Nhớ Ngày Quốc Hận 30-4 : TỪ THƯƠNG TIẾC ĐẾN THƯƠNG TÍCH

Nguyễn Văn Học

Có những vết thương dù là… vết thương lòng, nếu chữa trị đúng cách thì sẽ hồi phục. Nhưng nếu không được săn sóc mà còn bị mũi nhọn thọc vào thì muôn đời nó vẫn là thương tích. Cảm nhận này đeo đuổi tôi nhiều năm và ngày 30 tháng 4 hàng năm, tôi lại đau đớn nhận ra thương tích của mình trầm trọng hơn.

Tôi vốn là một cậu bé Bắc Kỳ ngây ngô, theo gia đình vào Nam năm 1954. Người lớn gọi đó là cuộc di cư tránh nạn cộng sản, nhưng với một đứa trẻ mười hai tuổi thì chỉ đơn thuần là cuộc phiêu lưu hứa hẹn nhiều lý thú. Quê tôi ở ngoại ô thành phố Hải Phòng, hàng ngày phải cuốc bộ khoảng hai cây số lên tỉnh học, cuộc sống nửa tỉnh nửa quê đã cho tôi được nhìn thấy những văn minh của đời sống thời đó với những máy móc, xe cộ v...v... Khi nghe tin gia đình sẽ di cư vào Nam , tôi nôn nao háo hức nghĩ đến Sàigòn, nơi được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Theo lời kể của Linh mục quen biết với gia đình thì đấy là chốn phồn hoa đô hội, đèn điện rực sáng, ban đêm tấp nập xích lô máy và taxi, cứ năm mười phút là có chuyến xe buýt dành cho giới bình dân.

Sàigòn đúng như đã được mô tả khi tôi đặt chân đến. Sau nôn nao háo hức tôi bắt đầu bị cuốn hút vào năm học mới, với những khuôn mặt chung quanh có lối phát âm khác hẳn tiếng Bắc, đôi khi tạo ra chuyện hiểu lầm cười đau ruột. Lúc ấy đầu óc non nớt của tôi được tiếp xúc với những lời giảng về chế độ cộng sản ở miền Bắc, nơi cả triệu gia đình phải bỏ ra đi. Với tuổi còn quá trẻ, nửa tin nửa ngờ tôi không nghĩ con người cùng giòng giống lại có thể giết hại nhau một cách dã man, ngược lại những điều được học hỏi là “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”, cộng sản miền Bắc cũng là con dân nước Việt, được giáo dục như chúng tôi thì họ sẽ không làm ác, tại sao chính quyền miền Nam lại giải thích...thế này...thế kia ..???. Vì vậy tôi chỉ tin cộng sản ác, nhưng không tin cộng sản có thể tàn ác như lời giảng, như những hình ảnh sách báo đọc được, như qua phim Chúng Tôi Muốn Sống, Ánh Sáng Miền Nam…

Sau này nhớ lại, tôi mới khám phá ra rằng tư tưởng tự do của mình đã tự nhiên ẩn hiện từ thủa nhỏ, và may mắn là tôi đã được sống ở miền Nam , nếu còn kẹt ở miền Bắc, chắc là cũng... chết sớm!

Khi đến tuổi nhập ngũ, với mục đích rất chính đáng và hợp lý, tôi lên đường như tất cả những thanh niên thời chiến tranh để bảo vệ Miền Nam, với ý nghĩ không đồng ý cộng sản tiếp tục xâm nhập gây chiến thay vì chăm lo gầy dựng cho mảnh đất bên kia được giầu mạnh. Thế rồi, tôi chấp nhận cuộc đời chinh chiến bình thường như những thanh niên cùng trang lứa ở miền Nam, với ý nghĩ muốn bảo vệ nơi mình sinh sống, trong đó có gia đình, thân nhân và đồng bào tôi.

Cho đến thời gian này, tôi vẫn chưa hiểu rõ về con người cộng sản, về những gian manh tàn ác dã man mà họ đối xử với người đồng chủng. Cùng lúc ấy, sự giải thích của chính phủ miền Nam Việt Nam về chiến tranh, về ý thức hệ của một cuộc nội chiến đã gần như không được áp dụng thật chặt chẽ, dù thế hệ thanh niên chúng tôi được dạy yêu điều thiện, phân biệt thù, ghét và không làm điều ác. Giới lãnh đạo lúc bấy giờ thật sự không có phương thức rõ ràng và khả năng thuyết phục tuyệt đối, để giảng giải cho người dân miền Nam thấu hiểu rõ sự thật về cộng sản. Ngay cả lý luận đơn giản hợp lý nhất là: anh từ miền Bắc đem quân đánh tôi, tôi phải đánh trả để tự vệ, cũng bị thành phần thứ ba vo tròn bóp méo nhồi nặn theo quan điểm nhận định riêng, để thủ lợi cho cá nhân hay đảng phái. Và những điều tuyên truyền được học hỏi có khi bị phản tác dụng, gây hậu quả ngược.

Đây là một trong những lý do chính, đưa đẩy miền Nam thành con cừu non bị cộng sản miền Bắc xé xác, trước sự chứng kiến gần như dửng dưng của các cường quốc, đã có ít nhiều liên quan đến cuộc nội chiến giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Mặc dù vậy, một phần lớn chúng tôi vẫn thể hiện lòng yêu nước và chiến đấu với tinh thần anh dũng, nhưng có lẽ vì danh dự riêng hơn là lý tưởng Quốc Gia( mà đã bị một thành phần lợi dụng làm hoen ố). Danh dự riêng của chúng tôi là danh dự của mỗi cá nhân, danh dự của đơn vị địa phương, danh dự của Quân, Binh chủng, danh dự của Sư Đoàn mà chúng tôi phục vụ.

Cuối cùng thì cuộc chiến chấm dứt nhưng quân nhân miền Nam phải nhận một hậu quả thê thảm. Những người bại trận bị trói tay trói chân bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn khổ nhục triền miên cho bản thân, gia đình và đất nước. Chúng tôi đã bị hành hạ, bị sỉ nhục, bị chà đạp danh dự, đời sống tồi tệ đến cùng cực qua nhiều năm tháng khổ nhục trong những trại tù cải tạo. Những đàn áp dã man đã bắt đầu ngay từ lúc mất miền Nam và còn kéo dài cho đến tận bây giờ, dù giới lãnh đạo của cộng sản Việt Nam luôn tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng, đã sửa đổi tốt đẹp hơn, để lừa đảo tất cả mọi người.

Nhìn lại buổi đầu mất nước, những tên đại bịp cộng sản mời gọi đoàn kết ngon ngọt dỗ dành, nhưng càng lúc càng dối trá lường gạt trâng tráo, và 34 năm qua vẫn không thay đổi. Kẻ thù của chúng ta chiến thắng không minh bạch, họ mang hình ảnh của tất cả những tàn nhẫn và xấu xa nhất của loài người. Trong thời gian đầu tháng 5, năm 1975, tôi và người dân miền Nam đã sững sờ kinh ngạc, nhìn bức tượng Thương Tiếc trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị kéo xập xuống. Hình ảnh một pho tượng chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị cắm đầu xuống đất, thay vì bị đập nát vì không phải bằng xi măng, làm tôi sững sờ, không thể hiểu nổi là tại sao một pho tượng cũng bị trả thù đối xử hèn mạt như vậy, thì thân phận chúng tôi chắc chắn là sẽ phải bị trả thù một cách khốc liệt hơn.

Thật vậy, anh em chúng tôi đã trải qua trăm cay, ngàn đắng, người bị hành hạ năm năm, bảy năm, kẻ chín, mười năm, có người còn bị đến mười lăm, mười bảy năm tù. Anh em chúng tôi tội tình gì mà bị hành hạ một cách dã man như vậy? Cộng sản Việt Nam tìm mọi cách từ danh xưng cho đến hành động, nhất nhất đều mang tính cách miệt thị, hạ nhục chúng tôi. Gia đình vợ con thì chúng tìm mọi thủ đoạn để phá vỡ, dồn những người thân yêu của chúng tôi vào đường cùng rồi đẩy đến chỗ chết, trong khi chính quyền cộng sản leo lẻo những luận điệu vỗ về, nào chính sách nhân đạo, nào xóa bỏ hận thù v...v....

Quân, Cán, Chính bị đối xử như vậy, dân chúng cũng chẳng có gì khá hơn, cũng phải đi lao động thủy lợi, bị đuổi ra vùng kinh tế mới, kiểm kê tài sản, đổi tiền để xóa hẳn giá trị tiền tệ miền Nam, rồi cách này cách khác tìm cách cướp sạch tài sản của đa số người dân, với lý luận là toàn dân miền Nam đều là tội phạm của chính quyền cộng sản!

Thời gian sống với cộng sản càng lâu, tôi càng thấm thía và càng nhận rõ những hành động gian manh thủ đoạn dối trá của chúng. Những điều tồi tệ chỉ thấy tăng không giảm. Một ngày cuối năm 1976,bị biệt giam trong Connex theo kỷ luật của trại tù Suối Máu, trời nắng hừng hực, thân xác như đang bị nướng trong lò bánh mì, mà phải nghe tụi văn công Việt cộng ca tụng đảng bằng bài hát "Đảng đã cho tôi sáng mắt, sáng lòng". Tôi phải bật cười khi nghĩ đến bản thân, khi hoàn cảnh của mình có phần đúng như nội dung câu hát. Không biết những tên đảng viên ca tụng đảng cho chúng sáng mắt sáng lòng thế nào, nhưng tôi và tất cả những quân nhân bị cải tạo đã được đảng cộng sản cho… sáng lòng sáng mắt thật!

Vì không sống dưới chế độ cộng sản, nên một số thành phần may mắn thoát trước kể cả những thế hệ lớn lên sau này, không hiểu được sự tàn ác dối trá, lừa đảo khủng khiếp của cộng sản Việt Nam. Nếu đem so sánh với Đức Quốc Xã thì cộng sản tồi tệ hơn nhiều. Quốc xã giết những người không cùng chủng tộc, nhưng cộng sản thì tiêu diệt chính những người cùng chung chủng tộc, huyết thống. Hàng chục triệu người dân Trung Hoa, do chính bọn cộng sản Tàu tàn sát, triệu người dân Liên Xô, hàng triệu người dân Việt, Đại Hàn, Cuba, Căm Bốt v...v..., không phải do chính những người cộng sản cùng chung chủng tộc với họ giết hại, hành hạ, đày đọa cho đến chết đó sao?

Lý do duy nhất họ là không cùng chính kiến với đường lối của cộng sản. Không có bất cứ một phương tiện nào cho dù truyền thông hữu hiệu nhất, có thể lột tả được hết những sự tàn tệ dã man đó. Tướng Độc Nhãn Do Thái (Moshe Dayan), khi sang thăm Việt Nam năm 1967, đại ý ông phát biểu: “muốn chống cộng sản có hiệu quả thì phải sống với chúng đã”. Cho đến nay tôi vẫn chưa hiểu đó là sự nhận định của một nhà chiến lược, hay lời tiên tri của một chính trị gia? Nhưng câu nói ấy thật chính xác rõ ràng, hợp lý, hàm ý nhắc khéo mọi người đừng tin những gì cộng sản nói, trước khi nhìn thấy cộng sản làm.

Áp dụng vào trường hợp của đất nước Việt Nam thì thật là muộn màng và cay đắng. Chúng ta mất tất cả chỉ để đổi lấy một chút hiểu biết về cộng sản, để chính mình được “sáng mắt, sáng lòng”.

Tàn độc và mỉa mai hơn nữa là ba mươi tư năm sau, qua bao nhiêu kinh nghiệm đau thương, vẫn có kẻ còn tin vào những lời hứa hẹn của cộng sản, mà mù quáng dẫm lên vết thương quá lớn của người dân miền Nam.



Không chỉ cộng sản Việt Nam, mà những kẻ phản bội bằng cách này hoặc cách khác, muốn tình nguyện làm một thứ tay sai cho cộng sản, đều là những người đang thọc sâu mũi nhọn vào vết thương của tôi, của các bạn tôi, của những người đã hi sinh cho Tổ Quốc, và của toàn dân chúng miền Nam.

Thương tích này biết đến bao giờ mới lành được ???