VỚI SỰ DẤN THÂN CỦA HOA KỲ NGÀY CÀNG LAN RỘNG

DI SẢN CHIẾN TRANH VIỆT NAM SẼ CẢN TRỞ CUỘC CHIẾN A PHÚ HÃN?

Hoàng Đức Nhã

* A PHÚ HÃN: VIỆT NAM CỦA OBAMA?


Ba muơi sáu năm trước đây Hoa Kỳ ký thỏa hiệp gọi là Hiệp Định Ba Lê Chấm Dứt Chiến Tranh Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam. Nhưng thật ra thỏa hiệp này chính thức hóa việc Hoa Kỳ rút khỏi một cuộc chiến mà họ đã tiến hành trên gần 10 năm và giờ đây bỏ cuộc ra đi dưới lá bài chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình, và thảm hại hơn nữa, đã dọn đường cho Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam Việt Nam hai năm sau đó.

Trong khoảng thời gian ngắn sau đó, vào thời điểm những ngày đầu tiên của nhiệm kỳ TT Jimmy Carter, dư luận Hoa Kỳ có cảm tưởng rằng di sản chiến tranh Việt Nam đã có ảnh hưởng tốt trong cuộc sống chánh trị Mỹ. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam không một chánh phủ Mỹ nào muốn hoặc có thể cam kết sử dụng quân lực Mỹ trong một cuộc chiến nào ngoại trừ trường hợp tự vệ, và dù trong trường hợp đó, cũng phải có thỏa thuận của Quốc Hội.

Đó là ý nghĩa thật sự của việc chấm dứt chiến tranh khi mà đa số dân Mỹ công nhận rằng chiến tranh Việt Nam là sai, hoặc ít nhất là một sai lầm tai hại. Các cuộc tranh luận sôi nổi quanh vấn đề này, và sau đó sự từ bỏ sử dụng quân lực Mỹ tại hải ngoại, đã sanh ra một từ ngữ - Hội chứng Việt Nam (Viet Nam Syndrome). Hình như dân chúng Mỹ lúc ấy đã dị ứng với chiến tranh.

Biến hóa của hội chứng Việt Nam


Hội chứng Việt Nam là một trở ngại lớn cho các Tổng thống Hoa Kỳ sau TT Carter. Lịch sử Hoa Kỳ sau thời điểm này cho thấy sự xói mòn của di sản Việt Nam và sự biến chuyển của hội chứng này thành một hội chứng đối nghịch, theo đó Hoa Kỳ có thể chấp nhận một nội chiến tại hải ngoại với điều kiện là cuộc chiến này được tiến hành một cách âm thầm, không quá quấy rầy, và không đòi hỏi có tổng động viên.

TT Reagan là người đầu tiên biến hóa di sản Việt Nam khi ông ta thuyết phục Quốc Hội cho phép ông ta xúc tiến Hành quân Urgent Fury. Trong cuộc hành quân này Hoa Kỳ sử dụng 10,000 quân lính vào cuối tháng Mười năm 1983 tại quốc gia Grenada, 100 dặm về phía Bắc của Venezuela, để đối phó với sự bất an tại quốc gia này và để gọi là bảo đảm an ninh cho một số sinh viên Mỹ theo học tại đại học Y khoa Grenada vì không được gia nhập các đại học y khoa Mỹ.

Sau đó TT Bush “Cha” cũng được thỏa thuận của Quốc Hội xúc tiến Hành quân Just Cause khi ông ta ra lịnh cho trên 58,000 quân lính thuộc các binh chủng Lục quân, Không quân, Hải quân và Thủy quân Lục chiến xâm chiếm quốc gia Panama một vài ngày trước Gáng sinh năm 1989. Cuộc hành quân này được giải thích là Hoa Kỳ cần đối phó với những hành động ám hại đến quân nhân Mỹ tại Panama và sự kiện ông Noriega buôn ma túy. Kết quả là sự lật đổ của chế dộ TT Manuel Noriega và việc bắt cóc ông này đem về giam giữ tại Miami.

Đối với dư luận Mỹ hai cuộc hành quân dùng quân lực Mỹ này không gợi lại ám ảnh của chiến tranh Việt Nam. Trong khi đó quân lực Mỹ, chưa hẳn tìm lại được sức mạnh tinh thần sau chiến tranh Việt Nam, bắt đầu tạo lập một quân lực mới, hoàn toàn tự nguyện và chuyên nghiệp, với một chủ thuyết mới. Chủ thuyết này được gọi là chủ thuyết Weinberger – Powell, do Tổng trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger và Tổng Tham mưu trưởng quân lực, Đại tướng Colin Powell, chủ xướng. Theo chủ thuyết này, trước khi lâm chiến, Hoa Kỳ phải huy động sự hỗ trợ của quần chúng, và áp dụng vũ lực một cách ồ ạt thay vì từng giai đoạn, mục tiêu phải được vạch định rỏ ràng, và chiến lược ra đi cũng phải được đề ra.

Sau đó TT Bush “Cha” áp dụng chủ thuyết này trong trận chiện vùng Vịnh (Persian Gulf War) qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu được gọi là Desert Shield, khi chánh phủ vận động quần chúng ủng hộ cuộc chiến, và giai đoạn thứ hai tên là Desert Storm khi Không lực Mỹ bắt đầu dội bom Iraq vào ngày 17 tháng Giêng năm 1991, dọn đường cho cuộc xâm nhập của lực lượng đồng minh Mỹ-Anh-Pháp vài tuần sau đó.

Sau chiến thắng TT Bush “Cha” tuyên bố rằng hội chứng Việt Nam quả thật không còn nữa – ông ta muốn nói rằng Hoa Kỳ không ngần ngại dùng quân sự để bảo vệ quyền lợi ở hải ngoại và thành công trong công cuộc này.

Hội chứng Việt Nam trở lại


Nếu TT Bush “Cha” chứng minh rằng Hoa Kỳ có thể thắng trận khi họ lựa cuộc chiến thì cách TT Clinton sử dụng quân lực cho thấy rằng hội chứng Việt Nam vẫn còn sống động. Tại Somalia, trong trận chiến bảo vệ thủ đô Mogadishu vào tháng 10 năm 1993, việc một chiếc trực thăng Blackhaw bị quân phiến loạn bắn rơi khiến TT Clinton tuyên bố rút quân Mỹ đã được gởi qua trước đó để giúp chánh quyền quốc gia này tái lập trật tự. Trong trận chiến Kosovo vào thời điểm tháng Ba/tháng Tư năm 1999 TT Clinton sử dụng không lực Hoa Kỳ dội bom những vị trí của quân phiến loạn, từ muời cây số trên cao, không bị tổn thương quân lính nào. Hoa Kỳ cũng không hề đáp ứng kêu gọi của đồng minh Âu Châu giúp giải quyết cuộc chiến diệt chủng tộc giữa hai bộ lạc Hutu và Tutsi tại quốc gia Rwanda vào tháng Tư năm 1994.

Lúc ấy phản ứng của Hoa Kỳ đối với những bất an hoặc những chế độ độc tài sát hại dân chúng của họ, như chế độ của Saddam Hussein, đều dựa trên việc dội bom hay ban hành biện pháp trửng phạt. Thậm chí đến thái độ kỳ quái của Bà Madeleine Albright, Tổng trưởng Ngoại giao của TT Clinton lúc ấy. Trả lời một câu hỏi của nhà báo Bà ta nghĩ sao về sự kiện có cở 50,000 trẻ em Iraq chết trong năm 1996 vì hậu quả của những biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ và đồng minh, Bà ta nói rằng “Đó là một quyết định rất khó khăn, nhưng chúng tôi nghĩ có thể chấp nhận giá đó” – muốn ám chỉ rằng số trẻ em Iraq chết có thể chấp nhận được khi Hoa Kỳ không phải dùng quân lực để đối phó với Saddam Hussein!

Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Clinton lúc đó, ông Anthony Lake trấn an dân chúng Mỹ rằng Hoa Kỳ sẽ nỗ lực hành động một cách đa phương, và sẽ hành đồng một cách đơn phương nếu cần.

TT Bush “Con” lờ đi phần đầu của câu đó và chủ xướng một đường lối mới theo đó quân lực Hoa Kỳ cần phải mạnh để khuyên ngăn những đối thủ nào muốn tăng cường dần lực lượng vũ trang hầu qua mặt hay ngang hàng với thế lực quân sự của Hoa Kỳ. Lúc ấy Hoa Kỳ chủ trương rằng không để một cường quốc nào ngang hàng về lực lượng vũ tang với Hoa Kỳ như Liên Sô trước đây.

Chủ thuyết này được áp dụng trong cuộc chiến chống chế độ Taliban tại A Phú Hãn vào tháng 10 năm 2001, và sau đó khi Hoa Kỳ lãnh đạo lực lượng đồng minh lật đổ chế độ Saddam Hussein tại Iraq vào tháng Ba năm 2003.

Hai diễn biến này cho thấymột lần nữa Hội chứng Việt Nam lùi vào dĩ vãng. Chánh quyền Bush lúc đó lập luận rằng Hoa Kỳ không những phải tạo ưu thế quân sự nhưng cần phải duy trì thế lực quân sự độc nhất.

TT Bush “Con” cũng bị ám ảnh với chiến tranh Việt Nam, và giới truyền thông Mỹ thời ấy cũng so sánh sự tiến hành chiến tranh Iraq với chiến tranh Việt Nam, và đề cập đến những vấn đề như chánh quyền không được tín nhiêm của quần chúng trong cuộc chiến và tái thiết Iraq, về việc không đạt được cảm tình và tín nhiệm của dân Iraq, và về tình trạng sa lầy tại Iraq. TT Bush đối phó với những lập luận đó bằng cách dứt khoát khi ông ta tuyên bố tại đại hội năm 2007 của tổ chức Cựu chiến binh Các Chiến tranh Hải ngoại rằng ông Alden Pyle – nhân vật chính trong cuốn truyện The Quiet American (Người Mỹ Trầm Lặng) của văn hào Graham Greene – biểu tượng cho tính quả quyết, tinh thần yêu nước và sự ngây thơ của Hoa Kỳ. Đây là một cách giải thích khác hẳn ý nghĩa văn hào Greene và nhiều độc giả khác đã gắn cho vai trò của Alden Pyle.

TT Bush “Con” đã hiểu ý nghĩa của cuốn truyện Người Mỹ Trầm Lặng theo chiều hướng của ông và dùng cách hiểu biết đó để nhấn mạnh chủ thuyết của ông ta rằng vấn đề là không phải lý do và phương thức Hoa Kỳ đã dấn thân vào Việt Nam, mà trái lại, những thảm họa nào sẽ xảy ra khi Hoa Kỳ ra đi. Ông ta còn nói thêm rằng, khác với Việt Nam, nếu chúng ta (Hoa Kỳ) ra đi mà chưa hoàn thành sứ mạng thì kẻ thù của chúng ta sẽ theo chúng ta về.

Trong tinh thần đó chánh quyền Bush tránh sự so sánh giũa Iraq và Việt Nam, và chỉ đề cập đến những gì sẽ xảy ra một khi Hoa Kỳ rời khỏi Iraq. Giới truyền thông Mỹ gợi lại không khí và những từ ngữ của chiến tranh Việt Nam, như: kế hoạch “Iraq hóa” thay vì Việt Nam hóa, tam giác chết chóc, không phân biệt bạn với thù, cuốn gói ra đi, sự đổ máu, và dĩ nhiên, từ ngữ “tình trạng sa lầy”.

Giới chánh trị và truyền thông Mỹ chống chiến tranh Iraq bắt đầu lý luận rằng dù ta chấp nhận hay không chấp nhận lý do Hoa Kỳ xâm chiến tại Iraq vấn đề cần được thảo luận là cuộc chiến cần phải được tiến hành ra sao.

Sau sự thành công của chiến lược của chánh quyền Bush tại Iraq – mà giới chánh trị và truyền thông khuynh tả của Hoa Kỳ không đề cập đến - những lập luận này bắt đầu ám ảnh TT Obama sau khi ông ta quyết định gia tăng chiến tranh tại A Phú Hãn.

A Phú Hãn: Việt Nam của Obama?


Di sản của chiến tranh Việt Nam, mà hầu hết các chuyên gia đều đồng ý, là sự chống chiến tranh du kích. Đây là một bài học hầu hết các sử gia và chuyên gia chánh trị đều quên. Nhưng, có một số chuyên gia như nhà quân sử Lewis Sorley, nghĩ rằng trong chiến tranh Việt Nam sự chống chiến tranh du kích đã thành công trứơc khi bị thất bại vì những hành động vô trách nhiệm của Quốc Hội, báo chí hoặc phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Mặt khác, nhiều chuyên gia cho rằng sự chống chiến tranh du kích có thể thành công nếu đựoc áp dụng sớm hơn, một cách dứt khoát hơn và lâu dài hơn.

Khi TT Obama quyết định táo bạo gia tăng quân lính Mỹ tại A Phú Hãn và yêu cầu các thành viên chính của Tổ chức Minh ứơc Bắc Đại Tây Dưong (NATO) gia tăng quân lính của họ tại A Phú Hãn, ông ta đi ngược lại khuynh hướng chống chiến tranh của chính ông ta và đa số tại Quốc Hội và đảng Dân Chủ. TT Obama không muốn dư luận nghĩ rằng ông ta chết nhát, không dám lấy một quyết định táo bạo nào trên lãnh vực ngoại giao như TT Bush “Con” đã làm.

Hoa Kỳ cần giải quyết vấn đề A Phú Hãn, không những để tiêu diệt phong trào khủng bố al-Qaeda và đồng minh của họ là nhóm Taiban, mà còn để giúp nhân dân quốc gia này đựơc tự do và xây dựng nền tảng dân chủ.

Theo chủ thuyết mới của chánh quyền Obama, muốn giải quyết vấn đề A Phú Hãn Hoa Kỳ cần sử dụng sức mạnh quân sự một cách ồ ạt và dứt khoát. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ sử dụng hỏa lực và tiến hành một cách táo bạo để bảo đảm an ninh cho những xã ấp tại A Phú Hãn hầu tạo điều kiện cho công cuộc tái thiết, giúp đở nhân đạo và lấy cảm tình và tín nhiệm của người dân. Nói một cách khác, Hoa Kỳ cần phá hủy xã ấp để cứu những xã ấp đó!

Đây là đường lối đươc áp dụng tại Việt Nam lúc trước. Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu phương thức này áp dụng được cho A Phú Hãn và hậu quả sẽ ra sao.

Các chuyên gia và giới truyền thông Mỹ và quốc tế không khỏi so sánh A Phú Hãn với Việt Nam – nhiều khi ta có cãm tưởng đây là những câu nói rập khuôn. Nhưng cũng có nhiều trường hợp tương tự giữa hai cuộc chiến. Nào là một vị Tổng thống quyết tâm cho dân thấy ông ta cương nghị ra sao và cam kết sẽ làm bất cứ gì để chiến thắng. Nào là kẻ thù có kinh nghiệm chống lại kẻ xâm lăng từ bên ngoài và có khả năng lẩn nấp trong những khu vực sát biên giới. Nào là các quốc gia láng giềng thấy cơ hội để cho Hoa Kỳ bị sa lầy. Nào là đây là cuộc chiến vô tận, không có lối thoát dễ dàng.

Nhưng cũng có nhiều khác biệt giữa chiến tranh Việt Nam và chiến tranh A Phú Hãn. Trước hết, kẻ thù, nhóm Taliban, không phải là một lực lượng chống đối mạnh như Cộng Sản Bắc Việt và tay sai Việt Cộng của họ. Kế đó, CSBV không phải là một đe dọa trực tiếp cho Hoa Kỳ trong lúc đó những thành phần khủng bố Taliban hay những nhóm khủng bố khác được huấn luyện tại A Phú Hãn có thể phá hoại trong nội địa Hoa Kỳ, như sự phá hoại hai cao ốc tại Nữu Ước năm 2001 đã chứng minh.

Vấn đề đặt ra cho chánh quyền Obama là tiến hành cuộc chiến A Phú Hãn ra sao trong khi dư luận dân chúng Mỹ vẫn còn tin tưởng nơi “tài và sự lãnh đạo” của TT Obama. Những bài học của chiến tranh Việt Nam có giúp giới lãnh đạo quân sự và dân sự Mỹ đạt thành quả nhanh chóng như chánh quyền Bush “Con” đã làm được tại Iraq hay không?

Không những A Phú Hãn khác với Việt Nam mà còn khác với Iraq. Tại Iraq, Đại tướng Petraeus,Tư lệnh chiến trường lúc ấy và đương kim Tư lệnh Quân đoàn đặc trách các quốc gia Trung Đông (Central Command), đã thành công nhờ chiến lược lấy lòng nhóm Sunni tại tỉnh al- Anbar chống lại các thành phần khủng bố al-Qaeda, và nhờ đó giúp chánh quyền Iraq vô hiệu hóa ảnh hưởng và sức phá hoại của al-Qaeda tại Iraq.

Tuy nhiên, A Phú Hãn là một tổng hợp của nhiều bộ lạc và thị tộc, và như thế không có được sự thống nhất cần thiết cho việc thi hành những chiến lược và chiến thuật thích hợp để đánh bại nhóm Taliban và đồng minh của họ là al-Qaeda.

Cuộc chiến A Phú Hãn sẽ là một cuộc chiến dài hạn, kéo dài ít nhất cũng năm, sáu năm trước khi chánh quyền quốc gia này được củng cố và các lực lượng quốc phòng và an ninh của họ được huấn luyện đúng mức và đảm trách nhiệm vụ bảo vệ an ninh lãnh thổ của họ. Chính Đại tướng Jones, Cố vấn An ninh của TT Obama đã công nhận rằng Hoa Kỳ không thể thua trận tại A Phú Hãn được.

Tuy nhiên, thực trạng của một Hoa Kỳ mệt mỏi vì cuộc chiến này, như trước đạy đã mệt mỏi vì chiến tranh Việt Nam,và nhu cầu duy trì tín nhiệm của cử tri Mỹ sẽ đặt TT Obama trứơc ngã ba đường: duy trì đường lối hiện hữu và giúp đở chánh quyền sớm lãnh trách nhiệm của mình, hay là đánh mạnh và dứt khoát, hay là bỏ cuộc ra đi bất chấp những lời cam kết long trọng đối với nhân dân quốc gia này.

Ba muơi sáu năm về trước, trong cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam chánh quyền Hoa Kỳ lựa con đường thứ ba này.

Liệu TT Obama có đủ cương nghị và sức mạnh tinh thần để chiến thắng và chứng minh rằng hội chứng Việt Nam thật sự không còn nữa, như trước đây TT Bush “Cha” đã tuyên bố sau khi chiến thắng vẻ vang tại Iraq vào năm 1991?

Dù sao chắc TT Obama cũng không muốn lịch sử Hoa Kỳ và thế giới ghi lại rằng ông ta, vì thiếu kinh nghiệm và thiếu cương nghị, đã để phong trào khủng bố quốc tế và phong trào thánh chiến Hồi giáo huênh hoang rằng họ đã đuổi quân lực Hoa Kỳ ra khỏi A Phú Hãn.