Dân Công: Bom Nổ Chậm và Nổ Chụp

Vi Anh

"Dân công" là "từ" CS trên báo chí của Trung Cộng (TC), chỉ những người nông dân bỏ làng lên thành phố tìm việc làm thời TC mở cửa cho đầu tư ngoại quốc vào. Bây giờ thế giới tài chánh khủng hoảng, kinh tế suy thoái, mất thị trường lớn Mỹ, Nhựt, Liên Au, nên TC xuất cảng hàng hoá không được, kỹ nghệ đình đốn. Nhiều công ty phá sản, chủ bỏ trốn, công nhân thất nghiệp, nhiều người bị quịt lương, Tết về quê tay không, mang theo bất mãn về làng quê, thêm thuốc mồi cho một thứ bom nổ chậm và nổ chụp có thể nếu không sụp đổ thì cũng lung lay chế độ độc tài đảng trị toàn diện của TC. "Dân Công" theo con số chính thức của nhà cầm quyền CS Bắc Kinh có khỏang từ 120 đến 130 triệu. Còn báo Le Courrier International của Pháp, có tới 226 triệu người lao động đến từ nông thôn, từng gởi về quê 90% nguồn sống cho khoảng 728 triệu nông dân, hơn phân nửa dân số TQ.

Không phải vì chống Cộng mà trù mạt CS. Mà đây là phân tích và nhận định độc lập của báo chí ngoại quốc. Đài Pháp RFI điểm báo Pháp, Báo Le Courrier International đăng toàn văn lại phóng sự điều tra của một tuần báo kinh tế tài chánh của TC là tờ Kinh Tài, tựa đe "Nghèo như dân công", nói lên thảm cảnh "di dân ngược chiều" ở TC. Hàng trăm triệu người khóc đứng khóc ngồi, một số phải đi ngược về quê cũ. Theo phóng sự của tuần báo Kinh Tài của TC, những "dân công" này về quê không thể đòi lại vườn ruộng đã giao cho họ hàng canh tác khi họ ra đi. Có đòi lại thì cũng không làm nổi vì đã quen nếp sống ở thành rồi. Thêm vào đó nông dân còn ở làng quê, đất ít người đông, diện tích canh tác quá ít cũng không thể nuôi sống gia đình. Dân công nếu muốn ở lại thành phố chờ xem có gì thay đổi không thì cũng không được. Làm sao sống nổi vì thất nghiệp lấy tiền đâu giải quyết chuyện ăn ở rất mắc và gởi tiến về giúp gia đình cho con học. Hoàn cảng hoàn toàn bế tắc và nan giải.

Báo Tài Kinh khéo léo "viết lách" cho biết là chính quyền TC đang bất lực trước "quả bom xã hội" này mà khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm nổi bật lên, không che dấu được. Đến đây người ta thấy rất có lý nhận định của những nhà chánh trị học, những nhà nghiên cứu về hai chế độ CS ở Á Châu Trung Cộng và Việt Cộng. Đó là hai nhà cầm quyền mạnh ngoài yếu trong. Bên ngoài có vẻ mạnh bạo, nhưng bên trong mong manh, dễ vỡ. Nhà cầm quyền CS cụ thể là Đảng Nhà Nước CS rất mạnh bạo trong việc kềm kẹp, trấn áp dân chúng, nhưng rất bất lực trong việc đối phó với các biến cố xảy ra cho xã hội. Điển hình, trận động đất ở Tứ Xuyên Trung Quốc, cơn "bão giá" khắp nước VN, cho thấy bên trong của hai chế độ CS Bắc Kinh và chế độ CS Hà nội rất yếu. Hai tháng sau trận động đất, Đảng ở TC không lo đủ một phần tư đảng viên để điền thế số đảng viên đã chết. Trong vùng động đất có 1932 đảng viên, chết 436, mà chỉ tìm được 76 người thay thế. Ngày thường thì đảng viên làm ông hoành ông trấn, tham quan ô lại , khi biến cố thì chỉ tự tư tự lợi, cầu an, đảng viên ai sống chỉ biết lo cho gia đình và vô cảm để dân chúng sống chết mặc bây. Có một nạn nhân phụ nữ kêu trời suốt 40 ngày ở trại, Bà chưa thấy mặt một đảng viên nào bén mãng đến.

Cái yếu của nhà cầm quyền CS còn thấy rõ tỏ ra bất lực trước cơn cơn bão giá, lạm phát và thất nghiệp.

Cái yếu nhà cầm quyền CS càng yếu hơn vì người dân hết sợ CS. Càng ngày dân chúng, trong đó có công nhân, nông dân càng chống đối càng nhiều, tăng nhịp độ và cường độ. Đã có biểu tình lớn nhứt hàng chục ngàn người đã xảy ra ở TC, có đốt xe, đốt bót cảnh sát. Phong trào Dân Oan ngày càng phát triễn sâu rộng khắp nước. Nhà cầm quyền CS Bắc Kinh thấy rõ nguy cơ, số dân quê ra thành làm bị thất nghiệp trở về quê, đem theo nghèo khổ vật chất nhưng tinh thần tự do cao, làm nông thôn thêm căn cỗi, và bất ổn có thể xảy ra. Nên Bắc Kinh rót ngân sách để xây dựng hạ tầng cơ sở để tạo ra việc làm, theo chánh sách xã hội hài hòa. Nhưng báo chí và những người quan sát tình hình chánh trị hai nước CS Á Châu tỏ ra bi quan. CS chỉ tăng trưởng kinh tế mà không phát triển kinh tế vì không thăng tiến cần lao, không đồng tiến xã hội, tạo hố sâu ngăn cách giữa nông thôn và thành thị và giữa giai cấp đặc quyền đặc lợi quá giàu và người dân quá nghèo. Thêm vào đó nguyên tắc cấp ủy địa phương lãnh đạo cộng với phép vua thua lệ làng, xã thôn tự trị thâm căn cố đế trong xã hội Trung Hoa và VN, đã biến chánh sách của trung ương thành khẩu hiệu hơn là thực hành. Các kế họach đầu tư công cộng, phát triển nông thôn của Băc Kinh không hiệu quả, bị cán bộ đảng viên và những người cây thân cậy thế trục lợi. Thêm vào đó, người dân lại không có phương tiện kiểm sóat các khỏan chi tiêu của nhà nước, nên việc rót ngân sách để tạo việc làm cho người dân không có hiệu quả.

Ở VN cũng thế. Con số thất nghiệp đã lên 400,000 người, đó là con số chánh thức, con số thực tế ắt cao hơn. Đảng Nhà Nước CS bàn luận, nói thì nhiều, làm thì ít, chỉ biết dùng biện pháp hành chánh thôi. Mấy tháng trời ngăn chận chẳng ra gì cả. Thủ Tướng VC Nguyễn tấn Dũng kích cầu số tiền lớn nhưng chú ý kỹ nghệ thành thị hơn nông nghiệp, nông thôn. Đảng ủy địa phương ăn xới, ăn bớt, dân chúng chẳng đưọc gì.

CS không còn có thể lấy tăng trưởng kinh tế để làm thế chánh thống công quyền cai trị, trước con khủng khoảng kinh tế, tài chánh. Do đó theo các chuyên gia kinh tế chánh trị học, các biện pháp kích cầu Bắc Kinh đưa ra hàng tỷ tỷ hiện nay chỉ mang tính ngắn hạn mà lại không đi đến đâu. Hơn nữa trong hai chế độ CS Bắc Kinh và Hà nội, hệ thống an sinh xã hội không đáng kể nếu không muốn nói là không có. 80% dân số Trung Quốc và VN không có lương hưu, không có trợ cấp tiển an sinh xã hội, không có bảo hiểm y tế ở tuổi già. Tỷ lệ vật giá gia tăng, tỷ lệ lạm phát vượt xa mức tăng gia lợi tức. Cơn khủng khoảng tài chánh này làm cho lợi tức cá nhân cá nhân và gia đình đã eo hẹp lại thêm túng thiếu. Người dân nghèo lại mắc cái eo. Những cuộc nổi dậy của công nhân và nông dân gần đây qui mô lớn hơn, bạo lực hơn, nhịp độ nhặt hơn, địa bàn rộng hơn, số lượng nhiều hơn.

Ngần ấy đang tạo thành thuốc mồi ngày càng mạnh cho trái bôm nổ chậm nổ chụp ở TC và Việt Cộng, như ở Liên xô và các nước CS Đông Au. Hôm ngày 1 tháng Tư, đài RFA của Mỹ có đưa ra một tin con cá tháng tư, Thủ Tướng VC Nguyễn tấn Dũng từ chức. Nói chơi cho vui nhưng biết đâu đó là một cách những nhà báo khéo léo nói lên một sự thật, một sự kiện đó là chánh phủ nói riêng, nhà cầm quyền CS Hà nội sắp sửa đổ.

Yếu tố Kinh tế tại Đông hải

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA

...Trung Quốc chỉ có hai ngả để ra ngoài là biển Đông và... đường qua Bắc Việt...

Việc Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc bành trướng lực lượng hải quân ra đại dương đã khiến thế giới quan tâm và nhiều nước Đông Á e ngại, trong đó tất nhiên là có Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu riêng về động lực kinh tế của sự chuyển hướng ấy vì xưa nay Trung Quốc chỉ là đại cường lục địa mà thôi. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về yếu tố kinh tế tại Đông hải sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả...

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Từ nhiều năm nay, Trung Quốc có nỗ lực xây dựng một hải đội có tầm hoạt động đại dương và nay mai có thể trở thành một cường quốc hải dương. Sự việc ấy tất nhiên gây e ngại cho nhiều quốc gia tiếp cận với Đông hải, trong đó có Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế kỳ này tập trung tìm hiểu về động lực kinh tế của sự chuyển hướng được đánh giá là lịch sử của Trung Quốc. Ông là nhà kinh tế và cũng là nhà nghiên cứu về Trung quốc, nên trước tiên chúng tôi đề nghị ông trình bày cho thính giả rõ về bối cảnh của chuyện này.

- Về thời sự thì ngày 23 tới, Hải quân Trung Quốc tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thành lập với cuộc duyệt binh ngoài khơi Thanh Đảo - là bộ Tư lệnh của Hạm đội Đông Bắc Á - và sự tham gia của hai khu trục hạm mới từ Đông Phi trở về sau cuộc tuần tiễu hải tặc ngoài khơi Somalia. Về bối cảnh thì từ 15 năm nay, Trung Quốc đã có kế hoạch xây dựng lực lượng hải quân và ngày càng khẳng định tư thế đại cường hải dương, trước hết là trên Thái bình dương và Ấn độ dương. Về lịch sử thì cường quốc đại lục này đang từ trong lục địa xoay ra ngoài vì nhu cầu kinh tế, là điều chưa từng có từ mấy ngàn năm nay. Về hậu quả thì thế giới sẽ phải nhìn lại xứ này vì sự chuyển động ấy có thể gây bất ổn cho cả khu vực, gần gũi nhất là ngoài Đông hải của Việt Nam.

Việt Long: Như vậy, chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách trở ngược lại lịch sử Trung Hoa trong đó có lịch sử kinh tế khiến xứ này vẫn xoay vào trong lục địa như ông nói...

- Thứ nhất, vì địa dư hình thể và văn hoá, Trung Quốc thực ra bị khoá trong đất liền. Phân nửa lãnh thổ của họ chỉ là những vùng trái độn hiểm trở tiếp giáp với bên ngoài, là - theo chiều kim đồng hồ - cao nguyên Thanh Tạng, Tân Cương, Nội Mông và Mãn Châu, nhằm bảo vệ xứ này khỏi các dị tộc từ phía Tây và phía Bắc mà họ coi là man rợ nhưng đã nhiều lần vào làm chủ Trung Nguyên và cai trị Hán tộc. Trung Quốc chỉ có hai ngả để ra ngoài là biển Đông và... đường qua Bắc Việt.

- Trong lịch sử kinh tế, xứ này khai thác tài nguyên nội địa và nếu thiếu thì dùng đường chuyển vận bên trong, chủ yếu là con đường Tơ Lụa qua Trung Á ở hướng Tây và Tây Nam để tìm thêm sản vật họ không có và qua đó trao đổi với Cận Đông và Âu Châu. Nếu có dùng đường hàng hải thì chỉ xuống đến bùng biển Đông Nam Á và xa lắm thì qua eo biển Malacca tới Ấn Độ dương và thường bị hải thuyền của Việt Nam ngăn chặn. Ta không quên Việt Nam ngày xưa rất giỏi về thủy chiến và đánh thắng các đợt xâm lăng từ Trung Quốc bằng thủy chiến.

- Trong lịch sử Trung Quốc, chỉ có hai lần xứ này muốn xây dựng hải đội mà rồi sau vài chục năm là lại bỏ vì quá tốn kém. Một lần là vào đời Nguyên, khi hải đội Mông Cổ đòi tấn công Nhật Bản và Việt Nam mà thất bại vào cuối thế kỷ 13 - và Toa Đô để lại thủ cấp ở nước Nam. Lần thứ hai vào đầu thế kỷ 15 đời Minh qua bảy chuyến hải hành của Đô đốc Trịnh Hòa, sau vài chục năm mà cũng đành bỏ như có lần chúng ta nói tới vào tháng Chín năm ngoái vì liên hệ đến Việt Nam.

Việt Long: Nói về nguồn lợi kinh tế thì còn chuyện bóc lột tài nguyên của Việt Nam qua các đợt xâm lược trong lịch sử. Vì sao nhà Minh đã từng tấn công Việt Nam vào đầu thế kỷ 15 để thu vét tài nguyên nước Nam như Nguyễn Trãi đã nói trong bài Bình Ngô Đại Cáo sau khi đánh thắng quân Minh?

- Việc nhà Minh bóc lột nước ta là có, nhưng đấy không là nguồn lợi kinh tế chiến lược, mà họ còn bị lỗ nặng!

- Chính là 10 năm kháng chiến của Lê Lợi sau 10 năm xâm lược lại khiến nhà Minh kiệt quệ. Họ đành bỏ kế hoạch bành trướng đại dương do Tam bảo Thái giám Đô đốc Trịnh Hoà tiến hành từ 1405 đến 1433, từ triều Vĩnh Lạc. Chẳng là sau khi xâm lăng Việt Nam, nhà Minh bị khủng hoảng ngân sách, lại còn bị các lực lượng kế thừa Đế quốc Mông Cổ, kể cả Đế quốc Thổ-Mông của Thiếp Mộc Nhi hay Timurleng, tấn công từ biên vực vào. Vì nỗi khó khăn đó, và vì thảm bại tại Việt Nam, triều Tuyên Đức nhà Minh bị bèn ngả theo ý kiến của các Nho thần thủ cựu mà lui về cố thủ bên trong, củng cố thêm Vạn lý Trường thành, trở thành cường quốc đại lục rồi mặc nhiên nhường biển xanh cho Âu Châu trong hơn 500 năm.

- Xin nói thêm rằng các "bảo thuyền" của Đô đốc Trịnh Hoà chỉ muốn, theo cách nói cùa Trung Quốc là "phát huy đức sáng" của Thiên tử với tặng vật quà cáp, chứ không nhắm vào mục tiêu kinh tế, quân sự hay thực dân như Âu Châu về sau. Cách biểu dương tốn kém của nét văn hóa khoa trương của họ đó mới gây phản ứng ngược là chính sách họ gọi là "hải cấm". Họ cấm đóng thuyền viễn duyên, nhìn vào lục địa, quay lưng ra bên ngoài, cho tới khi bị liệt cường tấn công và sâu xé khi nhà Thanh lụn bại. Ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh thực tiễn hơn các Hoàng đế Trung Hoa rất nhiều.

Việt Long: Và khác hẳn ngày xưa, có phải là Trung Quốc nay lại rất cần thị trường bên ngoài?

- Khi Mao Trạch Đông nắm quyền tại Hoa lục, ông cũng hành xử như các Hoàng đế xa xưa là xua quân lập vùng trái độn ngoài biên vực, từ Tây Tạng, Tân Cương tới Nội Mông và Mãn Châu. Bên trong thì vẫn theo chế độ tự cung tự cấp, và làm cách mạng khiến mấy chục triệu người chết đói.

- Sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, từ 30 năm nay, Trung Quốc mới thực sự ra khỏi hình thái kinh tế nông nghiệp, tăng trưởng mạnh và ngược lại, bị lệ thuộc vào bên ngoài. Họ cần thị trường xuất khẩu và trước đó cần nhập cảng nguyên nhiên vật liệu cho việc công nghiệp hoá.

- Một thí dụ nổi bật là dầu thô. Trung Quốc là một nước sản xuất dầu khí, vậy mà từ năm 1993, đã tiêu thụ nhiều hơn sản lượng và bắt đầu phải mua từ ngoài. Mười năm sau, là năm 2003, họ trở thành nước mua dầu thứ nhì thế giới sau Nhật. Năm ngoái là 2008 thì đã vượt qua Nhật Bản, với tám triệu thùng tiêu thụ mỗi ngày mà chỉ sản xuất được chừng phân nửa.

- Ngoài dầu thô, Trung Quốc cũng cần quặng sắt và đã triệt để khai thác hầm mỏ của họ, với sản lượng tăng gấp bốn trong hai chục năm vậy mà chưa đủ cho kỹ nghệ thép nên phải nhập. Từ 11 triệu tấn vào năm 1987, số nhập khẩu ngày nay đã lên tới 440 triệu tấn. Sau dầu thô, quặng sắt, họ cũng cần nhiều kim loại như bauxite hay đồng....

- Có sản lượng nông nghiệp - kể cả gạo - nhiều nhất địa cầu, và cũng đáng kể về nhiều nông sản khác, Trung Quốc vẫn chỉ canh tác đủ ăn và nay cũng phải nhập khẩu để nuôi gần một tỷ 400 triệu dân. Nói vắn tắt thì dù tận lực đào xới tài nguyên nội địa gấp ba bốn lần, xứ này chưa có đủ cho nhu cầu và phải tìm nguồn cung cấp từ bên ngoài. Điều này chưa hề xảy ra trong lịch sử Trung Quốc.

Việt Long: Và nhu cầu thứ hai là việc bán hàng vì kinh tế Trung Quốc lệ thuộc nhiều hơn vào các thị trường xuất khẩu phải không?Họ làm những gì để giải quyết bài toán ấy?

- Kinh tế của họ lệ thuộc vào xuất cảng tới 40%. Không bán hàng ra ngoài là nhiều doanh nghiệp phá sản, dân thất nghiệp sẽ gây loạn. Họ cũng chưa từng gặp chuyện này trong lịch sử. Để giải quyết nhu cầu mua bán, Trung Quốc phải đảm bảo nguồn cung cấp và thị trường xuất khẩu nên tích cực xây dựng quan hệ ngoại giao, kinh tế và an ninh với rất nhiều nước.

- Vào thời Mao, xứ này đầu tư mạnh vào các nước Á Phi vì mục tiêu ý thức hệ, là lãnh đạo các nước phi liên kết để cạnh tranh với Liên Xô và Ấn Độ. Nay họ tăng cường quan hệ cho mục tiêu kinh tế chiến lược. Từ cả chục năm nay, Bắc Kinh đã đầu tư và viện trợ cho Phi châu, Mỹ châu La tinh, các nước Trung Đông, Trung Á. Lãnh đạo và doanh nghiệp của họ tới tấp thăm viếng và mua chuộc mọi xứ lớn nhỏ - kể cả các chế độ hung đồ độc tài. Có khi họ xây dựng hạ tầng cho các xứ này để ký kết hợp đồng cung cấp lâu dài. Nhưng, họ cũng cần kiểm soát được luồng chuyển vận hàng hoá trên toàn cầu nên càng thấy nhu cầu bành trướng ra đại dương.

Việt Long: Ông cho rằng họ giải quyết nhu cầu bành trướng ấy như thế nào?

- Từ 10 năm trước, kỷ niệm 50 năm thành lập Hải quân, Bắc Kinh đã mở rộng địa bàn và nhiệm vụ cho các hải đội theo nhiều hướng không nhất thiết tuần tự mà có thể là song hành.

- Thứ nhất là phải làm chủ các Đặc khu Kinh tế ngoài khơi, là kiểm soát lãnh hải trong phạm vi 200 hải lý từ bờ biển của họ, dù điều ấy xâm phạm lãnh hải xứ khác. Từ quan niệm truyền thống Trung Quốc thì đây là "vùng trái độn" của họ, nhưng nằm ngoài biển. Nếu cần thì tấn công thuyền bè xứ khác để thị uy, ngư phủ Việt Nam đã bị giết là vì mục tiêu đó. Ta cần nhìn Luật biển của Liên hiệp quốc theo nhãn quan này.

- Thứ hai là từ vùng cận duyên là các Đặc khu Kinh tế Độc quyền, phải tiến ra viễn duyên. Bắc Kinh xây dựng quan hệ ngoại giao để sử dụng một số quân cảng Miến Điện, Bangladesh, Pakistan hay Tích Lan hầu hải đội của họ có chuỗi tiếp vận trên hải trình từ Thái bình dương qua Ấn độ dương lên tới biển Á Rập và Phi châu. Nhờ chiêu bài tiểu trừ hải tặc, các chiến hạm Trung Quốc có thể vượt eo biển Malacca ra khỏi Thái bình dương là điều họ đang thực hiện.

- Thứ ba, tìm giải pháp công nghệ khả dĩ bù đắp sự yếu kém hiện tại. Trung Quốc đã mua về, học lại và cải tiến nhiều loại chiến hạm, tầu ngầm và hỏa tiễn chống chiến hạm của Liên bang Nga để có thể ngăn cản xứ khác, như Nhật Bản và nhất là Hoa Kỳ, nếu hải quân đôi bên đụng trận tại Đông Bắc hay Đông Nam Á. Mục đích vẫn chỉ là để gây ngần ngại và mua thời giờ cho họ tiến vào bước thứ tư.

- Đó là xây dựng một hải đội thực sự có khả năng viễn duyên. Một biểu hiện dễ thấy của bước này là thiết kế hàng không mẫu hạm, điều Bắc Kinh đã khởi sự. Nhưng từ trạng thái cường quốc đại lục sang đại dương, họ còn phải mất thời gian thay đổi tư duy và tổ chức. Họ mong thu hẹp khoảng cách ấy như đã từ trạng thái nông nghiệp sang công nghiệp hoá trong có mấy chục năm.

Việt Long: Nếu đúng như vậy thì các nước sẽ phản ứng thế nào, từ nay mọi sự sẽ ra sao?

- Từ thế phòng thủ tiêu cực cả ngàn năm, Trung Quốc đang tiến ra thế bành trướng tích cực và sẵn sàng uy hiếp các lân bang nhỏ yếu, dù vẫn nói chuyện hợp tác trong hòa bình. Vì vậy mà xứ này đang mở ra cuộc thi đua võ trang nguy hiểm và sẽ gặp phản ứng của các cường quốc như Nhật Bản, Ấn Độ và nhất là Hoa Kỳ. Nhưng, nếu lịch sử có để lại một bài học thì chúng ta nên xét tới mục tiêu bành trướng ra ngoài và khả năng ổn định bên trong: tôi thiển nghĩ là có khi Trung Quốc chưa ra tới biển xanh thì lại bị nội loạn như nhiều triều đại đã gặp, trước khi tan rã.