Vị trí chiến lược của Tây Nguyên

Trần quốc Hiên


Trong các Hồi ký, Tướng Giáp từng nhận xét về vị trí chiến lược của Tây Nguyên:

“Tây Nguyên nằm ở Nam Trung Bộ, nối liền 2 miền Bắc Nam của đất nước, tiếp giáp với Hạ Lào và Bắc Campuchia, có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trên chiến trường Đông Dương. Nếu còn tham vọng chiếm Đông Dương, địch không thể để mất địa bàn chiến lược cực kỳ lợi hại này”… “Nhiều nhà quân sự, cả ta và địch, đều nói nắm được Tây Nguyên là khống chế được toàn bộ chiến trường miền Nam Đông Dương. Đây là mái nhà của miền Nam bán đảo Đông Dương”.

Sự thật, Tây Nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt về quân sự, quốc phòng, hơn là về phát triển kinh tế; đây là vùng cao nguyên trải dài nằm tiếp nối với dãy Trường Sơn hùng vĩ, tạo thành một bức tường thiên nhiên liên hoàn, hiểm trở. Quá trình Nam Tiến của nhiều thế hệ người Việt gắn liền với việc khai mở tuyến đường mòn Trường Sơn, vượt qua dãy Hải Vân tiến vào kiểm soát Tây Nguyên, làm chủ cả vùng Nam Trung Bộ, rồi Nam Bộ, và tiến ra Biển Đông đóng giữ tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.Sau này, người Pháp, người Mỹ cũng nhận thức được vị trí chiến lược của Tây Nguyên: nơi đây là vị trí “yết hầu”, “tử huyệt” của cả nước, là “mái nhà của Đông Dương”.

Như vậy, với nhãn quan chiến lược, Tướng Giáp và Bộ thống soái tối cao Cộng sản Bắc Việt đã lựa chọn Tây Nguyên là trận quyết chiến chiến lược. Chiến dịch Tây Nguyên làm rung chuyển chiến trường miền Nam, tạo thế chia cắt mạnh mẽ, mang đến thời cơ mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng, rồi tiếp đó mở cuộc tấn công vào Sài Gòn làm tan rã hoàn toàn quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trường Sơn, Tây Nguyên và Biển Đông có vị trí chiến lược quan trọng như vậy, và tập đoàn bành trướng Cộng sản Trung Quốc biết rất rõ điều này, do đó năm 1975, họ đề nghị được viện trợ cho Việt Nam 2000 xe vận tải vào Trường Sơn, nhưng phải cho 500 lái xe người Trung Quốc đi cùng.

Theo lời bà Bẩy Vân, vợ của cố Tổng bí thư Lê Duẩn trả lời phỏng vấn đài BBC, thì khi ấy ông đã nói dứt khoát: “Một thằng tôi cũng không cho… Nó nói đưa người vào giúp ta, nhưng thực chất là muốn đưa dân vào lập làng, lập huyện người Tàu ở Trường Sơn và Tây Nguyên. Nắm được Trường Sơn và Tây Nguyên là khống chế được toàn Đông Dương”.

Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN


Trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 12/2001, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ra tuyên bố chung: “hai bên nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án (bauxite) Bô-xít nhôm Đắc Nông” . Tiếp đó, ông Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm Trung Quốc ngày 30/5 đến 2/6/2008, tái khẳng định trong tuyên bố chung: “hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xít Đắc Nông…”

. Điều này được ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đảm bảo chắc chắn:

“Khai thác bô-xit Tây nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị đã nghe và kết luận về phát triển bô-xit Tây nguyên. Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bôxit Tây nguyên...”.

Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN đã mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc, dự kiến có khoảng 20 ngàn công nhân Trung Quốc, sẽ vào làm việc tại Tây Nguyên. Cùng đi với đoàn người Trung Quốc đó, sẽ có các chuyên gia, kỹ sư, quản lý, đặc biệt là sự có mặt của các An ninh mật và Gián điệp Trung Quốc. Cũng không loại trừ khả năng các Công ty quân đội Trung Quốc đưa người vào Tây Nguyên.

Các dự án này đang được triển khai gấp rút, trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường, đến nay lượng người Trung Quốc vào Tây Nguyên tiếp tục tăng nhanh mỗi ngày. Cùng với đó, để đẩy nhanh tiến độ dự án, tỉnh Đắc Nông đang gấp rút chuẩn bị khởi công nhà máy luyện quặng bô-xít.

Cũng như những chủ trương lớn trước đây của Đảng và Nhà nước CSVN, như việc phá bỏ Hội trường Ba Đình, mở rộng Hà Nội gấp hơn 3 lần… thì nay “chủ trương mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác bô-xit nhôm” đã gây ra phản ứng rất mạnh mẽ từ dư luận xã hội; nhiều ý kiến phản đối kịch liệt từ giới khoa học, trí thức, tướng lĩnh quân sự, cựu chiến binh, và đặc biệt là người dân sống ở Tây Nguyên, những người trực tiếp bị ảnh hưởng xấu về môi trường sống và cơ hội làm việc.

Trong thư gửi Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, hôm 5/1/2009, Tướng Giáp đã nói rõ: “Việc xác định chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên…”.

Mới đây, báo điện tử VietnamNet có đăng bài phân tích của 2 chuyên gia quân sự, Đại tá Nguyễn Huy Toàn, chuyên gia lịch sử quân sự và ông Quách Hải Lượng, chuyên gia Viện nghiên cứu Chiến lược Quân sự, nêu ý kiến: "khu vực này (Tây Nguyên) rất không nên đưa bất cứ một người nước ngoài nào vào khai thác, vì đây là địa chính trị, địa kinh tế và địa quân sự rất nhạy cảm. Ta phải biết cách bảo vệ và gìn giữ “yếu huyệt” này. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt, chúng ta sẽ có tội với thế hệ mai sau”.

Trung Quốc là nước đang đói khát tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là nhôm dùng cho ngành công nghiệp quốc phòng, chế tạo vũ khí tối tân. Họ đã vào đến Tây Nguyên, vùng đất giàu có tài nguyên, không chỉ có bô-xít nhôm, mà còn nhiều loại khoáng sản quý hiếm khác.

Môi trường Tây Nguyên sẽ bị tàn phá nặng nề; văn hóa Tây Nguyên sẽ bị đe dọa nghiêm trọng; người dân Tây Nguyên sẽ bị xáo trộn cuộc sống, nơi ở; an ninh quốc phòng tại Tây Nguyên sẽ bị sơ hở, rối ren… nhưng đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN.

Thế trận bao vây chiến lược của Trung Quốc


Vừa qua, hai Nhà nước Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, đúng thời hạn mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận là kết thúc trong năm 2008...! Vào hạn chót đó, Cộng sản Việt Nam đã buộc phải chấp nhận nhượng bộ, để mong được yên ổn biên giới phía Bắc.

Có người cho rằng việc cắm mốc biên giới lần này là một “bức tường thành văn minh” ngăn chặn quân bành trướng phương Bắc. Nhưng đây chỉ là biên giới cứng ! Sự thật ảnh hưởng của Trung Quốc đã mở rộng “biên giới mềm” đến toàn bộ Việt Nam và Đông Dương: Họ đã chiếm lĩnh các cao điểm lợi hại ở dọc biên giới phía Bắc nước ta, tiến vào vị trí “tử huyệt” ở Tây Nguyên. Tại Biển Đông, hải quân Trung Quốc vẫn đang hoành hành, đe dọa, khiêu khích các Tàu nước ngoài đi vào vùng biển này…

Khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cho xây dựng căn cứ quân sự, cơ sở hạ tầng, sân bay, tiến hành tập trận và khai thác du lịch. Còn tại quần đảo Trường Sa, sau khi đánh chiếm 6 đảo do quân đội Cộng sản Việt Nam đóng giữ (năm 1988), họ cho xây dựng các cơ sở quân sự và vận tải trên các hòn đảo này. Trung Quốc cũng đánh chiếm đảo Đá Vành Khăn (Mischief Reef) từ tay Philippines vào đầu năm 1995, đặt ở đây chiến hạm, và sử dụng nơi này để yểm trợ các chiến dịch hải quân; kiểm soát huyết mạch giao thông trên biển.

Cùng với việc thành lập Thành phố Tam Sa, thuộc tỉnh Hải Nam, trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc ưu tiên tăng cường cho Hạm Đội Nam Hải thành lực lượng hải quân hùng mạnh nhất; quân chủ lực tinh nhuệ, hùng hậu nhất của hải quân Trung Quốc đều thuộc Hạm Đội Nam Hải, cho thấy chiến lược của họ là Nam Tiến.

Theo nhiều nguồn tin, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ hải quân rất lớn ở gần thành phố Tam Á, phía Nam đảo Hải Nam, chỉ cách bờ biển Việt Nam 200 km; đây là một căn cứ trọng yếu cho các tầu ngầm nguyên tử và hàng không mẫu hạm.

Nhờ căn cứ hải quân lợi hại này, quân đội Trung Quốc sẽ dễ dàng kiểm soát vùng Biển Đông và các tuyến đường hàng hải trong khu vực, đồng thời tranh giành ảnh hưởng với Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Gần đây, hải quân Trung Quốc đang có những bước đi mang tầm chiến lược, khiến Mỹ đặc biệt quan tâm. Các hành động này cho thấy Trung Quốc đang từng bước thay đổi từ chiến lược "phòng ngự biển gần", chuyển sang hướng phát triển "hải quân viễn dương"; với lực lượng hải quân hùng mạnh, đủ sức tác chiến tại vùng biển xa.

Cộng sản Trung Quốc đang tham vọng chiếm đoạt Biển Đông, chờ đợi thời cơ chiếm nốt quần đảo Trường Sa. Mục đích của họ rất rõ ràng: tấn công quân sự quy mô nhỏ; thực hiện đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng biển tranh chấp; bắn giết, bắt giữ các ngư dân, ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên ở vùng biển tranh chấp; chia rẽ các nước trong khu vực ASEAN bằng kinh tế và ngoại giao; tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới.

Nếu tại Tây Nguyên, Trung Quốc bí mật cho xây dựng căn cứ quân sự, thiết lập đường tiếp tế từ Lào và Campuchia, cùng lúc đưa dân Trung Quốc vào lập làng, lập huyện ở đây núp dưới vỏ bọc “khai thác bô-xít nhôm”, khi đó Việt Nam sẽ hoàn toàn nằm trong thế trận bao vây chiến lược của Trung Quốc.

Tây Nguyên trong thế gọng Kìm


Về mặt chiến lược, nếu nắm được địa bàn Tây Nguyên, làm chủ vùng Bắc Tây Nguyên, thì sẽ dễ dàng đánh chiếm 2 thành phố lớn là Huế - Đà Nẵng, cắt đôi nước Việt Nam tại đây. Điều này không khó, khi mà Trung Quốc có căn cứ quân sự ở Bắc Tây Nguyên, gần ngã 3 Đông Dương, nơi tiếp giáp với Lào và Campuchia.

Họ đã có căn cứ Tam Á hùng mạnh ở đảo Hải Nam, chỉ cách bờ biển Huế - Đà Nẵng 200 km, phạm vi hoạt động lý tưởng của tàu ngầm và chiến hạm. Quá trình xây dựng căn cứ này được tiến hành song song với việc Trung Quốc đề nghị thúc đẩy hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Tây Nguyên, nó cho thấy rõ ý đồ muốn biến Tây Nguyên thành căn cứ quân sự của Trung Quốc. Hai căn cứ quân sự này sẽ tạo thành thế trận gọng Kìm vô cùng lợi hại nhắm vào Huế - Đà Nẵng.

Trong thế trận bao vây chiến lược, cùng với thế trận gọng Kìm, đất nước sẽ đứng trước nguy cơ bị chia cắt, rơi vào một cuộc nội chiến vô cùng tàn khốc; đây sẽ là cuộc chiến đẫm máu hủy diệt giống nòi Lạc Hồng, được sự hậu thuẫn, giật dây của bọn bành trướng Trung Quốc, nó đánh gục sức kháng cự của dân tộc ta mãi mãi. Đây là thời cơ để Trung Quốc thôn tính Biển Đông, khống chế Việt Nam, Đông Nam Á và một phần Đông Bắc Á, hoàn thành mộng bá chủ, trở thành mối đe dọa cho Hòa bình trên thế giới.

Làm cho Việt Nam suy yếu, ép nước ta theo “quỹ đạo” trở thành “chư hầu” quy phục Thiên Triều Bắc Kinh. Âm mưu thâm độc ấy của Trung Quốc được ngụy trang khéo léo dưới vỏ bọc “đồng chí XHCN”. Sách lược “đánh vào trái tim” bằng việc trói buộc “Ý thức hệ Cộng sản”, từ đó khống chế mọi hành động của “đồng chí” Việt Nam, nhờ đó họ dễ dàng thực hiện các bước đi chiến lược, và đang tiến rất gần tới đích.

Không loại trừ khả năng họ mua chuộc lãnh đạo Đảng CSVN và dùng “mỹ nhân kế”, làm cho đối thủ mất cảnh giác, đắm chìm trong cuộc sống xa hoa hưởng lạc. Trải qua nhiều thế hệ lãnh đạo, và nay Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tạo thời cơ rất tốt cho họ tiến vào Tây Nguyên.

Cái bắt tay của hai Chính quyền Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc làm chúng ta nhớ lại bài học Mị Châu – Trọng Thủy từ hơn 2000 năm trước.

Bài học Mị Châu – Trọng Thủy


Tổ tiên ta đã sớm biết đoàn kết để giữ nước, chống ngoại xâm phương Bắc. Khi mà đất nước là của riêng kẻ cầm quyền, dòng họ, hay gia đình trị; không biết dựa vào dân để chống ngoại xâm, thì sẽ mất nước.

Đó là bài học lịch sử to lớn đầu tiên từ truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy.

Thục Phán An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc, triều đại kế tiếp các Vua Hùng, ông cho xây thành Cổ Loa kiên cố và chế tác vũ khí Nỏ Thần lợi hại. Tần Thủy Hoàng bên Tàu cho quân sang xâm phạm, đã bị đánh thua. Triệu Đà, vốn là tướng Nhà Hán, dùng gian kế “cầu hòa”; xin cho con trai là Trọng Thủy kết duyên với Mị Châu con gái vua An Dương Vương, thực chất là cho người sang làm Gián điệp nhằm phá hoại từ bên trong.


An Dương Vương đã mắc mưu kẻ địch, tưởng là gả con gái cho Bắc Triều, mong giữ hòa hiếu mà giữ được ngôi báu. Do mất cảnh giác, lại bị đánh bất ngờ, An Dương Vương đã thua chạy, kết cục nước mất nhà tan, dân ta chìm đắm trong cảnh lầm than suốt 1000 năm Bắc Thuộc… Nàng Mị Châu bị vua cha chém đầu, còn Trọng Thủy vì nhớ vợ cũng gieo mình xuống giếng tự vẫn.

“16 chữ vàng” và “4 tốt” không bảo vệ được “ngôi báu” của Đảng CSVN; dựa vào CNXH đặc sắc Trung Quốc với “lý luận tương đồng, vận mệnh tương quan” để giữ Chế độ này lại càng sai lầm; cắt đất nhượng biển và bán bô-xít cho Trung Quốc cũng không thể mang lại yên ổn cho đất nước; lịch sử đã chứng minh chỉ có Dân chủ hóa, phát huy sức mạnh toàn dân, mới giữ được đất nước trọn vẹn.

Chúng ta không được để tấn bi kịch Mị Châu – Trọng Thủy sẽ tái diễn trong thời đại ngày nay. Vào thời điểm lịch sử này, chúng ta hiểu ra rằng để bảo vệ vững chắc nền Độc lập của đất nước, chỉ có duy nhất con đường tiến tới Dân chủ hóa.

Nói dối là bộ phận không thể tách lià người Cộng Sản VN

Truyền Thống Nói Dối

Lê Sáng

Theo từ điển tiếng Việt 1997 thì từ BỆNH có ba nghĩa:

(1) - Bệnh là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động không bình thường;

(3) - Bệnh là thói xấu hoặc khuyết điểm về tư tưởng, làm cho có những hành động đáng chê trách, hoặc gây hại [Trang 56]; Nói dối (đg) - Là nói sai sự thực một cách cố ý, nhằm che dấu điều gì [Trang 710]; Giả dối (t) – Là không thật nhằm mục đích đánh lừa [Trang 369].

Như thế, bệnh nói dối là một thói xấu, khuyết điểm về tư tưởng. Người bị nhiễm cố ý nói sai sự thực nhằm che dấu một vấn, lừa dối đề để thủ lợi... Vì là bệnh cho nên cứ để nó phát triển, sẽ làm vật chủ chết. Có thể không chết vì bệnh đó… Nhưng trên nền bệnh đó, sẽ làm thành cơ hội nảy sinh các bệnh khác, y văn gọi là bội nhiễm… Vật chủ không chết vì bệnh đó thì cũng chết vì bội nhiễm các bệnh khác…

Nửa cuối năm mậu tý, có biết bao nhiêu chuyện sảy ra đối với cộng sản Việt Nam, từ việc giở trò lưu manh với các tôn giáo bị lộ bài nhục mặt, đến việc quan chức tham nhũng bị cảnh sát quốc tế "bắt vở" đòi trừng trị… Bị quốc hội Âu Châu ra nghị quyết ràng buộc vấn đề nhân quyền với vấn đề hợp tác song phương… Rồi đủ chuyện quan chức cộng sản xử lý công việc lóng ngóng, mạ lị nhân dân đến mức phải xin lỗi… ra luật thuế đánh lung tung, phải công khai cải chính…

Người cộng sản như không biết được hệ quả này bắt nguồn từ đâu nên xem ra có vẻ như càng làm rối, nội bộ càng lục đục. Nền tảng nhận thức của họ là chủ nghĩa cộng sản Mác-xít-lêninít, với phương pháp tiếp cận vấn đề là lý luận nhận thức Mác-Lênin, có vẻ như không đưa họ tiếp cận tới sự thực, hoặc làm họ không thừa nhận sự thực mà cả nhân loại tiến bộ mặc nhiên thừa nhận... Cái xã hội quái thai mà họ cưỡng bức đẻ ra, nay càng ngày ngày quái đản. Rồi bỗng chợt tỉnh ra trong cơn mê triền miên, họ cũng nhận thấy một thực trạng rợn người là: Cả xã hội nói dối.

Ngày cùng tháng tận của năm, một tên cộng sản "gộc" là Hữu Thọ - Từng là uỷ viên trung ương đảng, tổng biên tập báo đảng, trưởng ban tuyên giáo trung ương – Một tên bồi bút về hưu được đám bồi bút hậu duệ mang ra phỏng vấn, kẻ hứng người tung với cái tít rất kêu: Trăn trở đầu năm mới của trí thức Việt Nam: Bệnh giả dối (*)… Rồi trong lúc cao hứng, đám bồi bút "Gióng lên sự cảnh báo": Dân tộc ta là dân tộc có truyền thống nói dối – Láo xược ! Dối trá lật lọng là của riêng người cộng sản chứ có liên quan gì đến dân tộc Việt Nam???

Một hồi giảng giải của Hữu Thọ, nào là:

Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát - Sự thật nó không tự đến mà anh phải tìm đến nó - anh phải đủ niềm tin ở người ta thì người ta mới nói sự thật với anh - Ông cha ta thường khuyên bảo con cháu phải thật thà - Đi đến chân lý cũng có nhiều con đường và nói ra chân lý có nhiều cách nói - 99% sự thật vẫn chưa chắc đã là sự thật - Tôi nghĩ năm Mậu Tý đúng là năm không vui với báo chí khi có nhiều nhà báo bị thu thẻ, một số nhà báo bị bắt giam … vv và vv …

Toàn những chuyện "Giời ơi đất hỡi", ai có mắt cũng nhìn thấy, thế mà nó được đám bồi bút tuổi còn trẻ cho rằng "lời tâm huyết". Xét ở góc độ chất lượng tin, thì các thông tin này cũ mèm, và rất thô sơ, đến mức một người đọc thông viết thạo là đã có thừa. Xét góc độ dung lượng tin, thì gần như bằng 0, vì nó toàn những thuật ngữ, khái niệm chứ chẳng có tính chất thông tin thời sự gì cả. Nó là một vấn đề tồn tại nhức nhối trong bộ máy tuyên truyền cộng sản với những kẻ bồi bút, viết lách kiếm miếng ăn… Đây là vấn đề mà quốc gia theo dân chủ đa nguyên đã giải quyết xong. Trên thế giới chỉ các quốc gia độc tài, đặc biệt là độc tài cộng sản là còn vấn nạn này.

Có người cho rằng Hữu Thọ muốn tìm căn nguyên của hiện trạng "cả xã hội nói dối" để bốc thuốc chữa. Căn nguyên của hiện trạng này ai mà chẳng biết, chính Hữu Thọ cũng đã tự nói ra: Để bệnh nói dối tràn lan chủ yếu là tại người nghe - Vì những kẻ cầm quyền không chấp nhận sự thực, ai nói sự thực chẳng khác tự rước hoạ vào thân - Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã chẳng rước hoạ vào thân khi nói lên sự thực đó ư ? Ngài còn hút chết với cộng sản khi mong muốn giải quyết thực trạng này bằng cách xây dựng quốc gia như Hàn Quốc - Nhật Bản. Hàn Quốc và Nhật Bản là quốc gia dân chủ, nghĩa là người dân làm chủ, và khi dân làm chủ, họ ra lệnh cho nhà nước không để bất cứ người cộng sản nào trong bộ máy công quyền - Sự thật là thế đó.

Sự thực thì giải thoát nhân dân - Nhưng sự thực lại kết liễu cộng sản. Người cộng sản chưa bao giờ và không bao gờ chấp nhận sự thực, cho nên những ai nói thật trong chế độ cộng sản đã "tuyệt chủng". Ai đang còn sống trong chế độ cộng sản, chắc chắn phải nói dối, cho dù chỉ là để sống qua ngày.

Trong chế độ cộng sản, nhân dân nói dối để giữ mạng sống, họ là nạn nhân. Cộng sản xây dựng các chuẩn mực gian dối để tồn tại, ăn gian nói dối, chỉ muốn nghe điều gian dối, nó là thủ phạm. Vấn đề cả xã hội nói dối nhưng có hai hiện tượng khác nhau về bản chất.

Trong chương trình "tạp kỹ" mà đám bồi bút tung hứng, Lúc thì Hữu Thọ đóng vai là con bệnh, lúc lại đóng vai là thầy thuốc, phân tích nọ kia xem ra có vẻ rất "duy vật biện chứng"… Nhưng bản chất của vấn đề thì không biết vô tình hay cố ý mà ông ta lại lờ đi: Chủ nghĩa cộng sản là thứ chủ thuyết đánh tráo chân lý. Lúc thì lấy mục đích tốt đẹp "trong mộng" để biện minh cho phương pháp "giết người cướp của". Lúc lại lấy phương pháp tàn độc kia để uốn nắn mục đích. Hữu Thọ là kẻ nói dối về thực trạng một xã hội mắc bệnh nói dối, là kẻ mù loà không nhận biết được căn nguyên của con bệnh nan y: Nói dối. Khi Hữu Thọ là con bệnh thì khai lâm sàng gian dối với thầy thuốc. Khi Hữu Thọ là thầy thuốc lại nói dối về bệnh tình bệnh cảnh của con bệnh… Có thuốc gì chữa được không ??? Cho nên chắc chắn không phải Hữu Thọ muốn tìm căn nguyên, muốn bốc thuốc chữa bệnh nói dối trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bốc thuốc chữa bệnh nói dối trong chế độ cộng sản Việt Nam ư ? Một việc làm quá dễ: Hãy xem gương tày liếp cộng sản đông Âu - Người cộng sản hãy nhìn nhận sự thực, công lý muốn họ ra toà, ở đó họ tha hồ biện luận bào chữa không ai bịt mồm bịt miệng họ cả… Nếu đúng tội lỗi họ đang mang, nhân dân muốn tiễn họ đi gặp Mác-Lênin-Hồ Chí Minh.

Có người lại cho rằng: Đây là sự "sám hối" muộn màng thường diễn ra vào cuối đời của người cộng sản - Hữu Thọ đang sống những ngày cuối cùng của cuộc đời mà Thượng Đế ban cho Y, Y sám hối như bao nhiêu kẻ trộm cướp cuối đời sám hối???… Không ! Đây chưa phải là sự sám hối, nó chẳng qua chỉ là một phản ứng bản năng của một thụ tạo là con người mà thôi. Khi lờ mờ nhận ra sai lầm trong nhận thức trong hành vi, người ta bắt đầu suy tư… sợ hãi… cắn rứt lương tâm… đến lúc nào đó họ phải nói ra mồm để đỡ cắn rứt. Hoàn toàn là bản ngã chứ không phải vô ngã…

Nhưng tại sao phải chờ đến cuối đời người cộng sản mới "cắn rứt" ? Là vì giai đoạn trước, lúc họ đương chức đương quyền, thì tiền bạc, lợi lộc quá lớn đối với họ… nó làm mờ mắt, làm mù lương tâm… rồi người cộng sản hành động theo lối "cờ đến tay ai người đó phất" bất chấp đạo lý… Khi họ không còn sức hưởng thụ cái đống vật chất to lù mà họ "kiếm" được… Họ mới bắt đầu "tỉnh ngộ"?

Cho nên suy cho cùng, thì sự "cắn rứt" vì sự thật bị đánh tráo, chân lý bị ngụy tạo, vì những việc đã làm của người cộng sản cũng chỉ là để giải quyết vấn đề tâm lý cá nhân của họ mà thôi, nạn nhân của họ cũng như toàn xã hội chẳng được lợi gì. Thậm chí trong một số trường hợp nó còn có tính chất dùng để "đánh bóng" tên tuổi của chính họ trước khi làm đám ma theo thủ tục quốc tang…

Thực tế từ những cộng sản lão thành như Võ Văn Kiệt, cho đến những tên cộng sản không cầm súng, không làm ra chính sách, chỉ viết lách như nhà văn Nguyễn Khải… Chỉ "cắn rứt lương tâm" bằng mồm. Vừa "cắn rứt" vừa lo sợ bị đảng xử lý… Cho nên họ nói rất "ý tứ", nghe lọt lỗ tai tất cả mọi người… Thật là vô thưởng vô phạt, vô tích sự.



Ngày cùng tháng tận của năm, ngày cùng tháng tận của một đời người, ngày cùng tháng tận của một chế độ phi lý… Sao mà lắm cái quái đản: Đánh thuế kiều hối – Không! Xin lỗi! Công văn soạn nhầm; Đánh thuế ngoại tệ nhập khẩu – Không! Xin lỗi! Áp nhầm danh mục; Dân tộc ta có truyền thống nói dối – Không! Xin lỗi! Áp nhầm đối tượng…

Đúng phải là: Cộng sản có truyền thống nói dối.

Góp ý của Minh thu


"VK yêu nước là một bộ phận không thể tách rời khỏi VN" cũng như "Nói dối là một bộ phận không thể tách rời Cộng Sản Việt-Nam. "

Nói dối là ăn vào máu tuỷ của VGCS cũng như ma tuý dính vào máu. Như vậy thì mở miệng ra là phải nói dối, để lừa nhau, dưới lừa trên. trên lừa dưới, con cái lừa cha mẹ, anhchị em lừa nhau , cha mẹ lừa con cái, nhà nước lừa các ngoại giao đoàn của cả thế giới, lừa cả Liên Hiệp Quốc. Đến khi câu chuyện để bể thì đổ tội cho cấp dưới thừa hành là xong chuyện phủi tay như Pontius Pilate ngày xưa. Bề dưới chỉ những con vật tế thần.

Những giao kèo, khế ước, công uớc, hiệp định cũng toàn là những lừa dối thế giới để ăn người, ký đấy rồi bỏ đấy không cần thi hành. Khi bị chỉ trích thì chỉ cần đưa một tên (như tên Lê Dũng) ra cãi cối cãi chầy theo kiểu rẻ tiền nói càn để chạy tội. Tưởng mọi người không biết nhưng chỉ vì quyền lợi của đất nước người ta mà người ta bỏ qua, nhưng đàng sau người ta cười cho thối mũi, khinh chê ra mặt. TGM Ngô Quang Kiệt nói đúng quá: "Người VN cầm hộ chiệu XHCNVN ra khỏi nước rất xấu hổ vì bị coi như dân trộm cắp, ăn gian nói dối". Thế mà cả nước quen "ăn gian nói dối" lại xúm nhau đứng lên cải chính câu nói thật tình của Ngài.