Năm 981, Vua Lê Đại Hành lại dựng trận Bạch Đằng Giang lần thứ hai, đánh tan quân nhà Tống. Năm 1075, Tống Thần Tông sai Lưu Gi gom quân, đóng thuyền chuẩn bị đánh Đại Việt, vua nhà Lý ban lệnh cho Lý Thường Kiệt vượt biên giới Tầu đánh trước bằng hai ngả thủy bộ, vây đánh và chiếm cả hai thành Khâm Châu (thuộc Quảng Đông) và và Ung Châu (thuộc Nam Ninh, Quảng Tây).
Mơ thuở Lý binh tràn Trung thổ
Ngọn giáo dài truy kích Tống Quân
Vượt qua ải Bắc, thành nghiên đổ
Phạt Bắc, cờ Nam lộng gió ngàn!
Năm 1257, Quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt xâm nhập Trung nguyên, đánh bại nhà Tống lập nên nhà Nguyên, đem quân từ Vân Nam tràn biên giới đánh Đại Việt lần thứ nhất. Vì không hợp phong thổ, không cướp được lương thực, quân Tầu bị bị phản công phải lui quân về Tầu năm 1258.
Mùa Thu năm 1282 dưới triều vua Trần Nhân Tông, để trả thù Đại Việt, vua Nguyên sai thái tử Thoát Hoan cùng với các tướng Toa Đô, Ô Mã Nhià đem 50 vạn quân tràn qua biên giới. Trần Hưng Đạo cầm quân chống giặc, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng thoát thân.
Năm 1286 Hốt Tất Liệt uất ức vì Thoát Hoan thua trận nhục nhã, đã hoãn lại việc chinh phục Nhật, bỏ ra một năm trời gom quân và đóng 300 chiến thuyền chuẩn bị đánh Đại Việt lần thứ 3. Mùa xuân năm 1287, Thoát Hoan được phong làm đại nguyên soái dẫn 30 vạn quân lấy cớ đưa Trần Ích Tắc về nước làm vua. Đầu năm 1288, bị quân Đại Việt đánh tan tác, thái tử nhà Nguyên phải vứt bỏ vũ khí, ngựa xe trốn về Tầu bằng đường tắt. Đây là lần bại trận thứ 3 của quân Nguyên.
Đường gươm thiên tướng trên sông Bạch
Sừng sững ngang trời Hưng Đạo Vương
Một sớm Đằng giang chôn xác giặc
Một thuở cuồng lưu máu nhuộm hồng.
Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa, sau gần 10 năm kháng chiến đau thương và gian khổ, tháng 8 năm Đinh Mùi, danh tướng Liễu Thăng của nhà Minh bị tử thương ở ải Chi Lăng, quân Minh sau cùng đã bị quét sạch khỏi bờ cõi. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, giữ lại tên nước là Đại Việt.
Đêm đêm thấy máu Long bào đỏ
Còn rỉ trên từng mảnh đất Lam
Đại Cáo Bình Ngô lưng cung nỏ
Giang sơn thu lại chỉ mười năm!
Năm Mậu Thân 1788, sau khi vua Càn Long nhà Thanh điều động 29 vạn quân do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu vượt biên giới tràn vào lãnh thổ Đại Việt, lấy cớ đưa Lê Chiêu Thống về nước, vua Quang Trung đưa đại quân tốc hành ra Bắc đánh tan quân Thanh, tổng đốc Lưỡng quảng Tôn Sĩ Nghị thoát thân bỏ lại cả giấy tờ, ấn tín. 20 vạn quân Thanh tan rã trong hỗn loạn. Trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu 30/1/1789 Đại quân của vua Quang Trung tiến vào Thăng Long với chiến bào của ngài còn đen thuốc súng. Ba năm sau, tức năm Nhâm Tý 1972, vua Quang Trung an dân, luyện binh chuẩn bị Bắc tiến. Ngài cho sứ sang Tầu gặp vua Càn Long để xin cầu hôn và đòi lại lưỡng quảng, tức Quảng Đông và Quảng Tây. Tiếc thay, ngài đã mất sớm năm 40 tuổi.
Đêm vẫn dường nghe trống Hà Hồi
Giục quân vào trận, lửa tên rơi
Theo vua áo cũng đen màu thuốc
Bắc Bình Vương kiếm phạt lưng trời!
Nhìn lại dòng lịch sử bất khuất và oai hùng đó của tiền nhân, chúng ta đau xót với cái mốc thời gian 1975 khi cộng sản miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, gom cả nước vào một mối mà Nguyễn Chí Thiện gọi là:
Cả nước đã qui về một mối
Một mối hận thù, một mối đau thương
Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Đảng tới là tan nát cả!
Bây giờ là năm 2009, hơn 34 năm giang sơn trong cùm gông cộng sản, cái gì đã và đang diễn ra trên quê hương Việt Nam? Hận thù, đau thương, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường, đạo lý, tự do, dân chủ, hạnh phúc; đảng CS tới, đảng CS cai trị, đảng CS hiện diện là mọi thứ tan nát cả. Nhưng cái mà chúng ta thấy cụ thể nhất mà trong thơ Nguyễn Chí Thiện không thấy đề cập, đó biên cương và hải đảo của Tổ Quốc bị mất dần vào tay Bắc phương mà chúng không cần tốn một mũi tên, một giọt máu. Chỉ cần vài chữ ký ô nhục của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam là biên thổ bị nhỏ lại, bị rơi vào tay Tầu. Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Dốc, Lão Sơn, Tục Lãm... “không cánh mà bay” vào tay Bắc Triều.
Chưa hết, độc dược văn hóa Tàu tràn lan Việt Nam đầu độc thế hệ trẻ, độc dược trong thức ăn Tầu làm suy nhược sức sống của dân tộc; phong hóa, văn học, đạo lý nền tảng gia đình, quốc gia suy đồi, tan vỡ. Nô lệ tính Bắc triều trong hàng ngủ nhà cầm quyền ngày càng nặng nề, bất chấp quốc thể và niềm tự hào của dân tộc. Mới đây, vụ CSVN hiến Tây Nguyên cho Trung cộng dùng nhân lực quân đội khai thác Bauxite là âm mưu biến Tây Nguyên thành một Tây Tạng thứ hai trên lưng Việt Nam!
Trong một bài viết của tác giả Hà Sĩ Phu gửi từ Việt Nam cho tờ Dân Chủ Phát triển của TS Aạu Dương Thệ bên Đức, số 35 phát hành tháng 1/2008, trang 16, bài viết “Vừa nội xâm, vừa ngoại xâm phải làm gì trước”, tác giả Hà Sĩ Phu viết:
- Xuất phát từ quan điểm: “Dân là gốc của nước” thì ngày nay phải hiểu mất nước là tình trạng nhân dân bị mất quyền làm chủ đất nước của mình. Nước còn đó nhưng dân không làm chủ thì đấy là mất nước! Quyền làm chủ ấy bị mất vào tay người nước ngoài thì đó là nạn ngoại xâm, mất vào tay kẻ thống trị độc tài trong nước thì đó là nạn nội xâm. Giặc ngoại xâm hay nội xâm đều cướp mất của dân quyền làm chủ đất nước, trong đó có quyền quan trọng nhất lá quyền làm chủ đối với đất đai, lãnh thổ.
Chưa hết, một đoạn trong trang 17, Hà Sĩ Phu viết:
- Năm 1958, ông Hoàng Tùng, Trưởng ban Tư tưởng Đảng của Đảng CSVN đã tuyên bố: “Thà giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cùng phe Xã Hội Chủ Nghĩa anh em còn hơn để tụi Ngụy Sàigòn quản lý!”
Không còn nghi ngờ gì nữa, chủ thuyết cộng sản rất có hại cho chủ nghĩa yêu nước, nó là một nguồn nảy sinh và nuôi dưỡng nội xâm, làm lợi cho ngoại xâm. Khẩu hiệu “Yêu xã hội chủ nghĩa là yêu nước” là một khẩu hiệu ngược ngạo.
Quả thật, chế độ và chính sách của Đảng CSVN chính là những tác nhân giúp cho Bắc phương tiệm tiến dọn đường Hán hóa và xâm chiếm Việt Nam, kể cả nếu cần, bằng con đường vũ lực. Thực vậy, Trung cộng đã “Hán hóa”, đã “Bắc thuộc hóa” Việt Nam bằng cả quân sự và chính trị: “Tầu hóa đảng CSVN một cách có hệ thống” như một thứ tay sai, nô lệ, một tiến trình “Bắc thuộc hóa Việt Nam kiểu mới”.
Tiêu diệt sức đề kháng của dân tộc là điều Đảng CSVN đang làm. Tiêu diệt sức đề kháng của dân tộc là tội ác của Đảng CSVN đang mang. Tội ác đó dọn đường cho một chu kỳ Bắc thuộc tiếp theo trên đầu dân tộc VN? Điều này không phải là suy luận, mà là một hiện thực đang diễn ra tại Việt Nam.
Hiện nay, một bộ phận của gần 3 triệu người Việt lưu vong ở hải ngoại, có chất xám, có tiếng nói, và có một tổng lực kinh tế mạnh, liệu chúng ta làm được gì cho tự do, dân chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Dù hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi từ 1975, hiện đang trở thành công dân của nhiều quốc gia trên thế giới, có lìa xa Tổ Quốc bằng những khoảng không gian khác nhau, nhưng chúng ta vẫn là người Việt Nam trong tâm thức, trong trái tim, trong con người. Chúng ta sẽ đắc tội với tiền nhân nếu chúng ta không làm gì trước thảm họa diệt vong của dân tộc. Chấm dứt chế độ cộng sản bằng cách này hay cách khác trong cuộc chiến đấu gian khổ để cứu nước là trách nhiệm của đạo lý và lương tâm. Đó là con đường duy nhất để chấm dứt sự đau khổ và hiểm họa diệt vong của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hay chúng ta sẽ có câu trả lời!
Hải Triều - Mùa Quốc Hận 2009”