SỰ THUA KÉM CỦA ĐÔNG PHƯƠNG LÀ CÓ THẬT ? NẾU CÓ, THÌ LỖI TẠI AI ?

Chu Chi Nam

Có người cho rằng Đông phương hiện nay thua Tây phương hàng nửa thế kỷ, nếu không muốn nói hàng thế kỷ, thua cả hàng cuả nền văn minh, trong khi Tây phương đang ở nền văn minh thứ năm là văn minh tri thức điện tóan, thì Đông phương hãy còn lùng thùng trong nền văn minh thứ ba là định cư nông nghiệp ; trong khi Tây phương đã chấp nhận chế độ dân chủ, thì Đông phương vẫn còn quẫy quặng trong chế độ quân chủ ; thua trên phương diện cuộc sống hàng ngày, thua trên phương diện luận lý, khoa học.

Có phải thế không ?

Nếu phải, thì lỗi tại đâu ? Thì lỗi tại ai ?

I ) Sự thua kém của Đông phương là có thật


Quả đúng như vậy, sự thua kém của Đông phương đối với Tây phương là có thật ; chúng ta không cần đi vào nghiên cứu dài dòng, vì sự hạn hẹp của bài viết, chúng ta chỉ cần lấy con mắt du lịch bình thường ; ngoài một vài thành phố lớn, ở một vài cái hotel sang trọng, chúng ta chỉ cần đi quá hơn độ vài cây số, ở Việt Nam , ở Trung Cộng, hay ngay ở một vài nước sản xuất dầu hỏa, giàu có được là nhờ may mắn thiên nhiên, ngoài phi trường và một vài khu đặc biệt ở thủ đô, phần còn lại vẫn là chậm tiến, nhà cửa nghèo nàn, thô sơ. Ngược lại ở những nước Tây phương, chúng ta về ngay đồng quê, những vùng xa lánh thủ đô, chúng ta cũng thấy tình trạng họ phát triển như thế nào, nhà thương, trường học, đường xá họ xây dựng ra sao.

Không những thua trên phương diện cuộc sống hàng ngày, mà còn thua trên phương diện khoa học và lý luận.

Về khoa học chúng ta không đi sâu vào chi tiết, chúng ta chỉ cần so sánh Đông y và Tây y.

Về Đông y, tôi không dám nói tất cả Đông y là dở, có những bệnh mà Đông y chữa rất hay, và Đông y chú trọng đến phòng bệnh hơn chữa bệnh, sát nhập quan niệm y tế vào cuộc sống hàng ngày, từ ăn uống cho đến cử động thở hít. Tuy nhiên một cách tổng quát, chúng ta thấy Tây y đã vượt Đông y quá xa. Chúng ta chỉ cần nói đến việc chẩn bệnh. Cách chẩn bệnh của Đông y, ngoài lời khai của bệnh nhân, là bắt mạch và coi nhiệt độ ở trên trán. Cách này, Tây y đã thay thế bằng đo áp xuất và hàn thử biểu, chính xác hơn nhiều. Thêm vào đó họ còn thử máu, thử phân, thử nước tiểu, không biết bao nhiêu lần ; thế mà nhiều khi họ còn chưa tìm ra căn bệnh ; huống chi là cách thô sơ, bắt mạch, coi nhiệt độ. Đấy là chưa nói đến chuyện scanner ( chụp hình) và nhiều kỹ thuật tối tân khác mà tôi không biết. Chúng ta chỉ lấy 2 bệnh mà trước thế kỷ 20, Đông phương và có thể nói toàn thế giới bị khổ sở, đó là bệnh giang mai và bệnh ruột thừa. Ngày hôm nay, Đông y vẫn còn bó tay với 2 bệnh này ; nhưng đối với Tây y, thì là chuyện chữa trị dễ dàng với thuốc trụ sinh và mổ ra để cắt khúc ruột dư đi.

Về phương diện lý luận, tôi không dám nói đến cả Đông phương, tôi chỉ nêu lên 2 trường hợp điển hình là cách nói chuyện của người Việt Nam và truyện chưởng, phim chưởng của người Tàu mà rất nhiều người Việt Nam ưa thích.

Cách nói chuyện của phần đông người Việt chúng ta khác hẳn với cách nói chuyện của người phương Tây. Người phương Tây họ nói chuyện là với mục đích trao đổi, tìm chân lý, lẽ phải ; họ sẵn sàng chấp nhận lỗi của mình nếu họ thấy họ sai, cũng như họ sẵn sàng chấp nhận lý lẽ phải của người đối thoại. Ngược lại cách nói chuyện của phần lớn người Việt, đa phần lại là người được coi là trí thức, ông giáo sư này, bà bác sĩ nọ, ông chuyên viên kia ; họ mở miệng là bốp chát, nhằm ăn thua, dù sai chăng nữa cũng không muốn nhận, ít nghe người đối thoại, đầy thành kiến, sẵn sàng chụp mũ, đưa ra những nhận xét về người và về sự vật một cách vội vã, hồ đồ, đưa ra một vài lý do ắt có, chưa đủ, mà đã kết luận, ít khi nhận phần sai về mình.

Về truyện chưởng, phim chưởng, đại khái nội dung phần nhiều là trả thù, trả thù cha, thù mẹ, thù thầy, thù người yêu, theo quan niệm luật rừng rú « dent pour dent, œil pour œil « có nghĩa là mày làm hư con mắt tao, thì tao phải làm hư con mắt của mày ; mày đánh gãy răng tao, thì tao phải đánh gãy răng mày. Đầu óc tự cho mình là quan tòa, tự xét sử, rồi tự mình thi hành sự xét sử ; đây là đầu óc chậm tiến, man dại. Đối với những người văn minh, ngay dù biết rõ ai là thủ phạm giết bố mẹ mình, nhưng họ cũng phải chờ tòa án xét sử, rồi đợi sau đó cơ quan hành pháp thi hành án sử. Thêm vào đó, trong những chuyện chưởng, không những tự mình làm quan tòa, mà cách nhận xét, tìm kiếm kẻ thù cũng là vội vã, hồ đồ, chỉ dựa trên trực giác, tình cảm, chỉ mới nghe người ta nói người đó, môn phái đó là thủ phạm giết bố mình, đã vội vã đi trả thù ; sau đó mới biết là mình lầm ; rồi từ đó oán thù chồng chất. Đấy là chưa nói đến cách kết cấu của phần lớn chuyện chưởng là không hợp lý và thường đi từ thái quá này đến thái quá khác.

Tôi không dám nói chuyện chưởng là tiêu biểu cho cả văn hóa Tàu ; nhưng nó cũng tiêu biểu một phần văn hóa và cách hành sử của người Tàu.

I I ) Lỗi tại đâu và lỗi tại ai ?


1) Lỗi tại chế độ quân chủ phong kiến, mô hình tổ chức nhân xã tương ứng với nền văn minh định cư nông nghiệp, với trật tự xã hội: “ Sĩ, nông, công, thương “, mô hình này quá tàn ác và kéo dài quá lâu, có thể nói cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản; vì cộng sản cũng chỉ là quân chủ phong kiến trá hình


Ở đây tôi không thể đi sâu vào lịch sử chế độ quân chủ phong kiến Đông phương, tiêu biểu là Tàu và Việt Nam, tôi chỉ nêu lên một vài dữ kiện mà tôi nghĩ rằng nó cũng đủ nói lên tính cách tàn ác và dã man so với những chế độ quân chủ khác trên thế giới. Ở thế giới chúng ta không thể nào tìm thấy hình phạt đến độ chu di cửu tộc hay tam tộc, không thấy một ông vua nào có cả bao ngàn cung tần mĩ nữ và có cả trăm họan quan, những người bị thiến, một hình thức vô cùng tàn ác với con người; một khi ông vua chết đi, thì những cung tần hoặc phải bị chôn sống với vua hoặc bắt buộc phải đi tu. Chỉ cần 2 sự kiện này cũng đủ nói lên tính chất tàn bạo của chế độ quân chủ Tàu và Việt Nam.

2) Lỗi tại giai tầng sĩ phu, trí thức, sản phẩm của chế độ quân chủ phong kiến, không đóng đúng vai trò của mình


Chế độ quân chủ phong kiến tàn ác này đã khôn ngoan biến giai tầng sĩ phu trí thức thành những người công chức, công cụ để phục vụ triều đình, với tinh thần “ trên đội, dưới đạp “, với chính sách : Nếu kẻ sĩ ( người đi học ) “ khôn ngoan” cố học để có bằng cấp, phục vụ triều đình, thì hưởng bổng lộc, dưới 1 người; nhưng trên vạn người; nếu phản vua hay chống lại triều đình thì bị tru di tam tộc hay cửu tộc. Tinh thần kỵ húy, không dám nói đến tên vua, tên các quan lớn trong triều, thì mới được chấm bài, nếu không thì bị lọai; và tinh thần “ Chữa đỗ ông nghè, đã đe hang tổng “ là nằm trong chính sách tàn ác của chế độ quân chủ phong kiến của Tàu và Việt Nam. Những người sỹ phu trí thức có tinh thần cải cách, cải tiến thì bị trù dập. Trong lịch sử Việt Nam, gần, chúng ta thấy có Nguyễn trường Tộ, nói những lời chân thật, yêu nước, muốn canh tân sứ sở, thì bị triều đình và nhóm sĩ phu trí thức bảo thủ cho là “lọan ngôn”; xa thì chúng ta thấy Chu văn An phải từ quan bỏ triều đình, sau khi dâng sớ tố cáo các quan lại tham nhũng để về quê dạy học; Nguyễn Trãi là nạn nhân của sự tranh chấp quyền hành trong triều, phải tội đến chu di tam tộc ( giết đến 3 họ).

Chế độ cộng sản hiện nay ở Trung Cộng và Việt Nam nói riêng và ở Bắc Hàn, Cu ba, nói chung, thì cũng chỉ là chế độ quân chủ trá hình. Ngày xưa, vua thay trời trị dân, ngày nay thì quan niệm tôn thờ lãnh tụ; ngày xưa thì triều đình, ngày nay thì là đảng; và cũng một chính sách đàn áp đối với dân, đối với người chống kháng. Ngày xưa thì tru di tam tộc, ngày nay, những ai chống đối thì bị cô lập về kinh tế, không chỉ một người mà còn cả họ hàng thân thuộc. Ngày xưa thì cha truyền con nối; ngày nay với cộng sản cũng cha truyền con nối như ở Bắc Hàn, anh truyền em nối ở Cu ba. Ở trung cộng và Việt Nam, thì cũng cha truyền con nối, nhưng khôn khéo và đỡ lộ liễu hơn; vì nếu chúng ta xem xét tiểu sử những người trong trung ương đảng và bộ chính trị của 2 nước này, thì phần lớn là con ông cháu cha của những ông lớn cộng sản trước kia.

Sự thua kém của Đông phương so với Tây phương là có thật; vì Tây phương họ đã biết từ bỏ sớm chế độ quân chủ để bước vào chế độ dân chủ; vì dân chủ là mảnh đất mầu mỡ không những để cho kinh tế nẩy mầm; mà còn để con người phát triển khả năng. Thật vậy, con người dù là da vàng, da trắng hay da đen, đến bất cứ từ đâu, nếu được sống dưới một chế độ dân chủ, chính quyền do chính nó bầu ra, chứ không phải là cha truyền con nối, hay bầu cử giả dối kiểu đảng cử, dân bầu, thì nó như những hạt giống sẽ nẩy mầm, đơm bông, kết trái. Ngược lại, nếu sống dưới một chế độ độc tài, chế độ này chỉ lo cho một thiểu số người, thì những hạt mầm đó sẽ bị thui trột. Hiện nay ở Trung Cộng và Việt Nam, có cả trăm ngàn, cả triệu đứa bé sống cuộc đời nghèo khó, phải đi làm, bán vé số, không được đi học, trong đó có biết bao nhân tài bị thui trột. (1)

Ngày nào Trung Cộng và Việt Nam còn lùng thùng trong chế độ độc tài quân chủ, mặc dù là quân chủ trá hình, ngày đó còn thua kém Tây phương.