Sinh hoạt tôn giáo của Tổng giáo phận Sài Gòn

Nguyễn Văn Lục

Đôi điều nhận xét về sinh hoạt tôn giáo của TGP Sài Gòn nhân dịp tấn phong giám mục phụ tá Nguyễn Văn Khảm


Tôi chưa bao giờ có dịp dự một buổi lễ phong chức Giám Mục. Và đây là lần đầu tôi được tham dự “trên Video”. Tôi đã nhìn thấy quang cảnh ấy: Sống động, thong dong, nghiêm chỉnh, nhịp nhàng, trật tự, đơn giản. Nó có điều gì khác biệt với bầu khí lo ngại căng thẳng sau 1975. Có cần tôi phải nhắc hết lại biết bao nhiêu biện pháp trù dập, chế tài, tù đầy, học tập cải tạo, tước đoạt tài sản giáo hội không?

Chỉ nhận biết rằng, bầu không khí hôm nay không phải là bầu khí 1975 và càng không phải bầu khí 1955.

Bóng dáng các giám mục với phẩm phục tươi rói, đông đảo các linh mục trong áo lễ mầu trắng, các thầy phó tế trong chiếc áo chùng đen, cổ trắng, các sơ thì nay rất đơn giản với chiếc khăn chùm đầu và áo dài thay vì cái lúp đội đầu bự “tổ trảng” và chiếc váy với nhiều lớp vải.

Đối với nhiều người thì đây là hình ảnh của một quá khứ tôn giáo trong cái sinh hoạt bình thường đang được sống lại.

Nhiều cái "không"


Sự đơn giản ấy trong y phục coi như một cuộc cải cách từ trong ra ngoài.

Buổi lễ diễn ra:


*không kèn trống inh ỏi,

* không loa phóng thanh oang oang,

* không rước sách,

* không cờ quạt,

* không có những chức sắc chạy hối hả, lăng xăng. Phần đông là người trung niên, hình như phải có giấy mời mới được tham dự.

* Không có người già và thiếu hẳn bóng dáng các em thiếu nhi. Tại sao thế nhỉ? Thật rất tiếc khi thấy không cho phép các thanh niên, thiếu nữ dự một buổi lễ quan trọng như thế này.

Chắc là không đủ chỗ ngồi. Trong tương lai, tôi nghĩ rằng nên tìm một mảnh đất rộng hơn cho vài chục ngàn người có thể tham dự.

Và nhất là:

* không có bóng dáng công an đồng phục như thường lệ.

Nhiều cái không lắm và càng nhiều cái không thì buổi lễ phong chức giám mục càng có thêm ý nghĩa.

Tôi để ý, hình như * không có bất cứ lá cờ nào cả. Nhất là cờ đỏ sao vàng mà trước đây nhà nước cộng sản cứ ép phải treo trước nhà thờ trong các lễ lạc. Như trường hợp nhà Thờ lớn Hà Nội. Có lẽ vì thế, sau buổi lễ tấn phong này, sẽ không có ai phải đi tù và chết rũ tù vì tội không treo cờ như trường hợp cha Nguyễn Văn Vinh địa phận Hà Nội.

Thời thế đã thay đổi chăng?


Những chèn ép không cần thiết đả giảm mức độ hay sự hiểu biết về các giá trị tôn giáo đã có hiệu quả?

Cờ Hội thánh mầu vàng trắng cũng không thấy. Phải chăng quyết định không treo bất cứ cờ nào xuất phát từ quyết định của Đức Hồng y? Bởi vì ngài ghét cờ quạt lắm. Cờ quạt đôi khi phiền toái lắm. Nó có thể là cớ sự “làm tắc nghẽn con đường Hiệp Thông của các bạn trẻ” như trong các kỳ đại hội thế giới trẻ?

Quyết định không treo cờ cũng là một điều hay. Giả dụ sau này có phái đoàn người Quốc Gia hải ngoại được mời về tham dự, họ có thể cầm một lá cờ không nhất thiết là cờ đỏ sao vàng thì có thuận tình, thuận lý không?

Việc tổ chức như thế vừa đủ “dose” cho buổi lễ, giữ được cái nghiêm chỉnh và trang trọng, tránh được những xâm nhập thế tục như những lời chúc tụng trên báo làm nhòa buổi lễ. Đồng thời nó tránh được cái phù phiếm, phô trương.

Về mặt tôn giáo, buổi lễ thật tốt đẹp.


Tuy nhiên, cũng có một nốt nhạc thừa, cung cách rất “XHCN” trong buổi lễ. Ông Huỳnh Công Minh, đảng viên đảng cộng sản, (Tôi đã viết hai bài về 4 ông là: Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Vương Đình Bích và Phan Khắc Từ nên xin được miễn viết lại ở đây.) đọc danh sách từ vị chủ tế, Hồng Y Phạm Minh Mẫn và lần lượt các vị giám mục các nơi về tham dự.

Đọc đến tên ai thì người đó đứng dậy. Cứ như điểm danh ấy. Lại *không đọc tên thường, chỉ đọc tên thánh làm nhiều người không biết ông giám mục ấy là ai?

Càng về cuối, ông đọc càng nhanh như đuổi, như đọc cho xong.

Giả dụ một buổi lễ tấn phong ở Vatican, người ta có đọc tên từng người như thế không?

Chắc là không.

Tôi nghĩ rằng người quay film hơi tồi vì không thấy chiếu hình tiếp theo xem ông Huỳnh Công Minh ngồi ở chỗ nào trong buổi lễ?

Ông là nhân vật quan trọng hàng đầu trong giáo phận Sài Gòn. Xét về phẩm tước thì ông dưới giám mục phụ tá. Giám mục phụ tá chỉ có vai trò thay Tổng Giám Mục trong các cuộc viếng thăm xứ đạo hay giữ một vai trò chuyên môn như mục vụ, v.v...

Linh mục tổng quản về quyền hành thì chắc là giữ vai trò trọng yếu trong những quyết định như tuyển chọn, thuyên chuyển, tay hòm chìa khóa chi tiêu, thay mặt Tổng Giám Mục giao tiếp với chính quyền.

Cho nên buổi lễ phong chức này không thể không có ông Huỳnh Công Minh trong đó. Quay film chuyên nghiệp là phải bắt được những bức hình có bóng dáng linh mục tổng quản trong đó. Không được thiếu. Ông Huỳnh Công Minh không thể ngồi cùng với các giám mục vì không đúng chức phận.

Thật ra đáng nhẽ với chức vụ Tổng đại diện từ sau 1975, thời Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, thời mà dư luận bên ngoài đồn thổi, ông làm mưa, làm gió. Quyền trong, quyền ngoài. Vừa là dân biểu quốc hội vừa là tổng đại diện. Chỗ ngồi của ông từ lâu phải là giám mục rồi. Phải chăng đó là sự khôn ngoan và quyết tâm của giáo hội hay là cái giá mà ông phải trả vì là đảng viên cs?

Ngồi với giáo dân hay quan khách thì bất xứng với vai trò của ông. Nhưng cứ những gì tôi nhìn thấy trong buổi lễ thì ông không có chỗ ngồi chính thức nào cả.

Ông ở trong giáo hội mà rất nhiều người vẫn coi ông như ở ngoài giáo hội. Nói một cách thẳng thừng thì ông bị nghi kỵ, bị khai trừ (ex-communié) trong mắt người tín hữu. Tôi không biết sau buổi lễ, có ai bắt tay và chào hỏi ông không? Riêng buổi lễ mừng tân giám mục, tôi đảo mắt nhìn, nhưng không thấy ông đâu cả. Tuy nhiên, phải nhìn nhận là ông có cử chỉ khiêm cung, từ tốn, ăn nói chừng mực, có phong cách và cái bề ngoài lúc nào cũng như xuất hiện low profile.

Cùng lắm chỗ ngồi của ông vẫn là trong bóng tối với vai trò dấu mặt, điều động, giật dây.

Đối với một người khó tính, đòi hỏi sự trong sáng minh bạch, sự có mặt của ông làm cho buổi lễ giảm đi một nửa giá trị. Giá trị tuyển lựa, giá trị chính danh, giá trị tôn giáo, giá trị chủ quyền.

Phải chăng sau hơn 30 năm “phục vụ giáo hội” đã đến lúc ông cùng lúc từ chức và từ quan chăng?

Tôi cũng để ý không có bóng dáng một nhân viên cảnh sát mặc sắc phục trong khu vực cử hành lễ. Cám ơn các nhân viên công lực đã giúp cho buổi lễ được nghiêm chỉnh. Chỉ cần nhà nước không làm gì, không đăng báo, không loan tin, không chúc mừng cũng là một điều tốt rồi.

Đám tang Hồng y Tụng có 3 vòng hoa chiếu lệ ở cấp thừa hành. Khác hẳn đám tang TGM Nguyễn Văn Bình.

Nhớ lại đám tang TGM Nguyễn Văn Bình, 1-7-1995, nào vòng hoa của Đỗ Mười, TBT đảng, Lê Đức Anh, chủ tịch nước, Nông Đức Mạnh, chủ tịch Quốc Hội rồi Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt... Ôi thôi là mệt. Chẳng hạn, nếu họ ca tụng “công đức” Hồng Y Tụng thì làm khó giáo dân vốn có lòng kính mến ông.

Buổi lễ có nhiều thứ không như thế mà không viết lại thì thật uổng quá.

Thông thường những buổi lễ quan trọng và hiếm hoi như thế phải được tổ chức ở nhà thờ Đức Bà. Nơi tôn nghiêm nhất, truyền thống nhất? Đã không làm như vậy theo ý giáo dân. Cho dù ai quyết định vẫn là một quyết định khôn ngoan. Việc chọn lựa tổ chức lễ tấn phong Giám Mục tại Đại Chủng Viện thánh GiuSe xét ra là một điều hay. Nó vừa kín đáo như công việc trong nhà thuộc nội bộ tôn giáo. Nó tránh cho người dân “cái cảnh bị thi công” cái “đồ án làm đường” chung quanh nhà thờ Đức Bà làm ùn tắc giao thông vốn là một cơn ác mộng đối với dân thành phố. Nó không phải nhờ đến các ông áo vàng huýt còi giữ trật tự.

Khu nhà Đại Chủng Viện riêng biệt, có sân rộng, là một dãy nhà 2 tầng với những hành lang dài và rộng, sơn mầu vàng nhắc nhở người ta đến thời kỳ Pháp thuộc trước đây.

Có một khu dành riêng cho một bảo tàng viện công giáo. Chẳng hạn có một bộ sa lông bằng khảm sà cừ của tòa Khâm sứ Pháp, một bộ tràng phang rước kiệu (gồm Thánh Giá và những cây cột hiệu) cách đây 300 năm, tượng Thiên Thần Micae cách đây cũng 300 năm. Một chiếc bàn làm từ một khối gỗ dài 15 feet, rộng 5 feet do một Phật tử tặng. Khi khiêng vào phải phá tường để khiêng vô. (Xem bài viết Đại Chủng viện Sài Gòn thực hiện Bảo tàng viện công giáo, Người Việt Online, thứ hai, 04/04/2005). Cạnh đó, có khoảng 3000 ấn phẩm viết về những vấn đề liên quan đến giáo hội.

Nhân tiện đây, tôi xin nhắn Đức cha phụ tá là nên liên lạc với Trương Bá Cần, chủ nhiệm tờ báo Công giáo và Dân tộc, và đòi ông ta phải trao hoàn lại toàn bộ tài liệu sách báo của địa phận Sài Gòn mà ông ta đã thu gom lại trong giai đoạn đánh phá tàn dư văn hóa ngụy. Đó là tài sản của địa phận Sài Gòn mà ông ta có bổn phận hoàn trả lại. Chưa kể là nếu cần hài tội ông ta trước công luận trong và ngoài nước.

* Tôi tự hỏi và nhủ thầm đã có bao nhiêu những đấng bực đã từ nơi Đại Chủng Viện ở nơi này mà đi ra?

* Không biết có một thư viện riêng lưu trữ công đức của họ để cho các thầy trẻ tập huấn và noi gương?

Nhất là những gương về đạo đức kiên trì và lòng can đảm.

Như trường hợp TGM Nguyễn Văn Bình đã từng là giáo sư Đại Chủng viện Thánh Giuse vào năm 1955. Sau đó bị Giám mục Drapier cách chức vì có liên quan đến việc một vài linh mục đã bỏ theo kháng chiến.

Có hàng trăm, hàng ngàn tu sinh đã từ nơi đây, được đào luyện tu đức trở thành linh mục và được phân phối đi khắp nơi phục vụ.

Cần tạo dựng một truyền thống cho Đại Chủng Viện Sài gòn.


Một ngôi nhà nguyện xinh xắn hình như mới được xây cất hay tân trang, rất sáng sủa, phải chăng cho thấy một dấu hiệu cởi mở so với những căn nhà cổ lổ sĩ, rêu phong, “xuống cấp” của 40 phố Nhà Chung, Hà Nội?

Có một sự cách biệt về nếp sống và phong cách giữa giáo hội Hà Nội và Sài Gòn.

Tân Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm


Phần linh mục được tiến chức Nguyễn Văn Khảm vốn không xa lạ gì với giáo hữu trong nước và hải ngoại qua các bài giảng được thâu băng của linh muc. Buổi lễ phong chức cho linh mục Nguyễn Văn Khảm, giám đốc Trung Tâm mục vụ của tổng giáo phận Sài Gòn, như thể chính thức hóa công việc rao giảng mục vụ mà linh mục vẫn thừa tác từ 28 năm nay trong đời sống linh mục.

Giảng ròng rã hơn 20 năm, rao giảng lời Chúa mà linh mục vẫn được tín nhiệm giữ được lề “bên phải” và tạo được niềm tin nơi Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn kể là một điều đáng nêu gương?

Tôi kỳ vọng vào vì giám mục phụ tá Nguyễn Văn Khảm này trong những hoàn cảnh khó khăn và thử thách làm được một phần những điều ông đã rao giảng như: Bí Tích Hòa Giải, Đời sống luân lý Ky tô giáo, Con người xa ngã v.v…

Tôi nhận thấy có hơn 20 chục giám mục các nơi về tham dự. Đông gấp đôi buổi lễ phong TGM Ngô Quang Kiệt ngày 19/03/2005. Trong đó một phần ba tương đối còn trẻ trên dưới 50 và hai phần ba là đã già. Có lẽ cần phải trẻ trung hóa thêm thành phần Hội đồng Giám mục. Thật ra Hội Đồng Giám Mục mới được thành lập năm 1980, năm năm sau 1975, 32 vị giám mục trên toàn quốc mới được chính quyền cộng sản cho phép hội họp. Tôi còn nhớ kỳ họp lịch sử đó, ngày 1 tháng 5, 1980, HĐGM đẻ ra được cái thư chung gửi cho giáo dân mà lời lẽ thật ra chỉ là gởi cho chính quyền cộng sản đại khái như sau:

“Vì thế, chúng ta thành thật biết ơn chính phủ đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho Đại Hội này. Trước khi bế mạc Đại Hội, chúng tôi đã vào lăng kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã yết kiến Thủ tướng chính phủ.” (Trích HGPCGVN, Thư luân lưu 1980, trg 275 và 276)


Chỉ xin nhắc các giám mục vài lời hèn mọn của LM Nguyễn Văn Lý, nay đang ngồi tù, gửi các giám mục và xin các giám mục: Không họp Hội đồng giám mục nữa, không ra thư chung nữa, không xin phép bất cứ điều gì không cần xin phép nữa"... Tất cả là 8 cái KHÔNG.

Trong số giám mục có mặt, tôi nhận thấy có giám mục địa phận Kon Tum, GM Hoàng Đức Oanh mà tôi có dịp gặp nhân dịp tết 2006. GM cho biết, địa phận Kon tum với dân Thượng vốn nghèo sẵn, nay nghèo thêm. Vấn đề chưa hẳn là truyền giáo mà giúp cho họ đủ sống.

Chính quyền thì bỏ rơi họ.


Cũng trong dịp này, tôi may mắn được gặp Lm Trần Sĩ Tín . Trông ông khỏe mạnh và rất khiêm cung. Sau khi chịu chức linh mục, Lm Tín đã tình nguyện lên Kon Tum phục vụ người Thượng. Nay đã gần 40 năm. 40 năm sống chung và phục vụ đồng bào dân tộc, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, thuộc giáo phận Kon Tum.

Chư Sê là đâu nhỉ? Chẳng mấy ai trong chúng ta biết đến, nhưng ở nơi đó có những người bỏ ra cả cuộc đời tận tụy, hy sinh, phục vụ trong âm thầm, trong

bóng tối với không biết bao gian nguy, hiểm nghèo. Họ không nói về họ mà họ nói về những người mà họ đang phục vụ.

Lm Trần Sĩ Tín viết về họ:

“Hằng ngày chúng tôi giáp mặt với những trẻ em mồ côi chẳng được nuôi dưỡng cũng chẳng được học hành. Nếu không cưu mang các em, nhất là các em sơ sinh, nhất định các em sẽ chết, vì người Jrai quen chôn các em mới sinh ra đời, hay giết một trong hai em sinh đôi, vì nghĩ như vậy là tốt.”


Buổi lễ tấn phong này đã thực hiện được bao nhiêu cái không đó.

Nhưng nhìn xuống đám đông các sơ ngồi phía dưới thì thấy khấp khởi mừng thầm và vui. Tôi đã cố gắng thu thập hình ảnh các sơ vào trong đầu và miên man với nhiều ý nghĩa tốt đẹp. Tôi cũng đã nhìn ra hơn hai phần ba các sơ đều trẻ và nhiều sơ cũng xinh xắn lắm. Mỗi người sinh ra ở đời tự chọn cho mình một con đường để đi. Quý sơ đã chọn con đường gay go nhất, con đường sa mạc “40 năm” của ông Moi–Sen đầy thử thách. Thì xin cứ thế mà đi. Chọn mà đi.

Trong tương lai, tôi nuôi nguồn hy vọng là nhà nước này hiểu được và các sơ sẽ có một vai trò xứng hợp hơn đối với đạo và đời trong vai trò giáo dục. Tết 2006, tôi đã kín đáo nhìn một sơ, vóc dáng nhỏ bé, đứng ở một góc sân trường, vào một sáng chủ nhật, điều khiển một lúc 800 em học sinh nam nữ. Răm rắp, đâu vào đấy, nghiêm chỉnh, kỷ luật, từ bé đến lớn, ăn mặc tươm tất, sạch sẽ. Cha mẹ các em hầu hết còn trẻ, đều vui mừng khi nghĩ tới tương lai con cái có nơi giáo dục tốt. Các em hăng say, vui vẻ gia nhập các đoàn thể thiếu nhi do các sơ đảm trách.

Còn có thể có gì quý hơn thế nữa.

Tương lai đất nước này đặt vào đó, không phải ở đám lãnh đạo hiện nay. Tôi hiểu được sức mạnh và vai trò tối quan yếu của các sơ. Giáo Hội cũng phải hiểu rõ điều đó. Hãy mạnh dạn đòi hỏi thêm nữa. Tôi nhìn thấy văn phòng của đội thiếu nhi Tiền Phong trong sân trường đóng cửa. Tôi thấy các em nhỏ cùng một lúc chịu hai nền giáo dục trái khoáy. Chiều thứ tư bắt buộc đi họp đoàn đội. Sáng chủ nhật tự ý, thoải mái đi hay không đi họp thiếu nhi và đi lễ ở nhà thờ lúc 11 giờ.

Các sơ là người đã thắng 100% cái cơ chế ấy một cách hòa bình, nhân ái, tình người mà không cần một lời lên tiếng phản kháng, bạo động. Và tôi tự hỏi trong số 800 em ấy, có bao nhiêu em là con cán bộ, công nhân viên nhà nước. Vì lẽ gì, người dân tin cẩn, chịu khó gửi các con cái mình vào tay các sơ?

Vâng vì lẽ gì?

Chỉ vì lẽ đơn giản là các sơ chỉ dạy những điều tốt lành, các sơ là người tốt lành.

Hãy trả lại các sơ các trường mầm non, trường mẫu giáo. Thay vì chỉ dạy các em vài giờ ngày chủ nhật, các sơ chăm sóc, chỉ dạy các em cả tuần lễ. Lo gì tương lai các em sau này? Đó là lối thoát cho VN ra khỏi vũng lầy giáo dục hiện nay.

Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng quan tâm đến vấn đề này, nhưng Hồng Y chỉ sợ rằng mai kia mốt nọ mở trường mẫu giáo chỉ toàn con cán bộ, công an, doanh nghiệp?

Hồng Y hỏi: Như thế có phục vụ người nghèo không?

Nhưng Hồng Y Mẫn cũng nói thêm: có để cho chúng ta cộng tác giúp đỡ người nghèo khổ không?

Hôm tết, chính quyền nói cho người công giáo góp phần lành mạnh hóa đời sống gia đình. Họ nói phải làm thôi, vì chúng tôi làm không xuể. Nhưng cũng có người của chính quyền nghĩ rằng mình làm để tranh dành ảnh hưởng này kia. Ý là vậy.

Họ không làm được. Họ lo làm giàu, nhưng họ không muốn ai làm. Đó là cái bất nhân của chính quyền cộng sản.

Nhưng khi các sơ đã chọn thì xin có một “Thảo trình” trong đầu, phát nguyện đi cho tới cùng theo đúng “thảo trình” ấy mà không buông xuôi, bỏ cuộc. Tôi trân trọng sự chọn con đường tu trì của quý sơ trong một đất nước đã tuyệt vọng về điều Thiện. Các sơ, các thầy chẳng những là hạt giống tốt cho giáo hội mà còn cho cả người ngoài giáo hội với điều kiện trong tương lai, nhà nước phải trao vào tay những người trẻ ấy trách nhiệm “trồng người”. Đã hơn 30 năm nay, nhà nước lãnh trọng trách giáo dục con người, nhưng họ đã hoàn toàn thất bại ê chề trong trách nhiệm ấy.

Nhà nước làm không được thì phải để người khác làm. Đừng bắt cả nước gánh cái ngu xuẩn và đui mù của lãnh dạo vốn chưa bao giờ biết lãnh đạo.

Trách nhiệm các tôn giáo sau này là ở chỗ ấy, nhiệm vụ ấy.


Nhìn sang phía các thầy chủng viện thấy được cái trẻ trung và sự hăng say. Có vẻ các thầy không phải là những “tu sĩ chui” như trước đây nữa. Tôi muốn gửi đến các thầy đôi điều, nhưng ngần ngại. Về địa lý, tôi ở xa các thầy nửa vòng trái đất và về thời gian, đã 30 năm không trực tiếp sống ở Việt Nam, người viết lấy kinh nghiệm gì, hiểu biết thực tại đời sống gì để đưa ra lời nhận xét xác đáng? Tôi có thể nói gì với các thầy mà một ngày không xa, các thầy cũng sẽ có người đảm trách công việc của các vị đàn anh đang ngồi trên kia.

Nhưng có điều tôi biết chắc chắn rằng các thầy đều sinh ra và lớn lên từ sau 1975, sống trong lòng chế độ ấy, hiểu được cái bên trong những gì mà chế độ ấy kế thừa lại. Hàng tuần, theo tôi biết, quý thầy được học hỏi thêm Triết học Mác xít. Tôi hoàn toàn không sợ các thầy bị anh hưởng di truyền của thứ học thuyết ấy mà trên thực tế nó đã rũa mục, nhưng nó vẫn ngoan cố ngồi lỳ ra đấy, không ai muốn học mà nhà nước vẫn bắt học. Các thầy càng học thì càng sáng mắt, sáng lòng. Cái môn học mà vào tháng 7, năm 2005, tôi đã viết một bài: Về một môn học mà Thầy không muốn dạy và trò không muốn học.

Thầy không muốn dạy mà trò cũng không muốn học, vậy mà vẫn cưỡng lý phải học. Đó là một trong vô vàn những cưỡng lý cực kỳ phi lý trong một xã hội toàn trị.

Các thầy biết là các thầy phải chọn con đường nào để đi. Các thầy đã may mắn sinh sau 1975, không bị những ràng buộc bởi những quá khứ đen tối như những hội chứng quấy rầy thế hệ chúng tôi.

Nhưng, tôi phải nhìn nhận các thầy có những bất hạnh không tránh khỏi mà thế hệ chúng tôi, trước 1975 được miễn trừ. Con đường các thầy sẽ phải đi là con đường những vị khả kính như Hồng Y Trịnh Như Khuê, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Hồng Y Phạm Đình Tụng đã đi qua. Dám chọn thì dám đi. Còn nếu không thì xin rút lui. Và đừng ngại rút lui. Bởi vì, thật ra “Không bao giờ chúng ta trung thành hơn với chính chúng ta khi chính lúc chúng ta quyết định thay đổi.”

Bản thân các thầy thua thiệt hơn chúng tôi nhiều. Ít ra chúng tôi được thừa hưởng một nền giáo dục gia đình tương đối lành mạnh, xã hội tương đối lành mạnh và một nên học vấn có căn bản vững chắc. Nói ra thì cười. Ít ra chúng tôi rành rẽ nói và viết tiếng Việt, rành rẽ văn chương, lịch sử. Ấy là nhiều người trong chúng tôi có thể rành rẽ từ một đến hai ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp.

Đại chủng viện Sàigòn


Nói ra các thầy đừng buồn, mặc dầu chủng viện nay đầy chủng sinh. Giáo phận Sài Gòn có 210 chủng sinh (Năm 2006). Nhà nước không cắt như trước nữa. Nhưng dạy không xuể. Chỗ ở không có, nay phải dọn cả nhà kho làm chỗ ở cho chủng sinh. Số chủng sinh còn lại của các tỉnh gửi, phải nhờ đến giáo phận Xuân Lộc gánh vác dùm.

Tuy nhiên, hàng giáo phẩm lo lắm về phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn của các thầy. Nhiều thầy nay đã vào học tới đại học mà viết một câu tiếng Việt chưa rành. Không có ý trách các thầy đâu. Ông Giáo sư Hoàng Tụy, du học Nga từ 1951 mới than rằng: 2, 3 chục ngàn tiến sĩ của ta đào tạo ở Liên Xô chỉ là tiến sĩ giấy, rởm, dốt nát mà tưởng mình giỏi.

Đã thế phẩm chất đạo đức tối thiểu nhiều thầy cũng không có. Do sống ngoài đời cả hai chục năm cũng tập nhiễm thói ăn gian, nói dối, chửi thề. Vì cả xã hội đã như thế rồi.

Cho nên, hàng giáo phẩm đề nghị năm thứ nhất là năm tu đức chỉ có mục đích là “tẩy rửa cho sạch bụi đời”. Phải bỏ thói quen ở ngoài đời, phải bỏ thói ăn gian nói dối.

* Nếu không tẩy rửa sạch được thì tương lai vị linh mục sẽ ra sao?

* Các thầy không bỏ được thì uy tín linh mục còn gì?

* Tác hại sẽ đi đến đâu?

Các thầy phải có can đảm dứt khoát. Không tu được thì rũ áo đi ra. Đừng ngồi lỳ trong đó để gây tiếng xấu cho giáo hội. Thà ít mà tốt, thà ít mà đạo hạnh. Thà không có còn hơn.

Việc đầu tiên là các thầy tối thiểu phải là một người công dân tốt, bình thường. Việc tu đức nói sau. Chúng tôi mong như vậy.

Cái thử thách lớn nhất trong đời sống tu trì hiện nay là lòng can đảm. Điều mà giáo huấn của Jean Paul 2 để lại vỏn vẹn có vài chữ: “N’ayez pas peur” , Các con đừng sợ. Muốn đừng sợ thì phải chụm vào nhau, đừng xé lẻ. Trong ca đoàn của các thầy khi hát còn luộm thuộm lắm, hát loạc choạc, hát không đều, có một vài giọng ca phía phải ca đoàn muốn hát trổi lên một mình. Thế là không được. Các thầy phải hát làm sao như cùng một lòng, cùng một ý nguyện, cùng một tâm tình như một tiếng nói, một tấm lòng.

Hát như thế là một cách thức dẫn nhau vào chỗ sa đà, yếu đuối, mạnh ai người đó sống. Không chấp nhận được đâu. Đời sống giáo hội, sinh mệnh giáo hội cũng không khác chi mấy một ca đoàn đâu. Tôi rất tiếc bài hát Kiriéison, hát không tới.

Đừng sợ đòi hỏi đủ thứ can đảm: can đảm không nhìn nhận, can đảm đòi hỏi, can đảm không yếu hèn, can đảm khi cần lên tiếng, can đảm biết chối từ. Ngay cả những vị ngồi trên kia, trước mặt các thầy, không phải ai ai cũng có can đảm, đồng tâm hiệp lòng, cùng một khối đâu.

Lòng can đảm chỉ có thể trở thành sức mạnh khi cùng hiệp nhất, cùng một đường lối, cùng một ý chí.

Thủ tục tấn phong Giám Mục


Trong thủ tục tấn phong, tôi thấy rõ hình như ban tổ chức muốn minh xác một điều gì. Chẳng hạn nêu rõ chính Hồng Y Phạm Minh Mẫn yêu cầu tòa thánh bổ nhiệm linh mục Nguyễn Văn Khảm. Trong sắc tấn phong, Vatican cũng rành mạch điều đó. Sắc phong ký ngày 15/10/2008, tại RôMa, do Giáo Hoàng Benedictô ấn ký. 15/11, có buổi lễ tấn phong. Thế là nhanh lắm, nhanh lắm đến ngạc nhiên. Không hiểu có cái gật đầu của Huỳnh Công Minh trước khi gửi đơn sang Vatican không?

Nhớ lại năm 1993, TGM Nguyễn Văn Bình lâm trọng bệnh, theo lời yêu cầu của chủ tịch HĐGM đã cử giám mục Huỳnh Văn Nghi, làm giám mục tông tòa tại giáo phận thành phố Hồ Chí Minh.

(Giám mục Tông Tòa chỉ có tính cách tạm thời chờ được bổ nhiệm chính thức hay chờ được có người thay thế. Đây là giải pháp thực tiễn để được chính quyền thông qua. Cái dở là giải pháp tạm thời đôi khi kéo dài đến 6 năm ở Huế, ba năm ở Hà Nội, còn ở thành phố Hồ Chí Minh thì kéo dài không biết đến bao giờ, sau khi chính quyền cộng sản bắt giam Đức Cha Thuận)


Không có sự ưng thuận của chính quyền. Việc bổ nhiệm cù cưa đến không thành. Nói lại việc này thì có cả một đống hồ sơ với thư từ trao đổi qua lại giữa hai bên. Hễ cứ giám mục nào lên tiếng đòi hỏi thì bị nhà nước nghi ngờ, cho là thuộc thành phần phản kháng.

Năm 2001, Giám mục Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch Hội đồng giám mục cũng lên tiếng đòi hỏi tương tự, đòi hỏi chính đáng như:


* Được quyền tuyển sinh và đào tạo.

* Được có cơ sở vật chất như trường học, nhà thờ.

* Được xủ dụng tài liệu giáo dục bằng ngọai ngữ.


Chỉ có bấy nhiêu cũng không cho. Việc dễ như trở bàn tay thành khó khăn khôn tả.

Chính giám mục Hòa sau đó trở thành nạn nhân, vì nhà nước không chấp nhận việc đề cử giám mục Nguyễn Văn Hòa làm giám mục ở Hà Nội.

Tôi chỉ tin việc đề cử này là minh bạch, “Không đi đêm” giữa Huỳnh Công Minh và Hồng Y Phạm Minh Mẫn chừng nào Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, theo lẽ đương nhiên sẽ được đề cử làm Hồng Y thay thế Hồng Y Phạm Đình Tụng ở Hà Nội. Tôi chỉ còn biết chờ xem. Tôi xin minh xác, việc tiến phong linh mục Nguyễn Văn Khảm làm giám mục là điều chính đáng và tốt đẹp với điều kiện về thủ tục không cần sự ưng chuẩn của chính quyền qua trung gian Huỳnh Công Minh.

Việc Tổng Giám Mục Kiệt sẽ giữ chức vụ Hồng Y hay không là một bài toán, một test, một thách đố thiện chí của chính quyền cộng sản.

Ngoài kia, Hồng Y Phạm Đình Tụng đã tạ thế. Chấm dứt một thế hệ những Trịnh Như Khuê, Nguyễn Kim Điền. Đó là thế hệ của những hệ lụy, căng thẳng giữa giáo hội và chính quyền.

* Nhưng đến bao giờ đến lượt Huỳnh Công Minh tạ thế?

* Hay ít ra ông xin nghỉ hưu?

* Việc ông nghĩ hưu sẽ chấm dứt một thời kỳ can thiệp, xâm nhập bạo liệt của chính quyền cộng sản trong tổ chức Giáo Hội từ sau 1975 đến bây giờ chỉ có ở thành phố Hồ Chí Minh?

Sau Huỳnh Công Minh, hy vọng sẽ không bao giờ có một Huỳnh Công Minh thứ hai nữa. Ngay cho dù Huỳnh Công Minh làm những điều tốt đi nữa thì nó vẫn là một cơ chế thiếu lành mạnh.

Trong diễn từ cám ơn của Huỳnh Công Minh, đại diện cho tổng địa phận Sài Gòn cám ơn quan khách, mặc dầu ông ta xử dụng thứ ngôn ngữ rất khiêm cung, “rất nhà đạo...” nhưng cũng để lộ ra đôi điều đáng nói ở đây. Ngoài việc mong muốn vị giám mục mới lãnh nhận vai trò làm tôi tớ, phục vụ người khác, Huỳnh Công Minh đã phát biểu xin được trích dẫn nguyên văn như sau:


Làm giám mục thì không dễ dàng gì trong bầu khí xã hội Việt Nam hiện nay" và Huỳnh Công Minh nhấn mạnh thêm: "Đặc biệt trong bầu khí của Thành phố Hồ Chí Minh."


Tại sao không dễ dàng?


Không biết đây là những lời nhắn nhủ tự đáy lòng hay là những lời đe dọa?