiên làm cho kẻ thù của những Thương Phế Binh và Quả Phụ ấy, nhà cầm quyền Cộng Sản vui mừng. Lẽ đương nhiên, người Cộng Sản luôn coi Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa là những cái gai trước mắt, những dấu hiệu của một chính sách đối sử Vô Nhân Đạo trước quốc tế. Hơn nữa, các cuộc gây quỹ có tiếng vang rộng lớn sẽ có thể kích thích một sự so sánh của các Thương Phế Binh Bộ Đội, là những người cũng bị đối xử bất công bởi chế độ. Họ có thể phàn nàn, khiếu nại về việc “đem con bỏ chợ” của nhà cầm quyền. Từ đó, nhiều rắc rối có thể xẩy ra. Vì những lý do đó, mà khi nói, những tranh cãi, bất hòa trong việc yểm trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa là làm lợi cho Cộng Sản cũng không hẳn sai.

Tuy nhiên, cũng có một dấu hiệu đáng mừng là trong tuần lễ giữa tháng 4 Đen, việc một cá nhân đã thắng kiện khi bị chụp mũ vô cớ, đã có thể khiến cho một sô người làm nhiệm vụ truyền thông xét lại quan điểm đạo đức và chuyên nghiệp của mình. Mong rằng sự kiện này sẽ đem lại luồng gió mới cho văn hóa, văn học, và truyền thông của cộng đồng Việt Nam di tản nơi xứ người và làm cho câu “làm báo, nói láo ăn tiền” không còn ý nghĩa nữa.



(1) “Chu Tất Tiến mới là đồ chó đẻ!”, “Nguyễn Chí Thiện là tay sai Cộng Sản”, “Nguyễn Chí Thiện là kẻ đạo văn”, “Nguyễn Xuân Vinh phản bội Tập Thể Chiến Sĩ”.