Nhà Sàn Hồ Chí Minh

• Trần Nhu

Tòa nhà đồ sộ, kiến trúc theo kiểu mẫu Tây Phương, tuy hơi xưa nhưng đẹp và uy nghi nhất Thủ đô Hà Nội. Nó đã trải qua bao nhiêu năm binh biến... mà vẫn còn giữ được nguyên vẹn. Đó là dinh Bắc bộ phủ cũ, sau là dinh Thủ Hiến Bắc phần, đến biến cố Hiệp Định Genève năm 1954 nó trở thành phủ Chủ tịch. Thời Pháp thuộc ngôi nhà này mang biển số 12 phố Ngô Quyền, nội thành Hà Nội.

Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch có một ngôi nhà sàn mới của ông vua vô sản.

Nghe chữ “nhà sàn”, người ta thường liên tưởng đến những ngôi nhà sàn của các dân tộc thiểu số ở miền núi, làm bằng gỗ, cách mặt đất khoảng trên 1m, phía dưới dùng để cất giữ dụng cụ hay nhốt gia súc. Những ngôi nhà sàn này rất đơn sơ, mộc mạc, giản dị. Ấn tượng giản dị khiến người ta lầm tưởng rằng ngôi nhà sàn của Hồ chí Minh có lẽ cũng thế.

Thật là một sự giản dị “mẫu mực” tuyệt đẹp, rất đáng triển lãm để dân chúng ngưỡng mộ. Thực tế hoàn toàn không phải như vậy. Những du khách đã từng viếng thăm ngôi nhà sàn của Hồ chí Minh, sẽ có cảm nghĩ khác hẳn... Và tôi cũng muốn mời các bạn đọc cùng tôi làm một cuộc du ngoạn. Từ phòng lớn khánh tiết dinh Chủ tịch, theo hành lang ra phía sân sau. Có một con đường đẹp rải sỏi trắng phau, hai bên trồng xoài, dẫn tới một ngôi nhà sàn, giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà. Cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau mang phong vị dân giã. Hai cây dừa giống quí mua từ Thái Lan đem về trồng tỏa bóng mát xanh rờn. Cảnh những khóm nhài, tầm xuân từ mảnh vườn trước cửa thoang thoảng hương thơm. Sau nhà sàn là vườn quả. Cây vú sữa đem từ miền Nam ra cành lá sum xuê đứng giữa những hàng cam Hải Hưng trĩu quả vàng tươi và hàng trăm loại cây quí thuộc trên bốn mươi họ thực vật do các Bộ Nông Nghiệp, Bộ Lâm Nghiệp và các địa phương trong nước đưa về trồng. Có nhiều cây đặc sản nổi tiếng như Bưởi Phúc Trạch, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mê Linh. Cam Xuân Mai, Vân Du, Xã Đoài, Sông Con; Quít Hương Cầm, Lý Nhân; Táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; Sông Mai, Đông Mỹ; Hồng Tiên Điều chiết từ cây hồng của quê hương thi hào Nguyễn Du...

Ngoài ra còn có cả những loại cây hiếm quí mua từ nước ngoài như 11 cây ngâu hoa trồng cạnh nhà sàn, 5 cây bụt mọc quanh ao, 36 loài cau khác nhau, cây tre bụng phật v.v...

Tầng dưới nhà sàn được lát bằng loại gỗ quí đánh bóng sáng như gương, trong phòng lớn 12 chiếc ghế tựa xếp quanh chiếc bàn rộng, góc nhà có 4 máy điện thoại đặt trên bàn nhỏ. Cạnh đó còn úp chiếc mũ sắt bộ đội thời kỳ Mỹ bắn phá miền Bắc, dưới lòng đất có một hầm xây kiên cố (cũng tại phòng này năm 1958, Hồ chí Minh triệu các ủy viên Bộ Chính trị đến họp để quyết định dâng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng, thời kỳ này họ Hồ kiêm luôn 3 chức vụ quan trọng: Chủ tịch Đảng, Tổng bí thư, Chủ tịch nhà nước. Trường Chinh phải từ chức TBT sau CCRĐ đến ngày 10/9/1960 đại hội Đảng Lao động Việt Nam (tức Đảng CS) mới bầu Lê Duẩn làm TBT thứ nhất).

Trở lại câu chuyện nhà sàn từ tầng dưới có cầu thang lên gác có chiếc chuông nhỏ để báo cho HCM biết có khách đến thăm tầng trên lầu có hai phòng chính làm bằng gỗ trắc, ướp xạ hương, đánh bóng nhẵn như ngà. Nơi ông thường hành lạc với các cô gái miền núi, và các con cháu liệt sĩ Miền Nam tập kết ra Bắc. Chọn những cháu xinh đẹp vào múa hát. Thật vinh dự cho các linh hồn tử sĩ...

Từ nhà sàn nhìn ra ao cá, nghe tiếng vỗ tay là cá kéo lên đớp mồi; xôn xao cả một góc ao. Hàng mấy chục loài hoa phong lan đẹp như quế lan hương, phi diệp, da báo, tai trâu, vây rồng được ghép lên những cây bàng nở hoa quanh năm bên bờ ao.

Nhà sàn nơi hành lạc của ông vua vô sản là một sáng kiến lạ lùng, không giống ai nhưng nếu được kinh doanh trong thời kỳ kinh tế đổi mới thì lợi nhuận rất cao nên làm thí điểm ở Hà Nội và Sài Gòn.

Về chuyện làm nhà sàn cũng có nguyên nhân sâu xa tiềm ẩn. Đó là những kỷ niệm hành lạc của Hồ chí Minh với các cô gái miền núi. Hồi ấy Trần Đăng Ninh một công thần trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở vùng rừng núi Bắc Bộ đã có công săn tìm được nhiều cô gái Thái xinh đẹp mê hồn bên dòng suối Nạn Cỏ, hay bên con thác Cà Nàng ở Quỳnh Nhai (Sơn La) để cho Hồ Chí Minh hành lạc ở nhà sàn. Đến khi về tiếp quản Hà Nội. Ông có sáng kiến làm ngôi nhà sàn và lệnh cho các cận thần tìm gái miền núi để ông hành lạc cho đúng hương vị.

Năm 1952, Trần Đăng Ninh lúc bấy giờ làm Tổng cục Hậu cần cho nhân viên đi khắp các tỉnh miền núi để tuyển chọn các cô gái xinh đẹp. Họ đã phát hiện ra nàng Xuân, một cô gái Mường tuyệt đẹp, “mấy lần Ninh đích thân đến gặp cô, cuối năm 1954, thì đem xe đến đón cô Xuân về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ.” (dẫn trong thơ tuyệt mệnh của vợ chồng Nguyễn thị Vàng.)

Nhân đây tác giả cũng muốn nói qua về nhân vật Trần đăng Ninh, kẻ được coi là cận thần của họ Hồ từ buổi ban đầu. Chính y đã theo lệnh của Hồ Chí Minh rước các đoàn cố vấn Trung Quốc vào dày xéo đất nước ta từ năm 1950. Trong cuốn “Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Tổng tập hồi ký” do nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân ấn hành đầu năm 2004. Nơi trang 629 tướng Giáp viết: “Anh Trần Đăng Ninh chuẩn bị sang Quảng Tây đón Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc.

Tôi yêu cầu anh Hoàng văn Thái tổ chức gấp cho mình đi trinh sát vị trí Cao Bằng...

Trang 636 viết: “Ngày 12 tháng 8, anh Trần Đăng Ninh sang Quảng Tây đã trở về cùng với Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Đoàn gồm có các đồng chí Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Viết Phàm... đã có mặt ở Tả Phày Tử. Đồng chí Vi Quốc Thanh trưởng đoàn, bắt đầu cuộc gặp các chuyên gia Trung Quốc đã sang trước cùng với cán bộ Đại đoàn 308 để nắm tình hình...”

Nơi trang 640 Giáp viết:

“Buổi tối, Bác và tôi đi đến gặp đồng chí Trần Canh.

Đồng chí Trần từ Vân Nam đi thẳng sang đây đã tới Tả Phày Tử, trong khi chờ gặp, Bác đã tranh thủ thời gian làm việc với Đoàn cố vấn, về danh nghĩa đồng chí Trần là khách mời của Bác”.

Đọc đoạn hồi ký của tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng ta thấy rõ Hồ Chí Minh và những kẻ lãnh đạo ĐCSVN tất cả chỉ là một lũ tay sai thấp hèn, không có một chút tư cách, phẩm chất tối thiểu của một người lãnh đạo quốc gia. Đường đường là một vị nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nhà nước và nhân vật đứng hàng đầu quân đội là một vị Đại tướng Tổng Chỉ Huy quân đội của cả một nước mà khi biết tin đoàn cố vấn Trung Quốc vừa mới sang, thế mà ngay buổi tối hôm đó cả Chủ Tịch Nhà Nước lẫn Tổng Chỉ Huy quân đội Việt Nam đã dẫn nhau đến chầu chực để được gặp viên tướng Trần Canh. Thấy có nhục nhã không?! Nhẽ ra, họ phải đến xin gặp mình, đằng này ngược lại đi chầu chực để xin gặp họ!

Đọc sử nước nhà, ta thấy bọn Lê Chiêu Thống chỉ trông chờ vào quân đội nhà Thanh sang cứu viện. Bọn Lê Quýnh đưa Thái Hậu và Hoàng Gia sang Quảng Tây xin gặp Tuần Phủ Tôn Vĩnh Thanh. Thái Hậu xin với quân nhà Thanh giúp đỡ. Tâu xin vua Thanh cử binh sang đánh quân Tây Sơn. Tổng Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị bàn với liêu thuộc, nước Nam xưa thuộc Hán, Đường... Nay thời thế đổi thay người nước họ không giữ nổi. Đây là cơ hội tốt cho ta chiếm lấy làm quận huyện...

Ngay khi quân Tầu vừa đột nhập nước ta. Chiêu Thống đã sai người lên biên giới đón. Tôn Sĩ Nghị đến Kinh Bắc, Chiêu Thống đến chào mừng, rồi đi theo quân Thanh. Ngày 20 tháng 11 Âm lịch năm 1788, Tôn Sĩ Nghị đem Chiêu Thống vào thành Thăng Long. Sĩ Nghị đóng đồn ở giữa mé Nam sông Hồng, bắc cầu phao giữa sông để tiện đi lại và chia quân ra đóng giữ các nơi.

Chiêu Thống mời Nghị vào đóng ở điện Kinh Thiên. Sĩ Nghị cho rằng nơi đó bất tiện cho việc hành binh... Chiêu Thống hàng ngày đến dinh Nghị chầu chực tâu việc cơ mật quân quốc.

Lịch sử Việt Nam và lịch sử nước Tầu cứ diễn đi diễn lại cái trò cầu viện, mà lần cầu viện nào cũng bị lợi dụng. Từ năm 1950 đến năm 1954 Hồ Chí Minh mang danh Chủ tịch Nhà Nước VNDCCH bốn lần sang Bắc Kinh xin cầu viện, lần thứ nhất đến Bắc Kinh vào ngày 31 tháng 1 năm 1950, rồi qua Moscow, lần thứ hai Hồ chí Minh đến Nam Ninh ngày mồng 5 tháng 2 năm 1951, lần thứ ba đến Bắc Kinh năm 1952, lần thứ tư đến Liễu Châu gặp Chu Ân Lai, nói là để họp, nhưng thực chất là Chu Ân Lai ra lệnh cho họ Hồ ký hiệp định Genève.

Trong Tổng tập hồi ký của Võ Nguyên Giáp mô tả: “Đầu năm 1950, Bác ra nước ngoài. Từ lâu Bác đã là một cán bộ của quốc tế Cộng Sản. Trong quá trình hoạt động, Bác luôn luôn gắn bó với phong trào và cơ quan lãnh đạo. Đây là chuyến đi bí mật... về danh nghĩa, đây là phái đoàn của Trung Ương đảng ta qua gặp đảng Cộng Sản Trung Quốc. Dọc đường đi khi quan hệ với địa phương, anh Trần Đăng Ninh đóng vai trưởng đoàn. “Bác tới Bắc Kinh chỉ gặp và làm việc với các đồng chí Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Mao Trạch Đông đã qua Liên Xô trước đó một thời gian. Các đồng chí Trung Quốc nói Bác sẽ gặp Mao Chủ tịch ở Liên Xô. Bác lưu lại Bắc Kinh ít ngày, rồi đi tiếp sang Liên Xô.

Trước ngày lên đường, Bác bảo tôi làm một tờ tường trình về tình hình quân sự, Bác nói: “Chú viết ngắn cần nêu được những vấn đề lớn người nghe thông báo sẽ là đồng chí Stalin.” Tôi viết tờ trình 8 trang đọc xong Bác nói “được”.

Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam trước đây rất cam go, nhưng ông cha ta luôn luôn tự lực bảo vệ nền độc lập dân tộc, không cần cầu viện ngoại bang. Vì các ngài biết rõ sẽ bị lợi dụng và rất nguy hiểm... chỉ có những kẻ manh tâm, không tin nơi chính bản thân mình, không dựa vào dân mới đi cầu viện ngoại bang gây họa cho dân tộc! Cả ngàn năm qua các triều đại Trung Hoa đã nhiều lần đem binh hùng tướng mạnh để chinh phục nước Việt Nam, nhưng đều bị thất bại. Nước Tầu tuy to lớn đông dân, nhưng không bao giờ mạnh những lần chúng xâm chiếm được Việt Nam chỉ dựa vào bọn tay sai phản quốc theo xin cầu viện. Từ năm 1950, khi cầu viện Trung Quốc để chống Pháp, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã tự nguyện làm phiên thuộc, thần phục Trung Quốc, hoàn toàn vâng lệnh Bắc Kinh, từ những phong trào chính trị như rèn cán chỉnh quân, CCRĐ, các chiến dịch hành quân Bắc Kinh đã đưa cố vấn chính trị và quân sự sang chỉ huy điều khiển các chiến dịch Đông Khê, Cao Bằng, Thấp Khê, Lạng Sơn, kể cả chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong lịch sử Việt Nam kể cả thời kỳ Bắc thuộc 1000 năm, chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc kiểm soát Việt Nam chặt chẽ như vậy. Điều này không phải do tài ba của ĐCSTQ mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN rước voi về dày mả tổ!

Với mưu đồ bành trướng về phương Nam và mục tiêu đầu tiên là nước ta, bọn cầm quyền Bắc Kinh đã hóa trang bộ mặt như trên sân khấu kinh kịch. Kẻ thù của chúng ta thay đổi mầu sắc trên cùng một khuôn mặt “Hán Tộc”. Hát bài “Quốc tế ca”, một thứ chủ nghĩa bành trướng kiểu mới dán nhãn hiệu Mác-Xít bọn này khoác áo mầu đỏ diễn vai bạn bè đồng chí để cố vấn và cổ súy cho đảng CSVN chống đế quốc theo ý chí của Bắc Kinh, biến VN thành một tỉnh tiền đồn gìn giữ phên dậu phía Nam cho chúng, gọi là: “theo sự phân công quốc tế”. Tướng Giáp thuật lại trong “Tổng Tập Hồi Ký”, tr. 624, việc phân công quốc tế này như sau:

“Trong một buổi làm việc ở MátxCơVa cùng với Stalin, có cả Mao Trạch Đông, Bác đề nghị Liên Xô giúp trang bị cho mười đại đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo cao xạ. Stalin nói: “Yêu cầu của Việt Nam không lớn nên có sự phân công giữa Trung Quốc và Liên Xô...

Khi trở về Bắc Kinh, Bác đề nghị Trung Quốc cử cố vấn sang giúp Việt Nam nay mai sẽ đánh lớn.

Ngay sau khi Bác trở về nước cuối tháng 3 năm 1950, các bạn Trung Quốc đã nhanh chóng thực hiện những cam kết... Tháng 4 năm 1950, hai trung đoàn của 308 đi theo đường Hà Giang qua Mông Tự (Vân Nam) nhận vũ khí. Tiếp đón một trung đoàn của 312 đi theo đường Cao Bằng qua Hoa Đông (Quảng Tây). Bạn cũng chở gấp vũ khí sang Cao Bằng để trang bị tiếp tế cho hai trung đoàn khác phải ở lại chiến trường đối phó với quân địch.”

Để bạn đọc có cái nhìn đúng đắn và chân thật hơn về họ Hồ. Tôi lại trích dẫn một số đoạn hồi ký của ông Hoàng Tùng, nguyên là Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, nguyên Tổng Biên Tập Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng. Trong cuốn sách “Những kỷ niệm về bác Hồ” có đoạn ông viết: “Bác sang Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang Liên Xô Stalin lại đưa Bác vào quỹ đạo của Stalin. Chuyến đi Trung Quốc và Liên Xô năm 1950 của Bác là chuyến đi gian khổ”.

Đoạn hồi ký ngắn của Hoàng Tùng đã là một minh họa chính xác về thái độ lông bông. Không có một định hướng nào, ông luôn luôn bị người khác lèo lái. Đấy, con người chính trị cao cả của đảng Cộng Sản Việt Nam là như thế, tư tưởng Hồ Chí Minh là như thế.

Ở một đoạn khác ông Hoàng Tùng viết:

“Mùa Thu 1950 Trung Quốc phái hai đoàn cố vấn sang Việt Nam, một đoàn chính trị do La Quý Ban làm cố vấn. La Quý Ban trước là bí thư của Mao, Bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm chỉnh, phục Mao Trạch Đông như một ông Thánh. Ông ta là người tin cẩn của Mao. Còn Tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc Thanh. Đoàn cố vấn quân sự đông hơn. Vì nó có đủ cả bộ máy quân sự. Ta không hiểu thâm ý của Trung Quốc, họ muốn sửa ta. Họ sang để giới thiệu kinh nghiệm Trung Quốc. Lý luận Mao Trạch Đông, lý luận quân sự, tổ chức quân đội. Việc đầu tiên của họ là sửa quân đội của ta đã. Họ sửa cả đảng trong quân đội cho nên mới lập ra chức chính ủy, trước ta chỉ có chính trị viên! (...) Năm 1951 đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội ta. Các chỗ khác họ chưa đụng tới. Đại Hội Đảng năm 1951 đại biểu nước ngoài tới dự chỉ có La Quý Ba, bên Kampuchia có Xiên Hiêng (sau phản bội). Phía Lào có một đại biểu. Tại Đại hội, La Quý Ba phát biểu chủ yếu về thuế nông nghiệp. Sau đó ta bắt đầu đánh thuế. Họ đem các nề nếp từ Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh phong từ Diên An sang. Sau khi Đại Hội ta không nói gì đến Cải Cách Ruộng Đất năm 1952. Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt Bác phải thực hiện Cải Cách Ruộng Đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa, Bác mới quyết định phải thực hiện Cải Cách Ruộng Đất.

Năm 1952, sau khi đi Trung Quốc và Liên Xô về, Bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định Cải Cách Ruộng Đất. Trung Quốc cử đoàn cố vấn sang, bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền, Đoàn cố vấn CCRĐ do Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn, Kiều là Phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây. Họ muốn qua Cải Cách Ruộng Đất để chỉnh đốn lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành CCRĐ đến lúc dừng lại là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ chính trị do đó cũng biết một số việc. Đó là việc làm thí điểm ở đồng bằng và chọn đồn điền Nguyễn Thị Năm. Nguyễn Thị Năm tức là Cát Thành Long có một người con làm Trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng, gia đình bà trong dịp tuần lễ vàng có hiến 100 lạng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ Nữ từ năm 1945 đến năm 1953. Tôi chưa đến đó lần nào. Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn thị Năm cũng giống như các gia đình Đỗ đình Thiện, Trịnh văn Bố giúp đỡ rất nhiều cho cách mạng, chọn địa chủ Nguyễn thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính Trị, Bác nói: “Tôi đồng ý có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp cách mạng. Sau cố vấn Trung Quốc La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải” và họ cứ thế làm...”

Đọc đoạn hồi ký trên của Hoàng Tùng Ủy Viên BCT, trước hết ta thấy những kẻ lãnh đạo Đảng Cộng Sản là bọn người vong ơn bội nghĩa đối với những người đã nuôi dưỡng họ, vì tấm lòng yêu tổ quốc. Họ lầm tưởng người Cộng Sản tranh đấu cho độc lập dân tộc. Và ta có thể hỏi ai lãnh đạo cách mạng Việt Nam? Ai làm chủ tịch đảng Cộng Sản Việt Nam? Ai làm chủ tịch nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa? Hồ Chí Minh hay cố vấn Trung Cộng La Quý Ba? Và như thế là bản tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chí Minh long trọng đọc trước quốc dân ngày 2/9/45, với ba mục tiêu: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc chỉ là một trò bịp bợm, lừa dối, cổ kim đông tây chưa hề thấy. Nhưng đứng về mặt lịch sử đây là một vết nhơ lớn. Vì ông Hồ là Chủ Tịch Đảng Cộng Sản Việt Nam, kiêm Chủ Tịch nhà nước Việt Nam, mà hoàn toàn không có quyền quyết định việc gì của nước mình; đối nội cũng như đối ngoại đều do viên cố vấn Tầu quyết định.

Đọc các hồi ký của cán bộ đảng trong thời kỳ này, đâu đâu chúng ta cũng thấy sự có mặt của cố vấn chuyên gia Trung Quốc, từ chiến dịch biên giới, chiến dịch Điện Biên Phủ, rồi CCRĐ cố vấn Trung Quốc hoàn toàn chỉ đạo cán bộ Việt Nam họ biến ĐCSVN và quân đội Việt Nam thành công cụ để thực hiện ý đồ của họ.

Bởi người lãnh đạo chóp bu của Việt Nam tình nguyện chọn họ làm chỗ dựa, thì đây là cơ hội ngàn vàng, Mao trạch Đông không thể bỏ qua. Thế là thật nhanh, thật gọn, thật êm, họ lợi dụng mê hoặc bằng tình đồng chí anh em. Bắc Kinh nắm chắc ban lãnh đạo Đảng CSVN để tranh giành thuộc địa với người Pháp. Họ âm mưu dùng quân đội Việt Nam đánh Pháp đoạt được nước Việt mà không cần quân đội Trung Quốc đánh chiếm như ở nước Tây Tạng... Thâm độc hơn nữa họ dùng người Việt giết người Việt, và dùng chính người Việt tự hủy diệt văn hóa truyền thống của dân tộc mình, phá các di tích lịch sử trong các chiến dịch CCRĐ, bài trừ phong kiến hoàn toàn do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo, việc này cũng được áp dụng ở Campuchia. Mao Trạch Đông dùng Pol pot (diệt chủng), ở Việt Nam – Mao Trạch Đông dùng Hồ chí Minh. Họ Mao còn thâm độc hơn cả Minh Thái Tổ với ảo tưởng có thể xóa sạch hiện tại và quá khứ của một dân tộc từng có mấy ngàn năm lịch sử. Minh Thái Tổ phải dùng quân đội nước Tầu. Nhưng Mao Trạch Đông chỉ cần nuôi dưỡng cán bộ Việt Nam như Hồ chí Minh ngay từ ban đầu họ đã “trù mưu tính kế” cướp nước ta và cũng chủ trương triệt phá văn hóa, bằng cách mượn tay Đảng CSVN. Đây là mục tiêu chính trị hàng đầu của Bắc Kinh.

Từ trước tới nay có nhiều người vẫn cho Hồ chí Minh là một nhà lãnh đạo thông minh, có uy tín quốc tế. Về vấn đề này, tôi lại trích dẫn một đoạn hồi ký của tướng Giáp để bạn đọc đánh giá, nơi trang 603 ông viết:

“Buổi tối, khi chung quanh đã yên tĩnh, Bác ngồi ngập ngừng rồi nói với chúng tôi: “Liên Xô phê bình ta chậm làm cách mạng thổ địa. Đồng chí Stalin trỏ hai chiếc ghế hỏi mình: “Ghế này là ghế của nông dân, ghế này là của địa chủ, người cách mạng Việt Nam ngồi ghế nào?” tới đây, chúng ta phải làm cách mạng ruộng đất, Trung Quốc hứa sẽ giúp ta kinh nghiệm và phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất...

Bác kể thêm, trong một buổi làm việc thấy có cuốn họa báo Liên Xô đặt trên bàn. Bác cầm đưa Stalin, xin đề nghị ký một chữ làm kỷ niệm. Stalin vui vẻ ký rồi chuyển cho đồng chí Môlotốp, Kaznlôvích ngồi bên ký tiếp.

Bác mang tờ báo về nhà khách. Nhưng hôm sau không còn thấy tờ báo! Bác không bình luận gì về việc này. Liên Xô đã công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng có thể còn đang cân nhắc mức độ công khai hóa quan hệ mật thiết với ta.”

Thông thường nhân cách con người có thể đánh giá qua cung cách ứng xử. Trường hợp Hồ Chí Minh, một cá nhân gắn liền với danh nghĩa một quốc gia. Chủ tịch Đảng CS cũng vừa là Chủ tịch nhà nước VNDCCH, gồm cả hai tư thế, danh dự mà y hành xử theo kiểu (bồi bàn) thì thật là bất hạnh cho dân tộc!

“Trong một buổi làm việc thấy có một cuốn họa báo Liên Xô đặt trên bàn, Bác cầm đưa Stalin, xin đề nghị ký một chữ làm kỷ niệm”.

Qua lăng kính chính trị, đây có phải là cung cách hành xử kiểu chủ tớ hay nô bộc, chư hầu hay không?

Cung cách ngoại giao của một vị chủ tịch nhà nước, trước các nguyên thủ quốc gia khác mà như thế ư?

(Chộp một tờ họa báo Liên Xô trên bàn, rồi xin chữ ký làm kỷ niệm!)

Các bạn xem sách sử Đông Tây có thấy vị vua, vị Tổng Thống nhà nước nào mà cung cách hành xử ngoại giao quốc tế như Hồ chí Minh không?

Chưa hết cái gen “nô bộc – chư hầu” còn truyền sang nhiều thế hệ lãnh đạo ĐCSVN. Từ dòng máu Việt Gian Hồ Chí Minh lại được bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng... những đứa con thừa tự chánh dòng Việt Gian cấy ghép phôi thai do Bắc Kinh đẻ ra dị dạng đủ kiểu... Nay là mô hình “Việt Trung hợp tác toàn diện”. Qua mô hình này chúng đã bán đứng đất nước cho giặc. Bọn chúng sang chầu Bắc Kinh cung cách không khác Hồ Chí Minh.

Làm nhục quốc thể và làm tay sai cho ngoại bang hại dân hại nước thì khá hơn Lê Chiêu Thống rất nhiều! Nhưng hưởng dục lạc thì không kém vua chúa phong kiến Trung Hoa!

Thời phong kiến Đế Vương là chúa tể thiên hạ, có tất cả mọi quyền hành đế vương thích hưởng thụ cái gì tất nhiên được thoải mái hết mức mà dục vọng của con người là vô bờ vô bến, lòng ham muốn vô cùng vô tận. Vui đến cùng tận, tất nhiên là sẽ dẫn đến ăn chơi xa xỉ cực độ. Mỹ nhân nhiều vô kể. Thời cách mạng vô sản cũng vậy; Điều khác nhau là ông vua dép lốp xứ Nghệ lại mang trên mình đầy những huyền thoại: “huyền thoại về gia đình cách mạng”, (mặc dù hoàn toàn không phải vậy), “huyền thoại về lên đường cứu nước”, (mặc dù hoàn toàn không phải vậy), “huyền thoại về giải phóng nô lệ”, (mặc dù hoàn toàn không phải vậy “huyền thoại về người cha già dân tộc”, (sic).

Chẳng lẽ lại làm những chuyện đồi bại độc ác thế ư? Xét về mặt tâm lý thì ở một phương diện nào đó, với Hồ Chí Minh 9 năm trên rừng chịu nhiều gian khổ. Nay chiếm đoạt được cả thiên hạ. Đó là cả một pho sử đầm đìa máu và nước mắt của lê dân. Trong đó có nhiều cô gái bất hạnh!

Các triều đại phong kiến, mỹ tửu là những thứ không thể thiếu được trong cung đình. Thời đại cách mạng cũng giống như các Hoàng Đế phong kiến Trung Hoa đều rất thích ca múa yến tiệc và gái...

Nhưng nó hóa trang rất khéo, bên ngoài là những màn kịch cần, kiệm... bên trong là một cuộc sống cực kỳ xa xỉ, xung quanh nhân vật Hồ chí Minh, có nhiều chuyện về đức khiêm nhường cần kiệm của ông. Trong đó có chuyện đôi dép cao su mà dân Bắc ai cũng được nghe, sau này được một trí thức miền Nam theo Việt cộng vào bưng là Lữ Phương thuật lại trong bài

“Huyền thoại Hồ chí Minh” như sau: “Chuyện đôi dép râu, Bác Hồ đi dép râu thì ai cũng biết. Bác đi một đôi dép đến mòn lẳn. Cậu bảo vệ đề nghị Bác thay nhiều lần nhưng Bác nhất định không chịu. Cuối cùng nài nỉ mãi không được, cậu đã phải lén mấy đôi dép lấy đi đổi, khi phát hiện, Bác không vừa lòng và nhất quyết bắt cậu bảo vệ đi lấy lại đôi dép cũ.”

Cung cách ứng xử của Hồ Chí Minh mặc dù chỉ được cán bộ kể lại nhưng nó thường được coi như tấm gương để toàn đảng, toàn dân học tập. Trong đó tác phong giản dị, cần, kiệm được coi như phương châm sống. “Bác là một tấm gương sáng, tôi nguyện suốt đời noi theo.” TBT Lê Khả Phiêu. Xin xem hình ảnh trên internet về tư gia hoành tráng kiêu sa của cựu TBT Lê Khả Phiêu. (Scandal) vàng “Người đầy tớ của dân”. Người nguyện theo Bác Hồ... Tuy nhiên, ngay từ đầu triều đình vô sản mọi chế độ vẫn noi theo thời phong kiến, hình như nó có duyên nợ gắn bó... ngay cả về ẩm thực.

Việc ẩm thực nơi cung đình vua vô sản thật nhiều dạng, nhiều vẻ. Món ăn của vua rất phong phú. Người dân chưa hề nhìn thấy hay ngửi thấy. Bởi các đầu bếp các nhân viên trong cung đình tuyệt đối không được lộ ra bên ngoài. Không một lý do gì đó bị lọt ra ngoài. Là một trọng tội tiết lộ bí mật quốc gia sẽ bị nghiêm trị. Chỉ có Ủy viên Bộ chính trị mới biết.

Lo việc ăn uống trong cung đình. Có hai bộ phận do một Ủy viên trung ương Đảng cầm đầu: Một đoàn chuyên gia bác sĩ ẩm thực phái các chuyên viên sang Bắc Kinh nghiên cứu học tập những tài liệu cổ của vua chúa Trung Hoa về thực hành. Xây dựng các nông trường chăn nuôi gia súc riêng: Gấu, Hươu, Dê, các loại chim, lấy giống vịt từ Bắc Kinh lúa gạo thơm thượng hảo hạng có nơi trồng và cung cấp. Cán bộ cao cấp có cửa hàng riêng ở phố Tôn Đản Hà Nội, không lẫn lộn với dân. Còn về chủng loại thực phẩm phong phú, lại thêm nhiều đặc sản từ bốn phương cống tiến. Hoàng đế vô sản có thể nói là được tận hưởng khẩu phúc, thưởng thức hết mọi sơn hào hải vị trong thiên hạ. Rượu cũng có rất nhiều loại quý mua từ nước ngoài...

Hàng mấy chục người nấu nướng với đầu bếp chính, thức ăn đồ uống trong triều đình vua vô sản rất phong phú đa dạng, hương vị luôn luôn thay đổi. Tập trung tất cả những đầu bếp giỏi trong nước, nghệ thuật không đâu sánh kịp, gấu béo, hươu non, thịt dê nướng hết sức cầu kỳ. Tổng thống các nước đế quốc phải thèm “nhỏ dãi” trước những món cao lương mỹ vị của các ông vua vô sản như Hồ chí Minh. Các vị đó chưa biết tận hưởng.

Yến tiệc tối 30 tết, trước thềm năm mới năm 1955, như tưới thêm máu, bơm thêm sinh khí cho Hồ chí Minh. Các cháu thiếu nhi ca hát vừa xuống khỏi sân khấu thì viên Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn mang nàng Xuân đến dinh Chủ tịch.

Vừa mới thấy Xuân, họ Hồ không thể tự kiềm chế được, đã bảo nàng vào phòng tắm gội trong suối nước nóng, để được ngắm nhìn thân thể kiều diễm của nàng. Da thịt Xuân nõn nà như tuyết, mịn màng mềm mại, sau khi bước ra khỏi suối trông mong manh yểu điệu như tiên, lại thêm khí chất miền núi ngây thơ.

Ở trên dinh Chủ tịch, hay nhà sàn ở đâu cũng lộng lẫy đáng yêu. Nàng mang một ma lực quyến rũ riêng hết sức tự nhiên thanh khiết của cô gái miền núi. Tưởng chừng không một người đàn ông nào kháng cự được. Thời gian ấy không một mỹ nhân nào có thể cạnh tranh được với nàng, ngay cả đến các cháu miền Nam còn non mơn mởn cũng không có được. Khi mùa hạ nóng nực họ Hồ và Xuân ở nhà sàn hoan lạc thâu đêm. Ở cái tuổi ngoài 60, sức khỏe của ông còn tốt. Da hung hung đỏ mái đầu hoa râm, chòm râu bạc, đôi mắt linh hoạt, sắc bén, hiếu sát.

Ông đã từng ngủ với gái Pháp, gái Nga, gái Tầu, gái Thái, các cháu miền Nam... đủ mùi vị như các loài hoa ông trồng. Nhưng không một nàng nào được lâu, chỉ có Xuân là gần được 2 năm. Ông đã ban cho nàng ân sủng, nàng có thai thằng Trung khi cùng chung chăn gối với ông ở ngôi nhà sàn này, khoái lạc đến tột đỉnh để lại kỷ niệm thằng Nguyễn tất Trung không có giấy khai sinh, không có nhân khẩu, hiện còn bị Bộ Nội Vụ quản lý ở Hà Nội!

Sau khi được đắc sủng, dung nhan nàng Xuân càng rạng rỡ yêu kiều không ai bằng. Nhưng ai đoán được lòng người. Có lẽ lúc đó chỉ có tên Bộ trưởng Công an Trần quốc Hoàn là đoán được ý họ Hồ... nên y được hưởng sái nhì.

Cuộc đời hồng nhan bạc phận! Những cảnh hoan lạc trôi theo gió. Chỉ còn lại những giọt nước mắt cho người thân của nàng! Cùng với bao nhiêu tấm thảm kịch đã xảy ra cho các cô gái bất hạnh khác! Trong khi đó những vầng hào quang phủ kín tội ác, che lấp tất cả sự thối tha rữa nát, mà bộ máy tuyên truyền của ĐCS hết lớp này đến lớp khác chúng biến kẻ sát nhân thành thánh nhân.