Đây hồ sơ "Tự do tôn giáo" của CSVN được cựu chính quyền Bush phe điểm tốt
Nhân quyền ở Việt Nam dưới mắt các nhóm tôn giáo
Nhã Trân, phóng viên đài RFA
Nhân quyền tại Việt Nam là điều được nói đến trong nhiều năm gần đây bởi những tổ chức quan tâm về nhân quyền.
Hàng rào kẽm gai cùng với Công an, Cảnh sát cơ động được dựng lên để ngăn cản các cuộc tụ họp cầu nguyện của giáo dân tại Tòa Khâm Sứ hôm Chủ nhật 21-9-2008.
Tu sĩ và tín đồ của các tôn giáo khác nhau ở Việt Nam vừa trao đổi với phóng viên Đài Á Châu Tự Do và cho biết ý kiến của họ về nhân quyền ở Việt Nam thời gian vừa qua, đặc biệt là về quyền tự do tín ngưỡng.
Sau khi phúc trình của Washington về tình hình nhân quyền ở Việt Nam năm 2008 được đưa ra mới đây và gặp sự phản đối của Hà Nội, vấn đề nhân quyền tại Việt Nam một lần nữa được công luận nhắc đến.
Hoa Kỳ trước đó tuyên bố rằng nhân quyền tại Việt Nam vẫn chưa được cải thiện. Theo Bộ Ngoại Giao Mỹ tình trạng đàn áp nhân quyền vẫn tiếp diễn ở Việt Nam một cách đáng quan tâm và nhiều hành động vi phạm quyền của công dân tiếp tục xảy ra.
Việt Nam đáp lại rằng nhận định của chính phủ Hoa Kỳ thiếu khách quan. Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố Mỹ cần tiếp cận một cách toàn diện và khách quan về sự khác biệt giữa hai quốc gia đối với vấn đề nhân quyền.
Ngay sau đó, nhiều nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước lên tiếng rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm vừa qua còn tệ hại hơn nhận xét của chính phủ Mỹ vì các quyền con người bị hạn chế và đàn áp không nương tay. Cùng một quan điểm này, những người dân ở nhiều tỉnh, thành khi được hỏi cũng cho rằng ở Việt Nam các quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tư tưởng, hội họp, tín ngưỡng… vẫn bị giới hạn hoặc áp chế.
Nhiều tu sĩ và tín đồ Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, Cao Đài, và Hòa Hảo cho biết trong suốt năm vừa qua đến nay nhân quyền ở Việt Nam không tiến bộ. Họ không được hưởng mọi quyền tự do căn bản theo như luật định. Nhà nước không ngừng trấn áp và bắt giữ những người bất đồng chính kiến. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo bị giới hạn; tu sĩ và giáo dân bị theo dõi, bắt bớ; đất đai của mọi tôn giáo đều bị trưng thu dưới nhiều hình thức khác nhau.
Thiên Chúa Giáo
Một giáo sĩ Thiên Chúa Giáo ẩn danh ở thành phố Hà Nội tường thuật:
“Thực ra mà nói thì là nhân quyền ở Việt Nam chưa cao, chưa có đảm bảo là nhân quyền được cao lắm. Nhân quyền ở bên này, nếu nói về mặt xã hội thôi nhé, chưa có nói về mặt tôn giáo, thì chúng tôi chưa được cầm cái lá phiếu để đi bỏ cho ông chủ tịch nước hay là một vị bí thư. Nguyên cái đó cũng đủ nói là nhân quyền có rất ít.
Còn nói về bên tôn giáo thì, chúng tôi phụ thuộc vào nhà nước mà, cho nên là cũng phải chấp nhận thôi. Có những cái nhà nước ra như thế nào thì mình cũng phải theo thôi.
Ở bên này cứ nói là có nhân quyền nhưng mà thực tế là không được. Các cái buổi lễ bình thường thì không có vấn đề gì cả. Chỉ có vừa rồi 2 cái vụ, vụ ở Thái Hà và vụ ở chỗ nhà thờ lớn ấy. Các cái vụ này thì, cái đất đai thì, theo như nhà nước nói thì họ vẫn đúng – đấy là cái quyền của họ thôi.
Theo như cái hiến pháp và pháp luật ở bên này thì những cái tổ chức về xã hội và giáo hội thì cái chính sách người ta quy định như thế.”
Theo nhận xét của Hoa Kỳ cũng như nhận xét của các tổ chức, các nhóm nhân quyền khắp nơi, Việt nam hiện là một quốc gia dưới chế độ độc đoán của đảng cai trị là Đảng Cộng Sản. Tin tức cho hay vào cuối năm 2008 chính quyền đã giam giữ từ vài chục đến vài trăm tù nhân chính trị và nhiều người tranh đấu cho công nhân; công an thì có các hành động đàn áp và bắt bớ dân chúng.
Phật Giáo Hòa Hảo
Ông Nguyễn Văn Lía ở An Giang, cựu thư ký Ban Phổ Thông Giáo Lý Trung Ương - Phật Giáo Hòa Hảo cho hay:
“Sao mà chưa có thấy được tự do nhân quyền gì hết. Còn bị nghĩa là gò bó quá chừng. Người dân ở đây thì không có tự do hội họp gì được hết trơn. Không dám đòi hỏi nghĩa là tập thể, hay la lối gì hết trơn. Hổng có dám gì hết. Họ hổng có làm đúng theo luật gì hết.
Ngừơi dân bây giờ khổ dữ lắm. Tự do tín ngưỡng thì mấy ổng cũng cho. Tu hành thì cho - làm việc thiện này kia vậy đó. Truyền đạo thì, mấy ngày lễ lớn thì cho đi lễ này kia vậy. Cái cấm thì hổng có cấm - cái việc đạo đức thì làm được, còn ngoài ra đừng có nói cái gì nữa hết, hổng có được.”
Ghi nhận của Hoa Kỳ về thành tích nhân quyền của Việt Nam cũng cho hay thêm là xã hội Việt Nam trong năm vừa qua vẫn tồn tại nhiều tiêu cực, chẳng hạn tệ nạn tham nhũng vẫn tràn lan, và lá phiếu của cử tri không thể nói lên nguyện vọng thật sự của công dân.
Phật Giáo
Hòa Thượng Thích Nhật Ban, Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Đồng Nai thì tuyên bố sau khi cho biết thêm là hồi cuối năm ngoái chùa Ba La Mật tại huyện Long Thành do ông trụ trì đã phải hứng chịu sự hành hung, đập phá và cướp bóc của chính quyền địa phương:
“Đất nưóc Việt Nam có dân chủ, nhân quyền hay không? Chúng tôi xác nhận rằng, tôi nói như thế này, Việt Nam hiện bây giờ không có nhân quyền.
Báo đài, báo chí trên đất Việt Nam hoàn toàn đều là trái ngược hết, đều là tráo trở. Làm sao có nhân quyền ?
Đảng cầm quyền họ chỉ dùng cái quyền lực. Làm gì mà có nhân quyền? Tất cả 85 triệu dân Việt Nam đều là nô lệ cho đảng cầm quyền.”
Vừa rồi là một vài tiếng nói của giáo sĩ cùng tín đồ một số tôn giáo về vấn đề nhân quyền của Việt Nam trong năm qua, tiêu biểu cho ý kiến và quan điểm của tất cả những ngưòi khác trong cùng một cuộc đổi trao.
Đây nhân quyền tại Việt-Nam có điểm tốt của ông Bush và bà Rice
CUỘC "TẬP KÍCH" ĐÃ "THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP"!
Tạ phong Tần
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/3/2009, tôi và Luật sư Đạt vừa từ một quán cơm gần Văn phòng trở về thì có 3 xe gắn máy chở 6 thanh niên lạ mặt chạy đến ép xe chúng tôi và ra lệnh "Xuống xe". Không biết chuyện gì xảy ra, tôi hỏi: "Chuyện gì?" thì một thanh niên quát Ls Đạt: "Không liên quan đến anh, anh đi chổ khác. Chị này lên xe tôi". Tôi hỏi: "Anh là ai? Bộ mấy anh muốn bắt cóc tôi sao?". Anh ta bảo: "Chúng tôi mời chị mà chị không đi". Tôi nói: "Các anh có giấy tờ gì mà mời?". Anh thanh niên này chưa kịp trả lời thì bỗng nhiên xuất hiện thêm 1 xe 4 bánh bên hông sơn 2 chữ Cảnh Sát màu xanh và 5-6 người khác, một người đàn ông khoảng hơn 50 tuổi tướng tá bặm trợn ra lệnh: "Không đi thì lôi lên xe", đồng thời ông ta cùng với 3-4 thanh niên khác túm lấy tôi quẳng lên xe chạy thẳng vào bên trong sân trụ sở Công an quận Gò Vấp. Hơn chục thanh niên, đàn ông to khỏe áp đảo duy nhất 1 phụ nữ là tôi. Vậy là cuộc "tập kích" của "quân ta" đã "thành công tốt đẹp".
Xuống xe xong, tôi hỏi: "Ở đây ai làm việc với tôi?". Không ai trả lời. Một người đàn ông đứng tuổi khác đi tới, tôi hỏi ông ta: "Anh là cán bộ ở đây à?". Ông ta nói: "Phải". Tôi hỏi tiếp: "Thế anh tên gì?". Ông ta cũng không trả lời mà lãng đi nơi khác. Người đàn ông bắt tôi lúc quát tôi: "Đi lên lầu, có người làm việc với chị". "Tôi không đi, anh phải cho tôi biết anh là ai, muốn làm việc gì với tôi?". Ông ta không nói không rằng hung hăng xông tới chộp tay tôi bẻ quặt lôi tôi lên lầu 1 và tống vào 1 căn phòng. Trong phòng này có 1 bàn lớn hình chữ nhật và một bàn viết kê nối với nhau và hai hàng ghế gỗ. Trên cái bàn viết có tấm bảng mê ca xanh ghi họ tên chức vụ của một ông Đội phó nào đó. Người thanh niên trẻ khoảng 30 tuổi có nhiệm vụ canh giữ tôi vội vàng lấy tấm lịch để bàn đậy cái bảng tên mê ca lại. Tôi nhìn thấy thái độ của anh ta mà buồn cười. Tôi mới nói: "Anh đậy bảng tên lại làm cái gì? Tôi không quan tâm đến chuyện đó đâu. Cái ông có tên trên bảng ấy đâu có ngồi đây, ông ta cũng đâu đụng chạm gì đến tôi, tôi để ý tên ông ta làm gì. Nếu biết việc mình làm là xấu thì đừng làm, anh che bảng tên ở đây nhưng không che được con mắt của nhiều người nhìn thấy các anh dùng vũ lực bắt tôi trái pháp luật. Hay là các anh lại dí súng vào đầu để bịt mồm bịt miệng người ta đừng nói chuyện này ra? Tôi không làm việc với những người vô danh đâu".
Tôi nói xong thì kéo mấy cái ghế kê lại thành hàng để trèo lên nằm ngủ. Định trèo lên cái bàn dài, nhưng thấy bàn hơi cao, leo lên đó nằm có phần bất lịch sự nên thôi.
Hơn 1 giờ chiều thì có hai người bước vào. Hóa ra là "người quen" tên Hải và Thắng, chính là hai vị đã từng cản trở không cho tôi đến dự phiên tòa xét xử sơ thẩm blogger Điếu Cày. Anh ta gọi tôi thức dậy để "làm việc". Tôi hỏi anh tên Hải: "Anh đến đây với tư cách gì? Nếu anh muốn nói chuyện như anh em thì nói ở chổ khác, không nói ở đây. Nếu anh muốn nhân danh cái gì đó làm việc với tôi thì anh về mặc quân phục vô, đeo bảng tên đàng hoàng rồi làm việc". Anh ta hỏi tôi "Bộ không biết tôi là ai sao mà còn đòi quân phục với bảng tên?". Tôi nói: "Tôi không biết. Các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây thì các anh phải có tên họ đàng hoàng, tôi không làm việc với người không có tên". Anh ta lại yêu cầu tôi phải bỏ điện thoại di động lên bàn, không được nghe điện thoại. Tôi nói: "Cho đến giờ phút này, tôi vẫn là người có đầy đủ quyền công dân, tôi có quyền giữ đồ vật tài sản trong người tôi, tại sao tôi phải bỏ ra. Nếu các anh muốn chiếm đoạt thì cứ việc dùng bạo lực mà chiếm đoạt". Một người nữ khoảng 30 tuổi mặc cái áo ngắn màu nâu nhàu nhĩ ngồi ghế kế bên láu táu chen vào, tôi bực mình quay sang trừng mắt nhìn cô ta: "Ai cho phép cô chen vào? Chuyện riêng của tôi không khiến cô xen vô. Cô là cái gì ở đây? Ăn mặc lôi thôi như thế, cô là ai? Nãy giờ tôi nói chuyện với anh này là tôi còn nể anh ta, chớ cô thì tôi không nói với cô". Cô nọ ngồi im.
Họ thấy tôi không đồng ý tắt điện thoại bỏ ra ngoài bèn gọi vào 4 mụ đàn bà mặc sắc phục an ninh, nhưng chỉ có 1 người đeo bảng tên Nguyễn Thị Nga, 3 người còn lại "vô danh" (không hiểu sao ở chổ này lắm kẻ "vô danh" đến thế?) xông vào nắm tay nắm chân tôi lại để móc túi quần lấy điện thoại di động và tiên trong túi quẳng lên bàn rồi ngăn cản không cho tôi lấy lại. Tôi chỉ thấy buồn cười về cái sự tự xưng là "chính" mà hành vi thì rất "tà", làm việc gì cũng dấm dúi, che giấu.
Suốt gần 30 phút, tôi và người tên Hải tranh cãi nhau nhì nhà nhì nhằng vụ anh ta cho rằng vì anh ta "mời" tôi không được nên "được phép dùng bạo lực". Còn tôi thì yêu cầu anh ta chỉ ra văn bản pháp luật nào quy định cái sự được "phép ấy" nhưng anh ta cứ loanh quanh mãi. Đại khái nó cũng giống như vụ tôi tố cáo Trưởng Công an phường Cầu Ông Lãnh bắt người trái pháp luật mà họ ậm à ậm ừ rồi nín thinh gần 2 năm nay.
Sau đó, "viện binh" tiếp theo là một ông ngoài 50 tuổi, không mặc sắc phục. Tôi hỏi ông này tên gì, cấp bậc chức vụ gì thì ông ta nói mình tên Trần Tiến Tùng, cán bộ Công an Gò Vấp. Tôi nói; "Anh nói thế thì tôi biết thế, thật sự anh có phải tên đó hay không tôi làm sao kiểm chứng được. Anh có giấy chứng nhận ngành cho tôi xem thì tôi mới tin". Ông ta hỏi tôi: "Có cần thiết như vậy không?". Tôi trả lời: "Cần thiết. Tôi cần biết tôi đang làm việc với ai". Ông ta bèn vặn lại tôi là "Chị đến đây có mang giấy chứng minh không?". "Ô hay! Các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây rồi anh hỏi tôi đến đây sao không có giấy chứng minh".
Túm lại là họ cứ viện lý do là gởi giấy mời nhiều lần mà tôi không đến, nhưng tôi yêu cầu họ có giấy tờ gì chứng minh cái sự "nhiều" ấy thì họ chỉ lòi ra được có 2 tờ, mà trong ấy có ghi ý kiến của tôi yêu cầu phải trao giấy mời trước 3 ngày mà tôi đã kể mấy hôm trước. Rồi họ mang ra một đống giấy bảo tôi phải ký tên xác nhận bài viết nào của tôi trong số đó. (Nói chung là tôi và cái nhà ông Tùng kia tranh luận nhiều chuyện rất là loanh quanh, buồn cười, đáng để viết thành một chuyện khôi hài, tôi sẽ kể lại cuộc tranh luận này vào một lúc khác). Tôi trả lời ông Tùng rằng: "Tôi phản đối việc các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây nên tôi không làm việc gì cả. Tôi sẽ làm việc với các anh vào một ngày khác. Các anh có giữ tôi ở đây thì cũng giống như giữ đống đất, đống đá mà thôi. Tôi không viết, không ký bất cứ cái gì hết". Ông ta có nói gì tôi cũng một mực im lặng ngồi gục đầu lên mặt bàn để ngủ, ông ta ngồi giở từng trang giấy đặt trên bàn ra đọc to lên rồi suy diễn ấm ớ theo kiểu khiêu khích cho tôi trả lời. Tôi bảo: "Anh đừng khiêu khích tôi, vô ích thôi. Tôi đã nói hôm nay tôi không làm việc với các anh là không làm việc" .
Anh chàng trẻ tên Thắng thì hung hăng đập bàn quát tôi, nào là "ngoan cố", "Rượu mời không uống muốn uống rựu phạt", "không khoan hồng", v.v... và v.v... . Tôi nhìn anh ta cười nhếch mép: "Hung hăng quá vậy! Thích quát à? Thích quát thì tự quát tự nghe đi nhé. Tôi không nói chuyện với anh". Tôi tiếp tục im lặng.
Một lúc sau, ông Tùng ra ngoài rồi trở vô đề nghị tôi chọn một một ngày khác để làm việc. Anh chàng Thắng lại đứng lên hăng hái chen vào, tôi quay lại bảo anh ta: "Tôi đang nói chuyện với ông này, không nói chuyện với anh", thì anh ta mới hậm hực ngồi xuống.
Cuối cùng, tôi đồng ý nhận 1 Giấy Mời khác làm việc vào lúc 14 giờ ngày 05/3/2009 vì buổi sáng tôi phải đến Thi Hành Án Gò Vấp, còn ngày thứ 6 thì phải đến Tòa án quận 9 làm đại diện theo ủy quyền cho ông Luật kiện ông Nguyễn Minh Luân- Phó Công an quận 9.
Tạ Phong Tần
Ăn cướp đất của dân tiếp tục mọi nơi
Đại loạn tại Trường Yên
Trần Khải Thanh Thủy: lược thuật
3 giờ chiều ngày 4-3-2009, tại km 28, 29, trục đường Hà Đông -Xuân Mai, ngay đầu thôn Phù Yên, xã Trường Yên bị tắc nghẽn gần một tiếng đồng hồ, với chiều dài 4 km. Nguyên nhân do lãnh đạo huyện Chương Mỹ ký lệnh cưỡng chế 5 gia đình thôn Phù Yên và 29 gia đình thôn Nhật Tiến, chỉ vì những gia đình này cương quyết không nhận tiền đền bù với giá rẻ mạt.
Dù trời lâm thâm mưa, ngay từ chiều ngày 3, lực lượng cưỡng chế đã được điều động tới căng lều bạt để sáng ngày mùng 4 ra quân, theo kiểu "quân lệnh như sơn", "không cho chúng nó thoát, công an đã vào đây là dân hết đường lui".
Đúng 8 giờ sáng, 150 cán bộ công an xã Thuỷ Xuân Tiên, xã Trường Yên, và thị xã Xuân Mai cùng dân quân tự vệ, trang bị dùi cui, lựu đạn cay tràn vào đồng, nơi 5 gia đình cương quyết không chịu bán đất cho doanh nghiệp với giá rẻ như cho không, dưới sự thông đồng của chính quyền xã và sự tiếp tay của chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Trần Vũ Lâm.
5 gia đình đó là Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn văn Mạnh, Nguyễn Chí Cường và Nguyễn Thị Trường, nhà vài trăm mét, nhà nửa sào, không phải bờ xôi ruộng mật mà là đất ven đường, với giá "ưu tiên" 80 triệu /sào 360 mét vuông( Trước đó 45 gia đình trong thôn bị cưỡng ép, mua chuộc, nhẹ dạ, non gan, không dám trái lệnh chỉ nhận được 60 triệu/sào).
Trên thực tế, đất ở đây có giá 5 triệu/ m2. Chính quyền xã đồng ý trả lại cho các gia đình bị thu hồi đất mỗi nhà 10% đất dịch vụ, với giá 2 triệu một m2. Nghĩa là bị cưỡng ép bán ruộng với giá rẻ , vẻn vẹn 220.000 một mét, song lại "được " xã ưu tiên nhượng lại với giá gấp 9-10 lần, với lý do nhà chật, đông anh em trai, thiếu đất ở và đất sản xuất.
... Bán cả sào đất, được 80 triệu thì mua lại đất xã bán, trên cơ sở tiền san lấp mặt bằng, tiền thuê người cưỡng chế, tiền dịch vụ nọ, kia... người nông dân chỉ còn vẻn vẹn 8 triệu bạc, còn mất đi 9/10 số đất đã có. Quả là một dạng ăn cướp tinh vi, cướp trên cơ sở luật pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chuyện lạ có thật này chắc chỉ có ở Việt Nam?
Ban đầu, lực lượng cưỡng chế cậy lệnh, cậy đông, cậy phép nước, khinh nhờn quyền dân nên hung hăng như giữa chốn không người. Trong lúc chủ tịch xã cầm loa oang oang kích động, ra sức tuyên truyền đường lối và chủ trương "đúng đắn" của đảng và nhà nước:
"Đất đai là sở hữu của nhà nước, khi cần, nhà nước ra lệnh trưng thu, đề nghị bà con thôn ta tự nguyện chấp hành"
Lực lượng dân quân tự vệ, thanh niên tình nguyện, công an lăm lăm dùi cui, lựu đạn xịt hơi cay sẵn sàng nhảy vào ăn tươi nuốt sống, luộc nhừ những phần tử nổi loạn, quá khích.
Đáp lại, người dân chỉ biết đứng nhìn.
Cả trăm mét đất của gia đình đầu tiên bị cưỡng chiếm gọn ghẽ, quanh khu vực cưỡng chế chỉ là những cặp mắt nháo nhác, những tiếng thở dài, tiếng than khóc của gia đình người bị mất đất:
Giời ạ, cứ thế này thì để nó khiêng cả làng à?
Nhưng biết làm thế nào được, quyền sinh quyền sát trong tay chúng nó, có khác gì thời cải cách đâu, nó cho sống được sống, bắt chết phải chết. Chống lại, nó bắt rồi tra tấn đến chết trong tù, có phải thiệt người, thiệt của không?
Bác ơi, đảng ơi, trời ơi, bác có nhìn thấy cảnh con cháu bác đang hại dân lành vô tội không, bác ơi ?
Hu hu! Ối trời ơi là trời ơi, đảng ác thế này mà trời ở đâu ? Bên cạnh những người đàn ông căng thẳng, nhịn nhục, những người đàn bà rúm lại với nhau vì sợ, vì đau, là những tiếng đe nẹt, hù doạ của lực lượng cưỡng chế:
" Không cho phép bất cứ kẻ nào được cản trở người thi hành công vụ , kẻ nào cố tình cưỡng lại mệnh lệnh của nhà nước sẽ lập tức bị bắt và chịu sự trừng phạt của pháp luật".
11 giờ, tất cả từ cán bộ viện kiểm sát, công an, dân quân kéo nhau đi ăn trưa, người vào hàng quán, kẻ gọi thịt chó, coi như nhiệm vụ cướp bóc đã hoàn thành một phần, vạn sự khởi đầu nan, đầu xuôi, thì đuôi sẽ lọt.
2 giờ chiều, cuộc cưỡng chế tiếp tục, vẫn là những bộ mặt hằm hè, trâng tráo, dữ tợn, bất chấp lẽ phải, tình người, đạo lý, bất chấp lương tâm, nhân phẩm danh dự, những kẻ mờ mắt vì đồng tiền tội lỗi được thuê với giá bèo bọt rẻ mạt (100.000 VND) quên cả tình làng, nghĩa xóm, quên nước mắt người dân , quên cả cội nguồn giống nòi đã sản sinh ra chúng, chỉ đơn thuần là công cụ kiếm tiền, kẻ thừa hành và tay sai trung thành của đảng ác quái yêu ma, từ bao giờ đã phản lại lòng dân, đi ngược lại lợi ích của dân ...
Khắp đồng vẫn là những bộ mặt đỏ sậm màu men bia men rượu , những tiếng nói đe nẹt bao trùm , lực lượng công an được điều động tăng cường thêm 50 tên cùng vũ khí, trang bị tận răng.
Chuyển sang cưỡng chế gia đình thứ hai, tên công an hùng hổ giơ lựu đạn xịt hơi cay xông vào lều trại khi bà Nguyễn thị Bé (68 tuổi) cùng hai bà bạn nằm dài trong lều, cương quyết không rời... Làn khói vừa toả ra, bà Bé bị sặc hơi cay ngã quay lơ, hai bà khác ôm ngực ho sặc sụa.
Qúa phẫn nộ trước cảnh mẹ mình bị ngất, bà con xung quanh nhớn nhác, người khóc, người la, người dỗ, người mắng... Quên cả nỗi sợ hãi bủa vây, con trai bà Bé lăn xả vào tên công an đốn mạt, trợn trừng mắt, thét lên:
- Mẹ mày, dám khủng bố mẹ tao hả ? Đồ súc sinh, quân giết người...
Bà Nguyễn thị Bé bị ngất do công an dùng lựu đạn cay Lập tức, cả rừng người như đám lá khô đã cạn kiệt niềm tin với đảng, với chính quyền, với công an, chỉ cần một quê diêm là bùng cháy...Chiêng trống báo động nổi lên, tất cả cánh thanh niên trai tráng trong thôn Phù Yên, không kể có ruộng hay không, cùng nhảy vào vật lộn với lũ cướp, gây ra một sự hỗn độn chưa từng thấy.
Trong khi bọn đầu xỏ quen thói áp đảo, định nhảy vào đánh đập bà con, giải thoát cho đồng bọn thì phía ngoài, cánh chị em lập tức sử dụng " vũ khí truyền thống", tụt quần xông thẳng vào phía công an ôm chân, khiến chúng bỏ hết cả dùi cui, lựu đạn nhảy dựng lên như đỉa phải vôi.
Lợi dụng cơ hội có một không hai, cánh trai làng dùng đất đá ào ào ném theo.
Bị bao vây tứ bề, tối tăm mặt mũi, không những không làm gì được, còn có cơ bị đánh cho giập mặt, tên công an khốn nạn đành phải tìm cách chạy thẳng ra khỏi lều, trong tiếng chiêng trống, reo hò vang động của bà con.
Qúa cay cú trước sức áp đảo của bà con, đang từ sợ hãi thành phẫn nộ phấn khích, khiến thế trận đảo ngược, chúng tìm ra thủ phạm là những người đánh trống, khươ chiêng, bèn xông vào bắt người hăng hái nhất là anh Nguyễn Hữu Quý, còng tay vào khoá số 8 lôi đi.
Lập tức tiếng bà con hét lên:
Không được bắt thằng bé. Nó không có tội!
Công an bắt người vô cớ, bớ bà con
Thả ra, thả người ra ngay
Mặc! Giữa biển người kéo tới mỗi lúc một đông, Quý vẫn bị lôi đi xềnh xệch trong tiếng thét gào đau đớn , xót xa, bức xúc, phẫn nộ của bà con:
Bớ bà con, phải giải thoát thằng bé , không được để cho chúng bắt, nó sẽ đánh chết ...
Hình ảnh anh thanh niên trong làng bị bắt vào trại giam trong lần đụng độ trước, bị chết âm thầm tức tưởi sau vài tháng tạm giam, hiện hình rõ nét trong trí óc mọi người...Như có thêm sức mạnh, sau tiếng hô của vài người .
Xuống bênh xe lên bà con ơi
Tất cả cùng tràn xuống bãi để xe , nơi Quý đã bị đưa lên thùng xe , hai tay bị quặt ra phía sau xích vào thành xe.
Bỏ qua nguy hiểm đang rình rập, nơi lựu đạn cay có thể xịt bất cứ lúc nào, cả cơn mưa dùi cui quật xuống đầu, xuống cổ, cả trăm, cả nghìn con người như như một đám lửa khổng lồ, bất tận, cùng chặn ngang mũi xe của công an đang nổ máy lao đi. Ra lệnh:
Dừng xe, thả thằng bé xuống, nó không có tội!
Không lường tới tình huống này, tên lái xe ngồi chết lặng trong cabin, mặt cắt không còn hột máu, tất cả bà con, trong cơn cuồng nộ, phấn kích, người tháo van xe cho lốp xe xì hơi bẹp dí, người nhảy ra đường chặn các xe đang lưu thông trên đường...Trong khi lái xe còn ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, cả chục người đã nhảy lên ca bin, vỗ nhẹ vai tài xế, nửa khẩn khoản, nửa ra lệnh:
Đề nghị bác dừng xe, xuống giúp bà con dân làng
Cẩn thận hơn, họ còn nhã nhặn đề nghị lái xe cho muợn chìa khoá xe và đứng ngay bên cạnh đầu xe để người lái yên tâm.
Ngay lập tức đoạn đường rộng thênh thang tám thước, bị tắc nghẽn, hàng chục xe tải đang lưu thông trên trục đường số 6 phải dừng lại, giao chìa khoá cho các bác các anh trong làng, tạo thành một dòng sông người, bến xe dồn ứ, tắc nghẽn , kéo dài cả 4 ,5 km.
Bên trong, ngay rìa đường , cả trăm người cùng xúm vào nâng chiếc xe ô tô chở "tội phạm nguy hiểm" ra lệnh:
Thả người ngay lập tức, thả ra, nếu không thả, bà con có quyền lật đổ xe.
Không còn cách nào khác, trong khi lòng người phẫn nộ, nâng cao xe lên khỏi mặt đường, người đi đường biết rõ lý do cũng châu vào phản đối:
Chính quyền sai rồi, đất người ta có sổ đỏ đàng hoàng, người ta không đồng ý nhượng lại cho doanh nghiệp với giá rẻ mạt, sao lại cậy thần, cậy thế, cậy dùi cui, lựu đạn, còng xích cưỡng chế đất của họ? - Thả người đi, tắc đường cả tiếng đồng hồ rồi, các anh muốn bạo loạn hay sao?
Sợ lòng dân đã chuyển, chiếc xe có thể bị lật nhào ra giữa đường bất cứ lúc nào, cái xảy nảy thành cái ung xấu hơn, lũ cướp hậm hực thò tay vào túi, lấy chìa khoá mở còng số 8 thả người.
Khi đó, chiếc xe đã xẹp cả 4 bánh mới được đặt xuống.
Hầm hè, gục gặc giữ miếng...hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, không làm gì được trong khi thời gian giành cho việc cưỡng chế đã hết, lũ cướp đành phải cúi đầu bỏ đi, trong tiếng reo hò chiêng trống, tiếng " ê" ran ran của cả làng, từ đứa bé vừa tập nói, đến các cụ già gần đất xa trời. sống qua 3 chế độ, nhưng chưa hề thấy chế độ nào lại " cho dân và vì dân" đến cạn kiệt cả sinh lực, nguồn sống, tương lai con cháu như thế ...
Khi chính quyền "cướp sạch", rút sạch khỏi đồng làng, người dân nô nức ra về.
Thật là bài học làm người cho kẻ tham tàn bạo ngược. Cậy có tiền, dựa vào chính quyền xã, huyện để đè dân, cướp không của dân mảnh đất đã sinh lợi bao năm, không ngờ chính quyền qúa mục ruỗng thối nát, không thể tiếp tục hành xử, xấu, ác được mãi... đành trơ mắt ếch, ngẫm lời dạy của ông cha:
" Tham thì thâm, đa dâm thì chết"
Tất nhiên đây mới chỉ là bước chuyển đầu tiên từ Trường Yên sang Trường ...loạn. Đảng cộng sản Việt Nam vốn lắm mưu nhiều kế, còn chưa dồn dân đến bước đường cùng, trong cảnh vô sản, bần cùng, đảng còn tiếp tục giương cao ngọn cờ đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa bè lũ cai trị và tầng lớp bị trị , cho nên đoạn tiếp theo của người dân xã Trường Yên sẽ là... đấu tranh... đánh trâu( đánh tan lũ đầu trâu mặt ngựa ra khỏi làng xã quê hương)
Trường... loạn 4-3-2009
TKTT
=====================
Khi Nguyễn Phú Trọng tuyên bố bảo vệ quyền lợi đất nước và toàn vẹn lãnh thổ !
Âu Dương Thệ
Mới đây ngày 27.2, chỉ vài ngày sau khi Bộ Ngoại giao Mĩ công bố Bản Tường trình về tình hình vi phâm nhân quyền trên thế giới năm 2008, trong đó có phần nói tới sự chà đạp nhân quyền của chế độ CSVN, Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ chính trị (UVBCT) và Chủ tịch Quốc hội (CTQH) đã viết một bài khá dài đăng trên tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) dưới tựa đề „Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm và thực hiện quyền con người“, nhưng không thấy đăng trên các báo khác. Và chỉ ít ngày sau, ngày 2.3 Nguyễn Phú Trọng –chứ không phải Chủ tịch nước (CTN) hoặc Thủ tướng (TT), đã đọc diễn văn quan trọng trong ngày kỉ niệm 50 năm thành lập Bộ đội Biên phòng (BĐBP). Đứng cạnh Nguyễn Phú Trọng trong buổi lễ này còn có hai cựu TBT Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu, nguyên CTN Lê Đức Anh, UVBCT và Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang và UVBCT, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh.[1] Mặc dầu lãnh vực quân đội không phải là lãnh vực phụ trách trực tiếp của ông Trọng, nhưng ông đã xuất hiện như một nhân vật chính và đọc diễn văn chỉ đạo khá dài trong buổi lễ của Bộ đội Biên phòng, lực lượng bảo vệ biên giới và hải đảo của VN. Ai cũng biết phần biên giới và hải đảo tiếp giáp với Trung Hoa là phần quan trọng nhất và cũng đang có nhiều tranh chấp nóng bỏng nhất.
Ở đây không bàn nội dung bài của ông Trọng trên tờ QĐND, vì vẫn chỉ là „biết rồi khỏ lắm nói mãi.“ Câu hỏi cho những ai theo dõi thời cuộc VN là: Tại sao Nguyễn Phú Trọng trong thời gian gần đây đã tỏ vẻ quan tâm đặc biệt tới quân đội, chọn tờ QĐND để trình bày quan điểm việc „thực hiện quyền con người“ của QH và tiếp đó đã chọn Bộ đội Biên phòng làm nơi để trình bày lập trường và quan điểm về vấn đề thời sự quốc phòng?
Ai theo dõi nội tình ĐCSVN thì đều biết, Nguyễn Phú Trọng thuộc khuynh hướng bảo thủ, là người thân Bắc kinh và được coi như người có thế lực rất mạnh trong BCT hiện nay. Trước khi làm CTQH, Nguyễn Phú Trọng đã từng là Bí thư Thành ủy Hà nội, đồng thời phụ trách Công tác Tư tưởng của Đảng và Chủ tịch Hội đồng Lí luận trung ương (HĐLLTU). Tuân thủ chủ trương gắn bó với Bắc kinh của Đỗ Mười và Lê Đức Anh, trong thời gian phụ trách Công tác Tư tưởng và Chủ tịch HĐLLTU Nguyễn Phú Trọng đã là người sáng lập và chỉ đạo trực tiếp các cuộc Hội thảo Lí luận ở cấp cao giữa hai ĐCS Việt Nam và Trung Hoa về các vấn đề ý thức hệ, chính trị và kinh tế. Mới đây Tô Huy Rứa, một người thân cận của ông Trọng, vừa được bầu bổ túc vào BCT tại Hội nghị Trung ương 9 (1.09), đang tích cực tiếp nối công việc của Nguyễn Phú Trọng trong quan hệ chặt chẽ về tư tưởng ý thức hệ với Bắc kinh. [2]
Trong thời gian gần đây một phần không nhỏ trong ĐCS, trong Quân đội Nhân dân, các giới chuyên viên, nhân sĩ và giới trẻ tỏ ra bất bình và lo ngại trước thái độ khúm núm và sự nhân nhượng vô nguyên tắc của nhóm cầm đầu CSVN trước thái độ kiêu ngạo và đòi hỏi ngang ngược của nhóm cầm quyền Bắc kinh. Mọi người đã cảm nhận một cách cay đắng và tức tưởi rất trực tiếp trong các tuần lễ gần đây trong quan hệ Bắc kinh và Hà nội. Do áp lực rất mạnh của Bắc kinh nên trong dịp kỉ niệm 30 năm Chiến tranh Biên giới Việt –Hoa (1979-2009) vào giữa tháng 2.09 nhóm cầm đầu CSVN đã không dám tổ chức một lễ kỉ niệm nào, cũng không có những lễ viếng các nghĩa trang chôn cất hàng ngàn bộ đội đã phải hi sinh trong cuộc chiến xâm lược trước đây 30 năm do nhóm lãnh đạo CSTH phát động lúc đó. Họ sợ hãi Bắc kinh đến nỗi không dám cho phép cả báo chí trong nước được viết về đề tài này trong tháng 2 vừa qua.
Điều này hoàn toàn trái với thái độ vẫn có của nhóm cầm đầu CSVN cho tổ chức hàng năm kỉ niệm long trọng các dịp chiến thắng Điện Biên phủ hay ngày 30.4 và viết những bài ca tụng chiến thắng cũng như kết án đối thủ, mặc dầu các sự kiện lịch sử này đã xẩy ra trước cả cuộc xăm lăng biên giới VN của Trung Hoa vào giữa tháng 2.1979.
Trong khi không dám làm lễ kỉ niệm tưởng nhớ hàng ngàn bộ đội và nhân dân đã phải hi sinh trong chiến tranh biên giới do cuộc xâm lăng của CSTH thì chỉ ít ngày sau những người cầm đầu CSVN đã cùng với Bắc kinh tổ chức long trọng buổi „Lễ chào mừng hoàn thành công tác cắm mộc biên giới“ Việt-Hoa vào ngày 23.2 ở Lạng sơn, ở chính ngay chỗ trước đây 30 năm đã là một chiến trường chính, quân đội VN đã phải xả thân để bảo vệ lãnh thổ! Trong buổi lễ này UVBCT, Phó TT kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã không ngớt lời ca tụng mối bang giao mà hai bên gọi là „16 chữ vàng“ và „4 tốt“:
„Đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ đối tác–hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 nước và cũng là thông điệp quan trọng khẳng định với thế giới về mối quan hệ hợp tác đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Quốc.“ [3]
Đáp lời hồ hời của Phạm Gia Khiêm, Quốc vụ viện Trung Hoa Đới Bỉnh Quốc trong buổi lễ này đã dùng ngôn ngữ ngoại giao rất mỉa mai nói là, hai bên „cùng thắng“ và „cùng có lợi“. [4] Đới Bỉnh Quốc biết thừa rằng, trong việc này chỉ có lợi cho Trung quốc, vì suốt hơn chục năm từ khi đàm phán, kí kết tới thực hiện Hiệp định Biên giới thì nhà cầm quyền CSVN luôn luôn bị đứng trong tư thế rất yếu so với Bắc kinh. Đây chính là hậu quả của việc vội vã cúi đầu cầu hòa với phương Bắc để bảo vệ quyền hành của Đỗ Mười và Lê Đức Anh vào đầu thập niên 90 của thế kỉ trước.
Thái độ khúm núm làm mất thể diện quốc gia của nhóm cầm đầu CSVN được đổi lại bằng sự leo thang đưa ra những yêu sách ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc kinh không chỉ trong biên giới, lãnh hải và hải đảo, mà nay còn đang gia tăng áp chế cả trong kinh tế. Rõ ràng nhất là họ phải để cho Bắc kinh khai thác Bauxit nhôm trên Tây nguyên của VN. Những ai am hiểu đều biết trong điều kiện hiện nay của VN, việc để cho Bắc kinh khai thác các quặng Bauxit để chế biến thành kim loại nhôm sẽ phá hủy rất lớn về môi trường, gây rất nhiều thiệt hại cho nhân dân và có ảnh hưởng bất lợi cho an ninh quốc phòng. Mặc dầu nhóm cầm đầu CSVN biết rõ là trình độ kĩ thuật của Trung Hoa rất thấp trong lãnh vực khai thác khoáng sản (mỗi năm có tới vài ngàn công nhân Trung Hoa bị chết vì các vụ nổ trong các mỏ than) và kỉ luật lao động rất tồi tệ của các chuyên viên và công nhân Trung quốc (nhiều dòng sông ở Trung Hoa đã biến thành nước độc do các chất thải hóa học độc hại của các xí nghiệp). Nhưng hiện nay các nhà thầu Trung quốc đã độc quyền khai thác các quặng Bauxit và hàng trăm công nhân người Hoa đã được đưa vào Tây nguyên để khai thác quặng Bauxit và thời gian tới có thể lên tới vài ngàn người! Do áp lực của Bắc kinh và sợ sự phản đối của nhân dân VN cho nên chính Nguyễn Tấn Dũng cũng đã ra chỉ thị nội bộ số 17/TB-VPCP ngày 13.1.09 không cho báo chí được tường thuật về việc này!
„Trong thời gian chưa hoàn thành việc tổ chức Hội thảo khoa học, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng không đưa tin về ảnh hưởng môi trường trong khai thác, tuyển rửa“
Trước những việc làm khuất tất và vội vàng như vậy, nên cũng vào dịp này tướng Võ Nguyên Giáp, một cựu đại thần cuối cùng còn sống của chế độ, đồng thời còn nhiều ảnh hưởng trong hàng ngũ sĩ quan trong Quân đội Nhân dân, đã phải viết thư trực tiếp cho Nguyễn Tấn Dũng. Trong đó tướng Giáp đã cho biết, từ thập niên 80 của thế kỉ trước ngay cả các chuyên viên Liên xô khi đó cũng đã nói cho Hà nội biết là „không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên. “ [5]
Không những thế tướng Giáp còn cảnh báo cả những nguy hại về “an ninh quốc phòng”:
“Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng.”
Cho nên vào cuối thư, tướng Giáp đã yêu cầu Nguyễn Tấn Dũng phải “cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây nguyên”.
Sau đó không lâu nguyên Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Tư lệnh Quân khu IV trước 1975 và cựu Đại sứ tại Bắc kinh, đã viết thư gởi BCT và TT Nguyễn Tấn Dũng về việc này. Trong đó ông đã ủng hộ các nhận định và yêu cầu của tướng Giáp cũng như của nhiều chuyên viên, trí thức và nhân sĩ. Ông Vĩnh đã nhấn mạnh đặc biệt về nguy cơ tới an ninh quốc phòng trong việc để cho Trung Hoa khai thác mỏ Bauxit ở Tây nguyên:
“Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một "thị trấn Trung Hoa", một "căn cứ quân sự" trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” [6]
Nhưng mới đây Nguyễn Tấn Dũng đã bác bỏ những yêu cầu chính đáng của các tướng Giáp và tướng Vĩnh, cũng như của nhiều chuyên viên, trí thức và nhân sĩ. Ông Dũng đã cho biết, “Về vấn đề khai thác boxit tại Tây Nguyên, Thủ tướng cho biết, đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.” .[7] Cách nói này phải được hiểu là, việc này đã được quyết định xong ở cấp cao nhất và không phải là do chính phủ của ĐCSVN quyết định mà là do áp lực của Bắc kinh. Vì chính vài tháng trước đó trong chuyến thăm Bắc kinh vào cuối tháng 5. 08 Nông Đức Mạnh, người cầm đầu chế độ, đã đồng ý để Bắc kinh khai thác các quặng Bauxit ở Tây nguyên. [8]
* * *
Việc tổ chức kỉ niệm một cuộc chiến để tưởng nhớ tới những chiến sĩ và nhân dân đã hi sinh là một tình cảm tự nhiên của con ngưới bất cứ ở đâu, là một quyền chính đáng của một dân tộc và là trách nhiệm của chính quyền đương thời, nhất là nếu cuộc chiến đó là cuộc chiến đấu tranh chống ngoại xâm để bảo toàn lãnh thổ và độc lập. Vậy thì động cơ nào đã khiến nhóm cầm đầu chế độ toàn trị ở VN đã không tổ chức lể kỉ niệm 30 năm cuộc chiến tranh chống xâm lược bành trướng của phương Bắc? Có hai cách giải thích: 1. Hoặc là nhóm cầm đầu CSVN hiện nay coi việc Bắc kinh mở cuộc chiến vào đầu năm 1979 chống VN là chính đáng. 2. Hay họ đang bị áp lực rất mạnh của Bắc kinh, cho nên đã không dám tổ chức lễ kỉ niệm, ngược lại phải tập trung vào việc tổ chức “Lễ chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc biên giới”!
Những diễn biến chính trị trình bày trên đây đã cho thấy, nhóm thân Bắc kinh trong BCT vì muốn tiếp tục giữ ghế, giữ phần nên đã ngày càng tỏ ra nhu nhược và hèn yếu trước các yêu sách ngày càng ngang ngược, ngày càng mở rộng của Bắc kinh. Nhóm cầm đầu Bắc kinh đã ngăn cản không cho chế độ CSVN tổ chức kỉ niệm 30 năm chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, bắt nhóm cầm đầu CSVN phải long trọng tổ chức „Lễ chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc biên giới“ ở ngay trên phần đất mà cách đây 30 năm đã diễn ra cuộc chiến tranh xâm lược của phương Bắc. Không những thế, nhóm cầm đầu CSVN thân Bắc kinh còn khinh thường những lời cảnh báo chính đáng của các tướng Giáp và Vịnh cũng như của nhiều chuyên viên và nhân sĩ đừng để Bắc kinh khai thác Bauxit ở Tây nguyên. Chính thái độ ươn hèn và nhu nhược với phương Bắc, nhưng lại rất cao ngạo với nhiều cựu tướng lãnh và chuyên viên, nên nhiều đơn vị trong QĐND, sĩ quan, các giới thanh niên, sinh viên , trí thức và nhân dân VN đã rất bất bình với những người cầm đầu chế độ toàn trị. Bị dư luận chỉ trích rất rát mặt, cho nên những nhân vật thân Bắc kinh trong BCT đã phải tìm cách rửa lại bộ mặt của mình. Dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Bộ đội Biên phòng được họ coi là thích hợp nhất, vì lực lượng này phải thường xuyên đối phó với tình hình an ninh ở biên giới, lãnh hải và các hải đảo, đặc biệt là đối với Trung Hoa. Sự xuất hiện của Nguyễn Phú Trọng, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu và Trương Tấn Sang trong dịp lễ kỉ niệm 50 năm thành lập BĐBP vào đầu tháng 3.09 là muốn chứng tỏ, họ rất quan tâm tới vấn đề biên giới, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ !
Mặc dầu vậy, trong diễn văn khá dài đọc tại cuộc lễ kỉ niệm 50 năm thành lập Bộ đội Biên phòng, Nguyễn Phú Trọng tuy có nhắc đi nhắc lại tới nhiệm vụ bảo vệ biên giới và hải đảo của ngành này, nhưng chỉ nói chung chung, không có môt lần nào dám nói công khai hay trực tiếp từ đâu hay từ nước nào đang đe dọa an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của VN. Tại sao tự nhận là “đồng chí” thân thiết của Bắc kinh, nhưng ông Trọng đã không dám nói thẳng, nói thật ! Đáng để ý hơn nữa, ngay cả trong diễn văn của Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên, UV Trung ương đảng, Tổng Tham mưu trưởng và Thứ trưởng Quốc phòng vào dịp này tuy đã nhắc lại vai trò của Bộ đội Biên phòng trong chiến tranh chống Pháp và Mĩ, nhưng lại không có một đoạn hay câu nào nói tới trong chiến tranh Việt-Hoa đầu 1979! [9]
Qua đó có thể thấy, sự chăm sóc đặc biệt gần đây của Nguyễn Phú Trọng tới các đơn vị của QĐND, đặc biệt là Bộ đội Biên phòng có thể vừa được coi là thái độ vỗ về, chấn an quân đội, nhưng mặt khác còn có thể hiểu là cách răn đe quân đội của phe bảo thủ thân Bắc kinh trong BCT hiện nay. Phải vỗ về chấn an QĐND, vì sự im lặng và không dám tổ chức lễ kỉ niệm cũng như thăm viếng các mồ mả hàng ngàn binh sĩ đã thiệt mạng trong cuộc chiến tranh chống xâm lược bá quyền Bắc kinh vừa đúng 30 năm đã làm nhiều đồng đội và thân nhân của những đơn vị đã từng tham chiến xả thân cho việc bảo vệ lãnh thổ vô cùng bất mãn và tức tưởi! Ra mặt trấn an để họ muốn tỏ ra là vẫn quan tâm tới quyền lợi đất nước và bảo toàn lãnh thổ. Nhưng mặt khác sự hiện diện của Nguyễn Phú Trọng, một nhân vật bảo thủ có nhiều quyền lực và thân Bắc kinh, trong dịp này còn là cách răn đe các khuynh hướng, các đơn vị hay sĩ quan đang tỏ thái độ bất mãn trước sư ươn hèn và nhu nhược của nhóm cầm đầu trong BCT. Nguyễn Phú Trọng và những người đứng đằng sau như Đỗ Mười và Lê Đức Anh, muốn nhắn bảo với những người này và dư luận chung là, họ trước sau vẫn nắm giữ trực tiếp và chủ động quân đội!
Nhưng ai hiểu biết và quan tâm về tình hình VN sẽ thấy rằng, những ý đồ trên đây của những người thân Bắc kinh trong nhóm cầm đầu CSVN không thể che dấu được ai. Nhiều sĩ quan, đơn vị quân đội, các giới chuyên viên, học giả và sinh viên càng thấy rất rõ thái độ cố tình đánh lừa dư luận của nhóm này. Mọi người còn thấy rõ, những sự hiện diện và các lời tuyên bố của họ trong buổi lễ nói trên đã tự cho thấy tư cách hèn yếu, chỉ mong bám giữ ghế để bảo vệ đặc quyền đặc lợi bằng mọi giá, kể cả thỏa hiệp và nhượng bộ vô nguyên tắc đối với bá quyền phương Bắc!
Nguyễn Phú Trọng đã từng nhiều năm làm Chủ tịch Hội đồng Lí luận Trung ương và học thuộc lòng thuyết duy vật biện chứng, như thế ông phải biết nhiều mặt của một vấn đề: Ở đâu có người nhu nhược và hèn yếu, đầu hàng bá quyền bên ngoài thì ở đấy sẽ hình thành và kết hợp những người biết trọng danh dự và có lòng ái quốc chân chính ! Ở đâu có đàn áp, độc tài và bất công thì ở đó phải có phản đối, đối lập và đấu tranh để kiến tạo dân chủ và công bằng !
GHI CHÚ:
[1] . Quân đội nhân dân điện tử (QĐND) 2.3
[2] . Âu Dương Thệ,79 năm hoạt động của ĐCSVN (3.2.1930 – 3.2.2009):Từ một đảng cách mạng trở thành một đảng phản cách mạng! Chứng minh qua Hội nghị Trung ương 9, trong www.DCPT.org
[3] . Phạm Gia Khiêm trong buổi „Lễ chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc biên giới“, Chính phủ điện tử (CP) 23.2
[4] . Vietnam Net 23.2
[5] . Nguyên văn thư của tướng Võ Nguyên Giáp xem trong www.DCPT.org
[6] . Xem thư của tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thơ gởi BCT, www.DCPT.org
[7] . Nguyễn Tấn Dũng phát biểu trong cuộc gặp báo chí đầu năm, CP 4.2.
[8] . Điểm 5 trong Thông cáo chung TH-VN, Nhân dân 2.6.08.
[9] . QĐND 2.3
Sinh hoạt tôn giáo của Tổng giáo phận Sài Gòn
Nguyễn Văn Lục
Đôi điều nhận xét về sinh hoạt tôn giáo của TGP Sài Gòn nhân dịp tấn phong giám mục phụ tá Nguyễn Văn Khảm
Tôi chưa bao giờ có dịp dự một buổi lễ phong chức Giám Mục. Và đây là lần đầu tôi được tham dự “trên Video”. Tôi đã nhìn thấy quang cảnh ấy: Sống động, thong dong, nghiêm chỉnh, nhịp nhàng, trật tự, đơn giản. Nó có điều gì khác biệt với bầu khí lo ngại căng thẳng sau 1975. Có cần tôi phải nhắc hết lại biết bao nhiêu biện pháp trù dập, chế tài, tù đầy, học tập cải tạo, tước đoạt tài sản giáo hội không?
Chỉ nhận biết rằng, bầu không khí hôm nay không phải là bầu khí 1975 và càng không phải bầu khí 1955.
Bóng dáng các giám mục với phẩm phục tươi rói, đông đảo các linh mục trong áo lễ mầu trắng, các thầy phó tế trong chiếc áo chùng đen, cổ trắng, các sơ thì nay rất đơn giản với chiếc khăn chùm đầu và áo dài thay vì cái lúp đội đầu bự “tổ trảng” và chiếc váy với nhiều lớp vải.
Đối với nhiều người thì đây là hình ảnh của một quá khứ tôn giáo trong cái sinh hoạt bình thường đang được sống lại.
Nhiều cái "không"
Sự đơn giản ấy trong y phục coi như một cuộc cải cách từ trong ra ngoài.
Buổi lễ diễn ra:
*không kèn trống inh ỏi,
* không loa phóng thanh oang oang,
* không rước sách,
* không cờ quạt,
* không có những chức sắc chạy hối hả, lăng xăng. Phần đông là người trung niên, hình như phải có giấy mời mới được tham dự.
* Không có người già và thiếu hẳn bóng dáng các em thiếu nhi. Tại sao thế nhỉ? Thật rất tiếc khi thấy không cho phép các thanh niên, thiếu nữ dự một buổi lễ quan trọng như thế này.
Chắc là không đủ chỗ ngồi. Trong tương lai, tôi nghĩ rằng nên tìm một mảnh đất rộng hơn cho vài chục ngàn người có thể tham dự.
Và nhất là:
* không có bóng dáng công an đồng phục như thường lệ.
Nhiều cái không lắm và càng nhiều cái không thì buổi lễ phong chức giám mục càng có thêm ý nghĩa.
Tôi để ý, hình như * không có bất cứ lá cờ nào cả. Nhất là cờ đỏ sao vàng mà trước đây nhà nước cộng sản cứ ép phải treo trước nhà thờ trong các lễ lạc. Như trường hợp nhà Thờ lớn Hà Nội. Có lẽ vì thế, sau buổi lễ tấn phong này, sẽ không có ai phải đi tù và chết rũ tù vì tội không treo cờ như trường hợp cha Nguyễn Văn Vinh địa phận Hà Nội.
Thời thế đã thay đổi chăng?
Những chèn ép không cần thiết đả giảm mức độ hay sự hiểu biết về các giá trị tôn giáo đã có hiệu quả?
Cờ Hội thánh mầu vàng trắng cũng không thấy. Phải chăng quyết định không treo bất cứ cờ nào xuất phát từ quyết định của Đức Hồng y? Bởi vì ngài ghét cờ quạt lắm. Cờ quạt đôi khi phiền toái lắm. Nó có thể là cớ sự “làm tắc nghẽn con đường Hiệp Thông của các bạn trẻ” như trong các kỳ đại hội thế giới trẻ?
Quyết định không treo cờ cũng là một điều hay. Giả dụ sau này có phái đoàn người Quốc Gia hải ngoại được mời về tham dự, họ có thể cầm một lá cờ không nhất thiết là cờ đỏ sao vàng thì có thuận tình, thuận lý không?
Việc tổ chức như thế vừa đủ “dose” cho buổi lễ, giữ được cái nghiêm chỉnh và trang trọng, tránh được những xâm nhập thế tục như những lời chúc tụng trên báo làm nhòa buổi lễ. Đồng thời nó tránh được cái phù phiếm, phô trương.
Về mặt tôn giáo, buổi lễ thật tốt đẹp.
Tuy nhiên, cũng có một nốt nhạc thừa, cung cách rất “XHCN” trong buổi lễ. Ông Huỳnh Công Minh, đảng viên đảng cộng sản, (Tôi đã viết hai bài về 4 ông là: Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Vương Đình Bích và Phan Khắc Từ nên xin được miễn viết lại ở đây.) đọc danh sách từ vị chủ tế, Hồng Y Phạm Minh Mẫn và lần lượt các vị giám mục các nơi về tham dự.
Đọc đến tên ai thì người đó đứng dậy. Cứ như điểm danh ấy. Lại *không đọc tên thường, chỉ đọc tên thánh làm nhiều người không biết ông giám mục ấy là ai?
Càng về cuối, ông đọc càng nhanh như đuổi, như đọc cho xong.
Giả dụ một buổi lễ tấn phong ở Vatican, người ta có đọc tên từng người như thế không?
Chắc là không.
Tôi nghĩ rằng người quay film hơi tồi vì không thấy chiếu hình tiếp theo xem ông Huỳnh Công Minh ngồi ở chỗ nào trong buổi lễ?
Ông là nhân vật quan trọng hàng đầu trong giáo phận Sài Gòn. Xét về phẩm tước thì ông dưới giám mục phụ tá. Giám mục phụ tá chỉ có vai trò thay Tổng Giám Mục trong các cuộc viếng thăm xứ đạo hay giữ một vai trò chuyên môn như mục vụ, v.v...
Linh mục tổng quản về quyền hành thì chắc là giữ vai trò trọng yếu trong những quyết định như tuyển chọn, thuyên chuyển, tay hòm chìa khóa chi tiêu, thay mặt Tổng Giám Mục giao tiếp với chính quyền.
Cho nên buổi lễ phong chức này không thể không có ông Huỳnh Công Minh trong đó. Quay film chuyên nghiệp là phải bắt được những bức hình có bóng dáng linh mục tổng quản trong đó. Không được thiếu. Ông Huỳnh Công Minh không thể ngồi cùng với các giám mục vì không đúng chức phận.
Thật ra đáng nhẽ với chức vụ Tổng đại diện từ sau 1975, thời Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, thời mà dư luận bên ngoài đồn thổi, ông làm mưa, làm gió. Quyền trong, quyền ngoài. Vừa là dân biểu quốc hội vừa là tổng đại diện. Chỗ ngồi của ông từ lâu phải là giám mục rồi. Phải chăng đó là sự khôn ngoan và quyết tâm của giáo hội hay là cái giá mà ông phải trả vì là đảng viên cs?
Ngồi với giáo dân hay quan khách thì bất xứng với vai trò của ông. Nhưng cứ những gì tôi nhìn thấy trong buổi lễ thì ông không có chỗ ngồi chính thức nào cả.
Ông ở trong giáo hội mà rất nhiều người vẫn coi ông như ở ngoài giáo hội. Nói một cách thẳng thừng thì ông bị nghi kỵ, bị khai trừ (ex-communié) trong mắt người tín hữu. Tôi không biết sau buổi lễ, có ai bắt tay và chào hỏi ông không? Riêng buổi lễ mừng tân giám mục, tôi đảo mắt nhìn, nhưng không thấy ông đâu cả. Tuy nhiên, phải nhìn nhận là ông có cử chỉ khiêm cung, từ tốn, ăn nói chừng mực, có phong cách và cái bề ngoài lúc nào cũng như xuất hiện low profile.
Cùng lắm chỗ ngồi của ông vẫn là trong bóng tối với vai trò dấu mặt, điều động, giật dây.
Đối với một người khó tính, đòi hỏi sự trong sáng minh bạch, sự có mặt của ông làm cho buổi lễ giảm đi một nửa giá trị. Giá trị tuyển lựa, giá trị chính danh, giá trị tôn giáo, giá trị chủ quyền.
Phải chăng sau hơn 30 năm “phục vụ giáo hội” đã đến lúc ông cùng lúc từ chức và từ quan chăng?
Tôi cũng để ý không có bóng dáng một nhân viên cảnh sát mặc sắc phục trong khu vực cử hành lễ. Cám ơn các nhân viên công lực đã giúp cho buổi lễ được nghiêm chỉnh. Chỉ cần nhà nước không làm gì, không đăng báo, không loan tin, không chúc mừng cũng là một điều tốt rồi.
Đám tang Hồng y Tụng có 3 vòng hoa chiếu lệ ở cấp thừa hành. Khác hẳn đám tang TGM Nguyễn Văn Bình.
Nhớ lại đám tang TGM Nguyễn Văn Bình, 1-7-1995, nào vòng hoa của Đỗ Mười, TBT đảng, Lê Đức Anh, chủ tịch nước, Nông Đức Mạnh, chủ tịch Quốc Hội rồi Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt... Ôi thôi là mệt. Chẳng hạn, nếu họ ca tụng “công đức” Hồng Y Tụng thì làm khó giáo dân vốn có lòng kính mến ông.
Buổi lễ có nhiều thứ không như thế mà không viết lại thì thật uổng quá.
Thông thường những buổi lễ quan trọng và hiếm hoi như thế phải được tổ chức ở nhà thờ Đức Bà. Nơi tôn nghiêm nhất, truyền thống nhất? Đã không làm như vậy theo ý giáo dân. Cho dù ai quyết định vẫn là một quyết định khôn ngoan. Việc chọn lựa tổ chức lễ tấn phong Giám Mục tại Đại Chủng Viện thánh GiuSe xét ra là một điều hay. Nó vừa kín đáo như công việc trong nhà thuộc nội bộ tôn giáo. Nó tránh cho người dân “cái cảnh bị thi công” cái “đồ án làm đường” chung quanh nhà thờ Đức Bà làm ùn tắc giao thông vốn là một cơn ác mộng đối với dân thành phố. Nó không phải nhờ đến các ông áo vàng huýt còi giữ trật tự.
Khu nhà Đại Chủng Viện riêng biệt, có sân rộng, là một dãy nhà 2 tầng với những hành lang dài và rộng, sơn mầu vàng nhắc nhở người ta đến thời kỳ Pháp thuộc trước đây.
Có một khu dành riêng cho một bảo tàng viện công giáo. Chẳng hạn có một bộ sa lông bằng khảm sà cừ của tòa Khâm sứ Pháp, một bộ tràng phang rước kiệu (gồm Thánh Giá và những cây cột hiệu) cách đây 300 năm, tượng Thiên Thần Micae cách đây cũng 300 năm. Một chiếc bàn làm từ một khối gỗ dài 15 feet, rộng 5 feet do một Phật tử tặng. Khi khiêng vào phải phá tường để khiêng vô. (Xem bài viết Đại Chủng viện Sài Gòn thực hiện Bảo tàng viện công giáo, Người Việt Online, thứ hai, 04/04/2005). Cạnh đó, có khoảng 3000 ấn phẩm viết về những vấn đề liên quan đến giáo hội.
Nhân tiện đây, tôi xin nhắn Đức cha phụ tá là nên liên lạc với Trương Bá Cần, chủ nhiệm tờ báo Công giáo và Dân tộc, và đòi ông ta phải trao hoàn lại toàn bộ tài liệu sách báo của địa phận Sài Gòn mà ông ta đã thu gom lại trong giai đoạn đánh phá tàn dư văn hóa ngụy. Đó là tài sản của địa phận Sài Gòn mà ông ta có bổn phận hoàn trả lại. Chưa kể là nếu cần hài tội ông ta trước công luận trong và ngoài nước.
* Tôi tự hỏi và nhủ thầm đã có bao nhiêu những đấng bực đã từ nơi Đại Chủng Viện ở nơi này mà đi ra?
* Không biết có một thư viện riêng lưu trữ công đức của họ để cho các thầy trẻ tập huấn và noi gương?
Nhất là những gương về đạo đức kiên trì và lòng can đảm.
Như trường hợp TGM Nguyễn Văn Bình đã từng là giáo sư Đại Chủng viện Thánh Giuse vào năm 1955. Sau đó bị Giám mục Drapier cách chức vì có liên quan đến việc một vài linh mục đã bỏ theo kháng chiến.
Có hàng trăm, hàng ngàn tu sinh đã từ nơi đây, được đào luyện tu đức trở thành linh mục và được phân phối đi khắp nơi phục vụ.
Cần tạo dựng một truyền thống cho Đại Chủng Viện Sài gòn.
Một ngôi nhà nguyện xinh xắn hình như mới được xây cất hay tân trang, rất sáng sủa, phải chăng cho thấy một dấu hiệu cởi mở so với những căn nhà cổ lổ sĩ, rêu phong, “xuống cấp” của 40 phố Nhà Chung, Hà Nội?
Có một sự cách biệt về nếp sống và phong cách giữa giáo hội Hà Nội và Sài Gòn.
Tân Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Phần linh mục được tiến chức Nguyễn Văn Khảm vốn không xa lạ gì với giáo hữu trong nước và hải ngoại qua các bài giảng được thâu băng của linh muc. Buổi lễ phong chức cho linh mục Nguyễn Văn Khảm, giám đốc Trung Tâm mục vụ của tổng giáo phận Sài Gòn, như thể chính thức hóa công việc rao giảng mục vụ mà linh mục vẫn thừa tác từ 28 năm nay trong đời sống linh mục.
Giảng ròng rã hơn 20 năm, rao giảng lời Chúa mà linh mục vẫn được tín nhiệm giữ được lề “bên phải” và tạo được niềm tin nơi Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn kể là một điều đáng nêu gương?
Tôi kỳ vọng vào vì giám mục phụ tá Nguyễn Văn Khảm này trong những hoàn cảnh khó khăn và thử thách làm được một phần những điều ông đã rao giảng như: Bí Tích Hòa Giải, Đời sống luân lý Ky tô giáo, Con người xa ngã v.v…
Tôi nhận thấy có hơn 20 chục giám mục các nơi về tham dự. Đông gấp đôi buổi lễ phong TGM Ngô Quang Kiệt ngày 19/03/2005. Trong đó một phần ba tương đối còn trẻ trên dưới 50 và hai phần ba là đã già. Có lẽ cần phải trẻ trung hóa thêm thành phần Hội đồng Giám mục. Thật ra Hội Đồng Giám Mục mới được thành lập năm 1980, năm năm sau 1975, 32 vị giám mục trên toàn quốc mới được chính quyền cộng sản cho phép hội họp. Tôi còn nhớ kỳ họp lịch sử đó, ngày 1 tháng 5, 1980, HĐGM đẻ ra được cái thư chung gửi cho giáo dân mà lời lẽ thật ra chỉ là gởi cho chính quyền cộng sản đại khái như sau:
“Vì thế, chúng ta thành thật biết ơn chính phủ đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho Đại Hội này. Trước khi bế mạc Đại Hội, chúng tôi đã vào lăng kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã yết kiến Thủ tướng chính phủ.” (Trích HGPCGVN, Thư luân lưu 1980, trg 275 và 276)
Chỉ xin nhắc các giám mục vài lời hèn mọn của LM Nguyễn Văn Lý, nay đang ngồi tù, gửi các giám mục và xin các giám mục: Không họp Hội đồng giám mục nữa, không ra thư chung nữa, không xin phép bất cứ điều gì không cần xin phép nữa"... Tất cả là 8 cái KHÔNG.
Trong số giám mục có mặt, tôi nhận thấy có giám mục địa phận Kon Tum, GM Hoàng Đức Oanh mà tôi có dịp gặp nhân dịp tết 2006. GM cho biết, địa phận Kon tum với dân Thượng vốn nghèo sẵn, nay nghèo thêm. Vấn đề chưa hẳn là truyền giáo mà giúp cho họ đủ sống.
Chính quyền thì bỏ rơi họ.
Cũng trong dịp này, tôi may mắn được gặp Lm Trần Sĩ Tín . Trông ông khỏe mạnh và rất khiêm cung. Sau khi chịu chức linh mục, Lm Tín đã tình nguyện lên Kon Tum phục vụ người Thượng. Nay đã gần 40 năm. 40 năm sống chung và phục vụ đồng bào dân tộc, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, thuộc giáo phận Kon Tum.
Chư Sê là đâu nhỉ? Chẳng mấy ai trong chúng ta biết đến, nhưng ở nơi đó có những người bỏ ra cả cuộc đời tận tụy, hy sinh, phục vụ trong âm thầm, trong
bóng tối với không biết bao gian nguy, hiểm nghèo. Họ không nói về họ mà họ nói về những người mà họ đang phục vụ.
Lm Trần Sĩ Tín viết về họ:
“Hằng ngày chúng tôi giáp mặt với những trẻ em mồ côi chẳng được nuôi dưỡng cũng chẳng được học hành. Nếu không cưu mang các em, nhất là các em sơ sinh, nhất định các em sẽ chết, vì người Jrai quen chôn các em mới sinh ra đời, hay giết một trong hai em sinh đôi, vì nghĩ như vậy là tốt.”
Buổi lễ tấn phong này đã thực hiện được bao nhiêu cái không đó.
Nhưng nhìn xuống đám đông các sơ ngồi phía dưới thì thấy khấp khởi mừng thầm và vui. Tôi đã cố gắng thu thập hình ảnh các sơ vào trong đầu và miên man với nhiều ý nghĩa tốt đẹp. Tôi cũng đã nhìn ra hơn hai phần ba các sơ đều trẻ và nhiều sơ cũng xinh xắn lắm. Mỗi người sinh ra ở đời tự chọn cho mình một con đường để đi. Quý sơ đã chọn con đường gay go nhất, con đường sa mạc “40 năm” của ông Moi–Sen đầy thử thách. Thì xin cứ thế mà đi. Chọn mà đi.
Trong tương lai, tôi nuôi nguồn hy vọng là nhà nước này hiểu được và các sơ sẽ có một vai trò xứng hợp hơn đối với đạo và đời trong vai trò giáo dục. Tết 2006, tôi đã kín đáo nhìn một sơ, vóc dáng nhỏ bé, đứng ở một góc sân trường, vào một sáng chủ nhật, điều khiển một lúc 800 em học sinh nam nữ. Răm rắp, đâu vào đấy, nghiêm chỉnh, kỷ luật, từ bé đến lớn, ăn mặc tươm tất, sạch sẽ. Cha mẹ các em hầu hết còn trẻ, đều vui mừng khi nghĩ tới tương lai con cái có nơi giáo dục tốt. Các em hăng say, vui vẻ gia nhập các đoàn thể thiếu nhi do các sơ đảm trách.
Còn có thể có gì quý hơn thế nữa.
Tương lai đất nước này đặt vào đó, không phải ở đám lãnh đạo hiện nay. Tôi hiểu được sức mạnh và vai trò tối quan yếu của các sơ. Giáo Hội cũng phải hiểu rõ điều đó. Hãy mạnh dạn đòi hỏi thêm nữa. Tôi nhìn thấy văn phòng của đội thiếu nhi Tiền Phong trong sân trường đóng cửa. Tôi thấy các em nhỏ cùng một lúc chịu hai nền giáo dục trái khoáy. Chiều thứ tư bắt buộc đi họp đoàn đội. Sáng chủ nhật tự ý, thoải mái đi hay không đi họp thiếu nhi và đi lễ ở nhà thờ lúc 11 giờ.
Các sơ là người đã thắng 100% cái cơ chế ấy một cách hòa bình, nhân ái, tình người mà không cần một lời lên tiếng phản kháng, bạo động. Và tôi tự hỏi trong số 800 em ấy, có bao nhiêu em là con cán bộ, công nhân viên nhà nước. Vì lẽ gì, người dân tin cẩn, chịu khó gửi các con cái mình vào tay các sơ?
Vâng vì lẽ gì?
Chỉ vì lẽ đơn giản là các sơ chỉ dạy những điều tốt lành, các sơ là người tốt lành.
Hãy trả lại các sơ các trường mầm non, trường mẫu giáo. Thay vì chỉ dạy các em vài giờ ngày chủ nhật, các sơ chăm sóc, chỉ dạy các em cả tuần lễ. Lo gì tương lai các em sau này? Đó là lối thoát cho VN ra khỏi vũng lầy giáo dục hiện nay.
Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng quan tâm đến vấn đề này, nhưng Hồng Y chỉ sợ rằng mai kia mốt nọ mở trường mẫu giáo chỉ toàn con cán bộ, công an, doanh nghiệp?
Hồng Y hỏi: Như thế có phục vụ người nghèo không?
Nhưng Hồng Y Mẫn cũng nói thêm: có để cho chúng ta cộng tác giúp đỡ người nghèo khổ không?
Hôm tết, chính quyền nói cho người công giáo góp phần lành mạnh hóa đời sống gia đình. Họ nói phải làm thôi, vì chúng tôi làm không xuể. Nhưng cũng có người của chính quyền nghĩ rằng mình làm để tranh dành ảnh hưởng này kia. Ý là vậy.
Họ không làm được. Họ lo làm giàu, nhưng họ không muốn ai làm. Đó là cái bất nhân của chính quyền cộng sản.
Nhưng khi các sơ đã chọn thì xin có một “Thảo trình” trong đầu, phát nguyện đi cho tới cùng theo đúng “thảo trình” ấy mà không buông xuôi, bỏ cuộc. Tôi trân trọng sự chọn con đường tu trì của quý sơ trong một đất nước đã tuyệt vọng về điều Thiện. Các sơ, các thầy chẳng những là hạt giống tốt cho giáo hội mà còn cho cả người ngoài giáo hội với điều kiện trong tương lai, nhà nước phải trao vào tay những người trẻ ấy trách nhiệm “trồng người”. Đã hơn 30 năm nay, nhà nước lãnh trọng trách giáo dục con người, nhưng họ đã hoàn toàn thất bại ê chề trong trách nhiệm ấy.
Nhà nước làm không được thì phải để người khác làm. Đừng bắt cả nước gánh cái ngu xuẩn và đui mù của lãnh dạo vốn chưa bao giờ biết lãnh đạo.
Trách nhiệm các tôn giáo sau này là ở chỗ ấy, nhiệm vụ ấy.
Nhìn sang phía các thầy chủng viện thấy được cái trẻ trung và sự hăng say. Có vẻ các thầy không phải là những “tu sĩ chui” như trước đây nữa. Tôi muốn gửi đến các thầy đôi điều, nhưng ngần ngại. Về địa lý, tôi ở xa các thầy nửa vòng trái đất và về thời gian, đã 30 năm không trực tiếp sống ở Việt Nam, người viết lấy kinh nghiệm gì, hiểu biết thực tại đời sống gì để đưa ra lời nhận xét xác đáng? Tôi có thể nói gì với các thầy mà một ngày không xa, các thầy cũng sẽ có người đảm trách công việc của các vị đàn anh đang ngồi trên kia.
Nhưng có điều tôi biết chắc chắn rằng các thầy đều sinh ra và lớn lên từ sau 1975, sống trong lòng chế độ ấy, hiểu được cái bên trong những gì mà chế độ ấy kế thừa lại. Hàng tuần, theo tôi biết, quý thầy được học hỏi thêm Triết học Mác xít. Tôi hoàn toàn không sợ các thầy bị anh hưởng di truyền của thứ học thuyết ấy mà trên thực tế nó đã rũa mục, nhưng nó vẫn ngoan cố ngồi lỳ ra đấy, không ai muốn học mà nhà nước vẫn bắt học. Các thầy càng học thì càng sáng mắt, sáng lòng. Cái môn học mà vào tháng 7, năm 2005, tôi đã viết một bài: Về một môn học mà Thầy không muốn dạy và trò không muốn học.
Thầy không muốn dạy mà trò cũng không muốn học, vậy mà vẫn cưỡng lý phải học. Đó là một trong vô vàn những cưỡng lý cực kỳ phi lý trong một xã hội toàn trị.
Các thầy biết là các thầy phải chọn con đường nào để đi. Các thầy đã may mắn sinh sau 1975, không bị những ràng buộc bởi những quá khứ đen tối như những hội chứng quấy rầy thế hệ chúng tôi.
Nhưng, tôi phải nhìn nhận các thầy có những bất hạnh không tránh khỏi mà thế hệ chúng tôi, trước 1975 được miễn trừ. Con đường các thầy sẽ phải đi là con đường những vị khả kính như Hồng Y Trịnh Như Khuê, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Hồng Y Phạm Đình Tụng đã đi qua. Dám chọn thì dám đi. Còn nếu không thì xin rút lui. Và đừng ngại rút lui. Bởi vì, thật ra “Không bao giờ chúng ta trung thành hơn với chính chúng ta khi chính lúc chúng ta quyết định thay đổi.”
Bản thân các thầy thua thiệt hơn chúng tôi nhiều. Ít ra chúng tôi được thừa hưởng một nền giáo dục gia đình tương đối lành mạnh, xã hội tương đối lành mạnh và một nên học vấn có căn bản vững chắc. Nói ra thì cười. Ít ra chúng tôi rành rẽ nói và viết tiếng Việt, rành rẽ văn chương, lịch sử. Ấy là nhiều người trong chúng tôi có thể rành rẽ từ một đến hai ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp.
Đại chủng viện Sàigòn
Nói ra các thầy đừng buồn, mặc dầu chủng viện nay đầy chủng sinh. Giáo phận Sài Gòn có 210 chủng sinh (Năm 2006). Nhà nước không cắt như trước nữa. Nhưng dạy không xuể. Chỗ ở không có, nay phải dọn cả nhà kho làm chỗ ở cho chủng sinh. Số chủng sinh còn lại của các tỉnh gửi, phải nhờ đến giáo phận Xuân Lộc gánh vác dùm.
Tuy nhiên, hàng giáo phẩm lo lắm về phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn của các thầy. Nhiều thầy nay đã vào học tới đại học mà viết một câu tiếng Việt chưa rành. Không có ý trách các thầy đâu. Ông Giáo sư Hoàng Tụy, du học Nga từ 1951 mới than rằng: 2, 3 chục ngàn tiến sĩ của ta đào tạo ở Liên Xô chỉ là tiến sĩ giấy, rởm, dốt nát mà tưởng mình giỏi.
Đã thế phẩm chất đạo đức tối thiểu nhiều thầy cũng không có. Do sống ngoài đời cả hai chục năm cũng tập nhiễm thói ăn gian, nói dối, chửi thề. Vì cả xã hội đã như thế rồi.
Cho nên, hàng giáo phẩm đề nghị năm thứ nhất là năm tu đức chỉ có mục đích là “tẩy rửa cho sạch bụi đời”. Phải bỏ thói quen ở ngoài đời, phải bỏ thói ăn gian nói dối.
* Nếu không tẩy rửa sạch được thì tương lai vị linh mục sẽ ra sao?
* Các thầy không bỏ được thì uy tín linh mục còn gì?
* Tác hại sẽ đi đến đâu?
Các thầy phải có can đảm dứt khoát. Không tu được thì rũ áo đi ra. Đừng ngồi lỳ trong đó để gây tiếng xấu cho giáo hội. Thà ít mà tốt, thà ít mà đạo hạnh. Thà không có còn hơn.
Việc đầu tiên là các thầy tối thiểu phải là một người công dân tốt, bình thường. Việc tu đức nói sau. Chúng tôi mong như vậy.
Cái thử thách lớn nhất trong đời sống tu trì hiện nay là lòng can đảm. Điều mà giáo huấn của Jean Paul 2 để lại vỏn vẹn có vài chữ: “N’ayez pas peur” , Các con đừng sợ. Muốn đừng sợ thì phải chụm vào nhau, đừng xé lẻ. Trong ca đoàn của các thầy khi hát còn luộm thuộm lắm, hát loạc choạc, hát không đều, có một vài giọng ca phía phải ca đoàn muốn hát trổi lên một mình. Thế là không được. Các thầy phải hát làm sao như cùng một lòng, cùng một ý nguyện, cùng một tâm tình như một tiếng nói, một tấm lòng.
Hát như thế là một cách thức dẫn nhau vào chỗ sa đà, yếu đuối, mạnh ai người đó sống. Không chấp nhận được đâu. Đời sống giáo hội, sinh mệnh giáo hội cũng không khác chi mấy một ca đoàn đâu. Tôi rất tiếc bài hát Kiriéison, hát không tới.
Đừng sợ đòi hỏi đủ thứ can đảm: can đảm không nhìn nhận, can đảm đòi hỏi, can đảm không yếu hèn, can đảm khi cần lên tiếng, can đảm biết chối từ. Ngay cả những vị ngồi trên kia, trước mặt các thầy, không phải ai ai cũng có can đảm, đồng tâm hiệp lòng, cùng một khối đâu.
Lòng can đảm chỉ có thể trở thành sức mạnh khi cùng hiệp nhất, cùng một đường lối, cùng một ý chí.
Thủ tục tấn phong Giám Mục
Trong thủ tục tấn phong, tôi thấy rõ hình như ban tổ chức muốn minh xác một điều gì. Chẳng hạn nêu rõ chính Hồng Y Phạm Minh Mẫn yêu cầu tòa thánh bổ nhiệm linh mục Nguyễn Văn Khảm. Trong sắc tấn phong, Vatican cũng rành mạch điều đó. Sắc phong ký ngày 15/10/2008, tại RôMa, do Giáo Hoàng Benedictô ấn ký. 15/11, có buổi lễ tấn phong. Thế là nhanh lắm, nhanh lắm đến ngạc nhiên. Không hiểu có cái gật đầu của Huỳnh Công Minh trước khi gửi đơn sang Vatican không?
Nhớ lại năm 1993, TGM Nguyễn Văn Bình lâm trọng bệnh, theo lời yêu cầu của chủ tịch HĐGM đã cử giám mục Huỳnh Văn Nghi, làm giám mục tông tòa tại giáo phận thành phố Hồ Chí Minh.
(Giám mục Tông Tòa chỉ có tính cách tạm thời chờ được bổ nhiệm chính thức hay chờ được có người thay thế. Đây là giải pháp thực tiễn để được chính quyền thông qua. Cái dở là giải pháp tạm thời đôi khi kéo dài đến 6 năm ở Huế, ba năm ở Hà Nội, còn ở thành phố Hồ Chí Minh thì kéo dài không biết đến bao giờ, sau khi chính quyền cộng sản bắt giam Đức Cha Thuận)e
Không có sự ưng thuận của chính quyền. Việc bổ nhiệm cù cưa đến không thành. Nói lại việc này thì có cả một đống hồ sơ với thư từ trao đổi qua lại giữa hai bên. Hễ cứ giám mục nào lên tiếng đòi hỏi thì bị nhà nước nghi ngờ, cho là thuộc thành phần phản kháng.
Năm 2001, Giám mục Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch Hội đồng giám mục cũng lên tiếng đòi hỏi tương tự, đòi hỏi chính đáng như:
* Được quyền tuyển sinh và đào tạo.
* Được có cơ sở vật chất như trường học, nhà thờ.
* Được xủ dụng tài liệu giáo dục bằng ngọai ngữ.
Chỉ có bấy nhiêu cũng không cho. Việc dễ như trở bàn tay thành khó khăn khôn tả.
Chính giám mục Hòa sau đó trở thành nạn nhân, vì nhà nước không chấp nhận việc đề cử giám mục Nguyễn Văn Hòa làm giám mục ở Hà Nội.
Tôi chỉ tin việc đề cử này là minh bạch, “Không đi đêm” giữa Huỳnh Công Minh và Hồng Y Phạm Minh Mẫn chừng nào Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, theo lẽ đương nhiên sẽ được đề cử làm Hồng Y thay thế Hồng Y Phạm Đình Tụng ở Hà Nội. Tôi chỉ còn biết chờ xem. Tôi xin minh xác, việc tiến phong linh mục Nguyễn Văn Khảm làm giám mục là điều chính đáng và tốt đẹp với điều kiện về thủ tục không cần sự ưng chuẩn của chính quyền qua trung gian Huỳnh Công Minh.
Việc Tổng Giám Mục Kiệt sẽ giữ chức vụ Hồng Y hay không là một bài toán, một test, một thách đố thiện chí của chính quyền cộng sản.
Ngoài kia, Hồng Y Phạm Đình Tụng đã tạ thế. Chấm dứt một thế hệ những Trịnh Như Khuê, Nguyễn Kim Điền. Đó là thế hệ của những hệ lụy, căng thẳng giữa giáo hội và chính quyền.
* Nhưng đến bao giờ đến lượt Huỳnh Công Minh tạ thế?
* Hay ít ra ông xin nghỉ hưu?
* Việc ông nghĩ hưu sẽ chấm dứt một thời kỳ can thiệp, xâm nhập bạo liệt của chính quyền cộng sản trong tổ chức Giáo Hội từ sau 1975 đến bây giờ chỉ có ở thành phố Hồ Chí Minh?
Sau Huỳnh Công Minh, hy vọng sẽ không bao giờ có một Huỳnh Công Minh thứ hai nữa. Ngay cho dù Huỳnh Công Minh làm những điều tốt đi nữa thì nó vẫn là một cơ chế thiếu lành mạnh.
Trong diễn từ cám ơn của Huỳnh Công Minh, đại diện cho tổng địa phận Sài Gòn cám ơn quan khách, mặc dầu ông ta xử dụng thứ ngôn ngữ rất khiêm cung, “rất nhà đạo...” nhưng cũng để lộ ra đôi điều đáng nói ở đây. Ngoài việc mong muốn vị giám mục mới lãnh nhận vai trò làm tôi tớ, phục vụ người khác, Huỳnh Công Minh đã phát biểu xin được trích dẫn nguyên văn như sau:
Làm giám mục thì không dễ dàng gì trong bầu khí xã hội Việt Nam hiện nay"
và Huỳnh Công Minh nhấn mạnh thêm: "Đặc biệt trong bầu khí của Thành phố Hồ Chí Minh."
Tại sao không dễ dàng?
Không biết đây là những lời nhắn nhủ tự đáy lòng hay là những lời đe dọa?
TRÍ THỨC VÀ DÂN CHỦ
Nguyễn Phương Anh
Từ xa xưa, câu chuyện về hèn nhát đặc sắc nhất mà cả nhân loại đều biết. Đó là câu chuyện "Ông Vua cởi truồng". Tuyệt đại đa số quan chức triều đình đến những người dân lớn tuổi đều trầm trồ khen ngợi sự hèn nhát của mình. Sau cùng, một cậu bé đã phá tan luồng suy nghĩ đó. Cậu khẳng định là ông vua cởi truồng. Nếu là ở VN, chắc hẳn mọi người sẽ nâng cậu bé đó thành anh hùng. Nhưng đâu phải vậy. Cậu bé đó chỉ nói lên đúng suy nghĩ của mình, thứ suy nghĩ chưa hề nhuộm màu tư lợi. Cậu bé đó không phải là người anh hùng. Trong vô vàn các cậu bé đi theo đám rước thì cậu chỉ là người phát ngôn theo đúng lứa tuổi. Đó cũng không phải nỗ lực hay tiềm ẩn gì trong con người cậu bé..
Trở lại Việt nam ngày nay. Những người đấu tranh dân chủ đã và đang lên tiếng trước thực trạng xã hội không theo tiêu chuẩn của nhân loại tiến bộ. Họ, đa phần cũng chỉ mới phát ngôn theo đúng cách suy nghĩ cần phải có. Cách đấu tranh dựa trên lương tâm như vậy cũng không là gì đối với chế độ độc tài. Trong số những người đấu tranh đó, họ nghĩ họ là dũng cảm. Không hoàn toàn như vậy. Nói ra sự thật đâu phải là dũng cảm, mà mới chỉ chứng minh tôi đang nói đúng quyền của tôi. Có nhiều điều đã chứng minh sự dũng cảm còn thiếu như : sự dũng cảm khi bị an ninh đàn áp mạnh, khi khai báo trong khi bị bắt vào tù, sự dũng cảm còn lại sau khi ra tù.
Có những người đấu tranh dân chủ có uy tín chê trí thức là một lũ hèn nhát. Nhưng họ đâu biết trong phong trào dân chủ hiện nay đã đa phần là trí thức. Từ ngày xưa đã có sự phân công : sĩ, công, nông, thương, binh. Tất nhiên sự phân công chưa hoàn hảo, nhưng phần nào đã nói lên sự chuyên môn hoá trong cuộc sống. Ai đó đã bắt trí thức phải đi đầu và "lãnh đạn" như những người lính tiên phong? Và nếu trí thức không đi đầu thì bị quy là hèn nhát. Vậy, cái logic trong sự phân công xã hội để ở đâu.
Đừng suy nghĩ theo kiểu Mao " rí thức không bằng cục phân" hay là" trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Chính vì suy nghĩ như vậy mà hàng loạt chế độ cộng sản đã sụp đổ. Hiện nay đâu còn nhiều chế độ cộng sản. Kể cả Việt nam cũng đâu còn cộng sản theo đúng nghĩa. Nếu vẫn coi trách nhiệm chính trong công cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản phải là trí thức thì đó là chọn nhầm đối tượng. Chọn xong, lại nói họ hèn nhát thì lại càng chứng minh tính hàm hồ, ấu trĩ của người đã chọn. Câu nói đó còn tệ hơn câu nói của Mao. Trách nhiệm chính ở đây là nằm trên vai các nhân tố tiến bộ đang nằm trong các tổ chức đấu tranh và chính cả tập thể các tổ chức đó. Trí thức, như ngày xưa, là những người mà nhân dân đã nói " Hiền tài là nguyên khí quốc gia". Họ phải được "cởi trói", được tự do suy nghĩ, cống hiến, làm giàu...Ngay cả khi "kháng chiến chống Mỹ" thì toàn bộ lực lượng sinh viên miền bắc không bị bắt lính. Chỉ đến khi cao trào thiếu quân cho chiến trường thì mới phải động viên. Cũng trong lúc đó, hàng trăm ngàn sinh viên đã được gửi đi đào tạo ở các khối "XHCN". Tất nhiên, phần con cháu lãnh đạo trốn lính, trốn chiến tranh cũng có, nhưng không phải đa số. Đó cũng chính là sự tôn trọng trí thức, tôn trọng hiền tài và tạo vốn nhân tài cho công cuộc phát triển xã hội. Tuy nhiên, sau khi dược đào tạo, lớp trí thức đó đã không có cơ hội để chứng minh toàn bộ năng lực của họ cũng như họ đã được đào tạo không theo khả năng, nhu cầu của họ. Chế độ mà họ phải sống cũng đã dần dần đưa họ vào lối rèn người "hồng hơn chuyên" và do vậy chế độ đã không phát huy được tri thức của họ. Hậu quả là ngày nay nước Việt Nam ta vẫn đang là những nước tụt hậu về mọi mặt. Những lớp trí thức sau từ 6x, 7x, 8x...đến nay cũng vẫn chịu sự áp đặt và lối đào tạo ép buộc không theo tư tưởng tự do, tiến bộ về quan niệm xã hội, chính trị và do vậy tư tưởng hẹp hòi vẫn còn tồn tại. Sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, văn hoá... tuy được nâng cao chút ít nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của sự hội nhập với thế giới.
Vậy, phong trào dân chủ có nên làm một việc sai lầm nữa là biến tất cả những trí thức thành người lính xung kích ?. Biến sở đoản của họ mà không đào tạo, trau dồi để trở thành sở trường và sở trường của họ thành hàng lưu kho ?. Từ nền tảng là những người trí thức mà yêu cầu ngay tham dự phong trào với bao hiểm nguy, đàn áp...là không tưởng, và cũng đâu có dễ có một môi trường để đào tạo mà không bị phá hoại bởi độc tài cộng sản. Lòng dũng cảm của những người đấu tranh dân chủ đâu phải là tất cả. Tính tổ chức kỷ luật và nguyên tắc hành động hợp lòng dân nói rộng, hay trí thức nói hẹp mới là điểm nhấn về khả năng của từng chiến sĩ dân chủ, từng tổ chức dân chủ. Nếu có thể thì đồng loạt các chiến sĩ dân chủ, các tổ chức hãy kêu gọi trí thức bất hợp tác với chính quyền độc tài để làm lợi cho độc tài chứ đừng kêu gọi họ duy nhất thành người lính xung kích. Một cách khác để coi thường quần chúng nhân dân cũng có thể là bắt trí thức là những người hiểu biết nhất về xã hội. Đôi khi trí thức chưa hẳn đã quan tâm đến các vấn đề xã hội hay chế độ nhiều như những người dân khác. Ông Anhxtanh cũng là một đại trí thức. Ông đã rời bỏ Đức quốc xã để đến Mỹ làm nốt công việc chế tạo bom nguyên tử và rao giảng các nguyên lý vật lý vũ trụ. Ông cũng có tránh khỏi hậu quả của hai quả bom nguyên tử thả xuống Hirosima và Nagasaki đè nặng lên lương tâm, thể xác của ông đâu. Ông cũng đã hối hận rất nhiều trong đời nghĩ lại về việc này. Trí thức , họ giỏi trong chuyên môn của họ và nếu khêu gợi tốt để họ mở lòng cho những việc khác thì mới là dụng nhân như dụng mộc.
Nếu cứ kêu gọi họ đối đầu theo cách họ chưa được đào tạo thì lại làm cho độc tài vốn sẵn có thế thượng phong vô hiệu hoá được họ và nhờ đó chúng dằn mặt được người khác, nhờ đó chúng tiêu được nhiều tiền ngân sách trên tấm lưng còng khốn khổ của người dân. Trí thức là người am hiểu xã hội và tốt đẹp biết bao khi trong số đó họ lại có những người có thêm phẩm chất của người lính tiên phong trong công cuộc cải cách xã hội. Nhưng đâu phải bất cứ ai cũng ôm đồm được nhiều việc. Ai cũng là Nhân tài đất Việt. Từ xa xưa không ai chê những người treo ấn từ quan. Cũng không ai chê những trí thức trong chế độ cũ ra đóng góp cho chế độ mới khi họ được tôn trọng, họ có khoảng trời để vẫy vùng và hệ thống chính trị mới tôn trọng tri thức của họ. Nếu tất cả trí thức đều trở nên những người lính đi đầu, họ sẽ phải gác lại chuyên môn chính và trong môi trường mới khi thành công họ lại phải mài giũa lại những tri thức thuở xưa, phần thời gian gián đoạn sẽ là kẻ thù đối với lối tư duy vẫn đang theo một hướng suy nghĩ. Liệu những công trình dang dở để dành lại chưa hoàn thiện khi "chiến đấu" sẽ trở nên hoàn thiện hơn sau nhiều thời gian cách ly, suy nghĩ bị bào mòn bởi thời gian.
Trí thức có thể hẹp bụng khi ta đòi hỏi họ phải vừa giỏi chuyên môn vừa đứng đầu sóng ngọn gió cho cuộc cánh mạng dân chủ vì quyền lợi của mọi người. Nhưng hoàn toàn họ không hèn nhát. Họ có thể trau dồi tri thức để một mai làm động lực cho đất nước dân chủ. Họ có hàng trăm ngàn con đường ủng hộ phong trào dân chủ như lôi kéo quần chúng khi có cơ hội, như dùng tài chính ủng hộ, như bao bọc giúp đỡ những chiến sĩ dân chủ. Hãy để họ tự lựa chọn cách thức giúp đỡ tốt nhất mà họ có thể. Đã có ai kêu gọi họi đóng góp tinh thần, công sức hay tài chính...vv...vv tuỳ theo sức của họ hay chỉ muốn áp đặt họ phải giống như mình- những chiến sĩ dân chủ. Đã chắc rằng ngay sau khi thành công thì các chiến sĩ dân chủ sẽ hoàn toàn là những nhà trí thức, đầy đủ khả năng quản trị xã hội ?.Những người đấu tranh dân chủ nên hoàn thiện mình, học hỏi hàng ngày hàng giờ để ít nhất có thể tham gia vào guồng máy quản trị xã hội ở một công việc nhất định. Có một số chiến sĩ đấu tranh chỉ mong muốn khi thành công sẽ không tham gia quản trị xã hội. Đó là tư tưởng tự ti, chưa dám đương đầu với cả một cuộc cách mạng khác tiếp diễn một cách logic-cuộc cách mạng hoàn thiện mình và chứng minh mình luôn và sẽ luôn là những hạt nhân tốt cho tương lai. Đâu phải ai cũng là bác sĩ, kỹ sư... nhưng đâu phải ai cũng làm được những công tác quần chúng, làm dân biểu đại diện cho quyền lực cũng như đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân tốt như những chiến sĩ dân chủ đã cọ xát và được nhiều người tín nhiệm.
Hãy yêu cầu và khêu dậy lòng tự trọng của trí thức để họ đừng làm những việc có lợi cho độc tài, làm kéo dài sự tồn tại của độc tài. Việc này đoan chắc rằng thâm tâm họ đã nghĩ vậy và chỉ cần sự đồng thuận của phong trào thì họ sẽ làm tốt hơn bao giờ hết. Trí thức không hèn nhát. Chỉ có phong trào dân chủ chưa tìm được cách để họ hoà đồng theo khả năng của họ.
Giã Từ Thị Trường
Nguyễn Xuân Nghĩa
Khi cậu bé quàng khăn đỏ thổi sáo...
Tổng thống Barack Obama không gây thất vọng cho những ai mơ chuyện hoảng.
Để tiến hành cách mạng, ông tiên tục báo động nước Mỹ về nguy cơ khủng hoảng nếu không áp dụng các chương trình cải tổ xã hội của ông. Nhờ thuật hùng biện ông thành công mỹ mãn vì đã gây hốt hoảng trong thị trường khi thiên hạ hiểu ra nội dung các chương trình ấy. Hôm Thứ Hai, chỉ số Kỹ nghệ Dow Jones đã tuột dưới điểm tâm lý là 7.000, mất 300 điểm trong nội một ngày, và trở về trị giá của tháng Năm năm 1997. Chỉ số S&P thì đụng đáy của năm 1996.
Bao nhiêu tiền lời trong giai đoạn thị trường được giá từ 2002 đến 2007 đã tiêu vong. Tài sản thu lượm được thời cổ phiếu dot-com lên giá từ gần hai chục năm trước nay đã mất một tảng lớn. Báo chí loan tin là từ đỉnh cao của tháng 10 năm 2007, thị trường chứng khoán Mỹ đã mất nửa giá, 50%, chỉ thua mức thất thoát 89,2% trong thời Tổng khủng hoảng 1929-1933.
Nhìn cách khác, như cậu bé quàng khăn đỏ, Obama đã nhuộm đỏ thị trường và gieo thêm hoạn nạn cho kinh tế.
Đã đến lúc nhiều người ân hận vì lá phiếu ngày bốn tháng 11 năm ngoái.
***
Xin hãy kiểm điểm lại...
Từ khi Barack Obama tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20 tháng Giêng, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã mất giá nặng. Nếu lấy chỉ số Willshire 5000 - có giá trị tiêu biểu hơn chỉ số S&P 500 chỉ có 500 doanh nghiệp, hay chỉ số Kỹ nghệ Dow Jones quen biết, gồm ba chục đại gia kinh doanh - thì cổ phiếu Mỹ đã sụt giá 30%.
Diễn giải cho dễ hiểu: giới đầu tư vừa mất ba ngàn tỷ đô la sau khi được một ông Tổng thống vĩ đại. Mà giới đầu tư ấy không chỉ là tài phiệt ở Wall Street hay tỷ phú ở trong các ngôi nhà chục triệu.
Hơn phân nửa dân Mỹ - 100 triệu người ở tuổi trưởng thành - là thành phần có tiền đầu tư. Các trương mục hưu liễm loại 401(k), các quỹ hỗ tư mutual funds, hay các chương trình tín dụng cho sinh viên cũng được đầu tư để sinh lời hầu trả tiền cho thân chủ - kể cả người sẽ về hưu sau này. Bây giờ, những thành phần ấy vừa mất ba ngàn tỷ đô la trong bốn tháng.
Khi nói thị trường sụt giá tới mức thấp nhất kể từ 1997 thì điều ấy cũng có nghĩa là công lao chắt bóp để đầu tư của nhiều người trong gần 12 năm qua đã thành công cốc. Khi bị mất vốn như vậy, thì việc đầu tư và chi tiêu của mọi người tất nhiên càng giảm và sinh hoạt kinh tế càng co cụm. Cho nên không chỉ có một thiểu số tài phiệt mà mọi người bình thường khác đều bị ảnh hưởng trong vụ đỏ sàn cổ phiếu.
Đấy là "hiệu ứng Obama" làm giới đầu tư bỏ chạy.
***
Trước khi hiểu ra hiệu ứng đó thì hãy trở về ngày nhậm chức của ông, 20 tháng Giêng.
Có người cho rằng Obama đã khôn ngoan chọn ngày 20 tháng Giêng để nhậm chức! Khôn ngoan vì đấy là một ngày sau lễ tưởng niệm mục sư Martin Luther King Jr. Nhậm chức vào ngày đó là một nhắc nhở tuyệt vời về một bậc vĩ nhân da đen đã bị ám sát vào năm 1968.
Lý luận ấy sai lạc ít nhất ở hai khía cạnh!
Thứ nhất là chuyện xưa: Mùng hai tháng Giêng năm 1983, tại Vườn Hồng của toà Bạch Cung, Tổng thống Ronald Reagan long trọng ban hành đạo luật vinh danh Mục sư King bằng một ngày nghỉ lễ của toàn quốc. Lần đầu tiên nước Mỹ tổ chức lễ vinh danh là hôm 20 tháng Giêng năm 1986, đó là "Martin Luther King, Jr. Day." Sau đấy, năm 1992, Tổng thống George H. Bush (ông Bush cha) mới quyết định chọn ngày Thứ Hai thứ ba (third Monday) của tháng Giêng hàng năm là ngày Martin Luther King, gần với sinh nhật của vị mục sư là 15 tháng Giêng.
Từ đấy, ta mới thấy tất cả 50 tiểu bang Hoa Kỳ cùng vinh danh Martin Luther King lần đầu tiên vào ngày 17 tháng Giêng, năm 2000. Ngày Thứ Hai thứ ba của tháng Giêng. Nói lại cho gọn và rõ: ngày ông Obama nhậm chức là 20 tháng Giêng ngẫu nhiên gần với ngày Martin Luther King.
Mà Obama không phải là người "chọn" ngày đó!
Đây là khía cạnh thứ hai.
***
Hiến pháp Hoa Kỳ có Tu chính án 20, được phê chuẩn ngày 23 tháng Giêng năm 1933, để ấn định chi tiết về thời hạn nhậm chức của các viên chức liên bang từ Tổng thống trở xuống.
Trong khoản 1, Tu chính án ghi rõ: "nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt vào (12 giờ) trưa ngày thứ 20 của tháng Giêng và nhiệm kỳ của các Nghị sĩ và Dân biểu chấm dứt vào trưa (noon) ngày thứ ba của Tháng Giêng (3rd day of January) và nhiệm kỳ của những người kế nhiệm bắt đầu từ lúc đó."
Chi tiết sơ đẳng ấy cho thấy Barack Obama chỉ có thể tuyên thệ vào ngày 20 tháng Giêng năm nay - và thực tế còn trễ mươi phút sau hạn kỳ 12 giờ trưa! Bảo rằng Obama có thể chọn ngày này là mắc "hội chứng Obamê". Bị Obama mê hoặc - Obamania.
Nếu tưởng Obama có thể đi được trên nước và chọn cả ngày nhậm chức của mình thì cũng đừng quên rằng ngày ấy là một biến cố trọng đại bốn năm mới có một lần và liên hệ đến tất cả guồng máy công quyền của Mỹ trên toàn cầu lẫn hệ thống an ninh tại thủ đô. Mới đắc cử hôm mùng bốn tháng 11 thì làm sao Obama có thể quyết định thời điểm tuyên thệ vào hai tháng sau để gợi nhớ đến mục sư King? Mà nếu chọn được thì sao Obama không chọn đúng ngày Martin Luther King... cho đẹp?
Vì Hiến pháp và luật lệ Hoa Kỳ không quy định sự hoảng tiều ấy. Một triệu chứng của "hội chứng Obamê" là bệnh tôn sùng lãnh tụ.
***
Bây giờ sang chuyện Wall Street và Main Street.
Wall Street là khu vực kinh doanh tài chánh nằm tại thành phố New York và trở thành biểu tượng của thế lực tư bản Mỹ. Nhưng, ra khỏi trung tâm ấy, Hoa Kỳ còn có cả triệu thị trấn hay tỉnh lẻ có một con đường gọi là Main street, con đường chính từ khi thành phố này thành hình vào một thuở xa xưa.
Trong nền văn hoá phổ thông của Hoa Kỳ, Main Street trở thành tiêu biểu cho đời sống thường nhật của quần chúng, hoặc những giá trị truyền thống của nước Mỹ thâm sâu, ngược với Wall Street là tiêu biểu của tài phiệt hay các tổ hợp tài chánh.
Nửa thế kỷ trước, đảng Cộng Hoà còn phân biệt Wall Street là của thành phần phóng túng về xã hội (social liberal) khác với Main Street là thành phần sùng chuộng kỷ cương truyền thống.
Trong cuộc tranh cử Tổng thống vừa qua, các tỷ phú và đại tổ hợp của Wall Street đã ủng hộ quỹ tranh cử của Nghị sĩ Obama nhiều gấp bội so với Nghị sĩ John McCain. Ngược lại, McCain chỉ còn trông mong vào thành phần cổ cầy vai bừa hay tiểu doanh nhà quê tại Main Street. Cho nên, lý luận rằng đảng Cộng Hoà của tài phiệt và đảng Dân Chủ là của dân nghèo là lý luận của cảm quan, mà thiếu cơ sở.
Và viết rằng Wall Street cùng Main Street là biểu tượng của tư bản, của Thị trường Tài chánh và Ngân hàng, là gây lầm lạc cho người đọc.
Sở dĩ phải nhắc lại thói quen đã thành bình thường của xã hội Mỹ vì hội chứng Obamê khiến có người hiểu sai và viết bậy mà cho rằng Wall Street và Main Street là biểu tuợng của tư bản Mỹ. Khác nhau rất xa. Không biết được chuyện tối thiểu đó thì chỉ góp phần lây bệnh Obamê.
Bây giờ, nếu tài phiệt tại Wall Street tính sai vì bất cẩn hoặc làm ẩu vì bất lương thì thường dân tại Main Street lãnh nạn - là chuyện đang xảy ra. Những người đang sinh sống tại Main Street trong Quận Cam hay các nơi khác trên nước Mỹ nên thấy ra điều ấy.
Nhưng cũng cần nhìn ra giấc mơ màu hồng của Obama đang làm thị trường ứa máu đỏ lòm.
***
Barack Obama có thuật hùng biện hơn người.
Winston Churchill cũng vậy và nhờ đó góp phần cứu nguy nước Anh. Adolf Hitler cũng thế, nhưng vì đó mà khiến cho một dân tộc văn minh như dân Đức cúi đầu làm nô lệ, hoặc ngửng đầu làm kẻ sát nhân, rồi gây thảm họa cho xứ sở. Vì vậy, hãy dè dặt với lời hùng biện mà nhìn vào thực tế.
Lời nói không mất tiền mua, ai chẳng biết vậy, nhưng khi bị bán cho những lời nói giả dối thì chúng ta mặc nhiên bị lừa. Con cháu mình sẽ trả giá sau này.
Một thí dụ: được các nghiệp đoàn ủng hộ rất mạnh, Barack Obama trả công bằng một điều luật gia tăng quyền hạn của nghiệp đoàn trên các công nhân.
Thông thường, trong mọi cuộc bỏ phiếu, quyền tự do của mọi người được đảm bảo qua thể thức bỏ phiếu kín để khỏi bị trừng phạt. Các nghiệp đoàn chống lại việc đó vì muốn kiểm soát được lá phiếu của công nhân trong doanh nghiệp. Điều luật cho phép họ kiểm soát được chuyện ấy đã có cái tên mỹ miều phải đạo là "Điều luật Tự do Chọn lựa của Nhân viên" - Employees' Freedom of Choice".
Có ai dám chống lại "quyền tự do chọn lựa" của người khác chăng?
Ngôn từ đã ngụy trang ý đồ hạn chế quyền tự do gia nhập nghiệp đoàn - hay không - của các công nhân và hỗ trợ các nghiệp đoàn đã tung bạc triệu vào cuộc tranh cử, bên đảng Dân Chủ. Trong cái trớn cứu nguy kinh tế, Chính quyền Obama gài điều luật ấy để trả nợ các nghiệp đoàn. Một sự cấu kết đáng ngờ đằng sau một khẩu hiệu rất đẹp.
Một thí dụ khác: khi đưa ra dự luật bổ túc ngân sách, với khoản tăng chi khổng lồ, đầy những mục "earmark" - trực chi cho các dự án nhất định mà khỏi quan tâm đến nguồn thu - và gây bội chi ngân sách đến mức kỷ lục, Chính quyền Obama dõng dạc in trên trang bìa của dự luật một tựa đề rất sáng: "Một Kỷ nguyên mới về Trách nhiệm" - A New Era of Responsibility.
Đây là một chính quyền có trách nhiệm!
Ngôn ngữ đã ngụy trang ý đồ trưng thu hay tái phân lợi tức mà nhiều người dân không biết. Và càng không nhớ là khi tranh cử, Obama quyết liệt hứa hẹn là sẽ không chấp nhận một khoản trực chi earmark nào vì đấy chỉ là thể thức lấy tiền đóng thuế của dân để mua phiếu cho mình.
Muốn thể hiện quyền tự do đích thực, chúng ta phải có khả năng vượt qua sự hào nhoáng của ngôn ngữ để nhìn vào thực tế. Nếu không thì mình bị móc túi giữa ban ngày, bằng luật pháp của các chính khách hùng biện.
Bây giờ, hãy nói về "hiệu ứng Obama"
***
Kinh tế Hoa Kỳ đang bị suy trầm, khởi sự từ tháng 12 năm 2007, và hệ thống tài chánh ngân hàng bị khủng hoảng từ tháng Chín năm ngoái. Khi kinh tế sa sút và sản xuất bị suy sụp, thất nghiệp tăng vọt, ưu tiên của lãnh đạo, bên Hành pháp lẫn Lập pháp, sẽ phải là gì? Là cứu nguy kinh tế để đạt mức tăng trưởng cao hơn và thu dụng nhiều công nhân hơn.
Ưu tiên ấy có nghĩa là phải giải tỏa những chướng ngại cho sản xuất và khai thông ách tắc tài chánh để sinh hoạt kinh tế trở lại bình thường.
Chính quyền Obama đã nêu ra một số đường hướng cải cách tài chánh, qua lời thông báo của Tổng trưởng Ngân khố Timothy Geithner vào tháng trước. Ông Geithner vừa trình bày thì cổ phiếu rớt như cục gạch, nặng nhất là của ngân hàng và doanh nghiệp tài chánh. Lý do là thị trường không hiểu Chính quyền Obama muốn làm gì qua những thông báo quá sơ sài đó.
Từ ngày ấy đến nay, Tổng trưởng Geithner đã ôm một bình ga lặn rất sâu. Không ai thấy hay biết là Chính quyền sẽ làm gì để giải trừ ách tắc tín dụng và khủng hoảng tài chánh. Cổ phiếu ngân hàng cứ thế tuột dốc và chuyện cứu nguy kinh tế trở thành mơ hồ... Ngày hôm qua, Thứ Ba, mới lại thấy ông Geithner ra điều trần về ngân sách trước Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện để nói rằng việc cấp cứu ngân hàng có khi sẽ tốn hơn 700 tỷ đã tự trù! Sau một ngày sụt giá, thị trường vừa thoi thóp ngóc đầu thì đã lại tuột giá vào cuối ngày!
Thật ra, chưa thấy hy vọng gì trên lãnh vực tài chánh ngân hàng thì thị trường đã tuyệt vọng với kế hoạch kích thích kinh tế của Obama.
Chuyện cứu nguy kinh tế qua đạo luật kịch thích trị giá 787 tỷ đô la đã được Obama cổ võ rất mạnh bằng một vòng vận động tranh cử đầy khẩu hiệu hùng biện. Ngẫu nhiên sao, ông đi vận động ở những tiểu bang chiến lược cho việc tái tranh cử năm 2012!
Khi được nhìn vào đạo luật H.R. 1 có cái tên cũng rất hùng biện là "Đầu tư và Hồi phục" được ban hành vào ngày 17 tháng Giêng, người ta mới chưng hửng. Ưu tiên không phải là giải trừ ách tắc để kích thích sản xuất mà là tái phân lợi tức và cải tạo xã hội. Hãy nghĩ đến một hình ảnh này cho dễ hiểu: cỗ xe kinh tế đang ì ạch leo dốc, thay vì đẩy xe qua dốc để lấy trớn tăng trưởng, Chính quyền leo lên đầu máy rút bớt nguyên liệu xuống để ban phát cho thành phần cử tri của mình.
Giữa hai ưu tiên là kinh tế và xã hội, Obama nhìn qua xã hội - và cuộc tái tranh cử của mình.
Ông tỉnh bơ thi hành việc đó bằng lý luận mị dân. Bọn nhà giầu có trách nhiệm san xẻ lợi tức với những người cùng khốn, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay. Nghe vậy, chỉ có những kẻ tham lam và bất lương mới phản đối, và những người lý tưởng thì phải vỗ tay cổ võ, hoặc viết lời ngợi ca.
"Bọn nhà giàu" đó là các hộ gia đình có lợi tức đồng niên từ 250 ngàn đô la trở lên. Trong số này, rất nhiều người là giới đầu tư cò con vừa bị cháy túi trong vụ sụt giá cổ phiếu. Và rất nhiều người khác là chủ đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ, thành phần có khả năng tuyển dụng nhân công cao nhất, hơn hẳn các đại tổ hợp ở Wall Street.
Xin hãy nhìn lại lần nữa: những người đầu tư - đầu máy sản xuất - vừa bị thiệt hại nặng và hết dám bung ra làm ăn nên làm cho kinh tế đang suy trầm càng thêm sa sút. Họa vô đơn chí: họ lại là bọn nhà giàu đáng ghét, cho nên qua tài khoá tới sẽ phải trả thuế cao hơn để san xẻ của cải cho dân nghèo. Chẳng những thuế suất biên tế (marginal tax rate) sẽ tăng, mà do các khoản tăng chi vừa được ban hành, hiệu ứng tổng hợp của chương trình cải tạo xã hội sẽ nâng phần đóng góp của bọn tư bản xấu xa ấy từ 20 đến 50%.
Nhân đây, phải nhắc tới một vài huyền thoại về thuế.
Vào năm 1980, trước khi Ronald Reagan giảm thuế suất để kích thích sản xuất thì 1% giàu nhất nước Mỹ trả chừng 19% tổng số nguồn thuế lợi tức liên bang. Sau biện pháp cắt thuế ấy - bị đả kích là để nâng đỡ "nhà giàu" - phần đóng góp của 1% ấy lên tới 27,6%: một phần trăm dân số giàu nhất đã trang trải hơn 27% tổng số thuế lợi tức cho chính quyền liên bang.
Sau khi George W. Bush cắt thuế năm 2001 rồi 2003 - "cũng để nâng đỡ bọn tài phiệt giàu có" theo lý luận Obamê - thì phần đóng góp của 1% đáng ghét nhất đã lên tới gần 40%! Thuế lợi tức được hạ đã có mức lũy tiến cao hơn, tức là trực thu của những người có tiền theo tỷ lệ nặng hơn.
Ngày nay, trong tổng số chừng 140 triệu người trả thuế, thành phần có lợi tức trên 250.000 ở khoảng bốn triệu và trả 60% tổng số thu về thuế khoá cho ngân sách. Vài phần trăm dân số đã trả 60% tiền thuế cho nhà nước mà coi bộ chưa đủ! Những sự thật tối thiểu ấy đã không được ai nhắc tới và đa số cứ cả tin rằng người giàu phải cáng đáng gánh nặng xã hội nhiều hơn và tăng thuế của họ là điều hợp lý.
Thành phần tội lỗi này bèn suy luận cũng rất hợp lý: Dại gì đi cầy và lãnh rủi ro phá sản trong lúc bất trắc này? Mà nếu có thoát năm nay thì qua năm tới sẽ lại trả thuế nặng hơn! Vì vậy, mọi người đều co tay lại, rút tiền khỏi thị trường để thủ thân và chờ ngày bị gọt đầu vì lỡ có tóc nhiều hơn người khác.
Con gà đẻ trứng vàng vừa uống thuốc ngừa thai - và tất nhiên không được bảo hiểm y tế đài thọ như nhiều thành phần cử tri khác! Tư bản đang giã từ thị trường để nhường đất chơi cho những người hào hiệp, theo điệu sáo vi vu của cậu bé quàng khăn đỏ.
BÁC HỒ THANH MINH
Kỵ Binh
Cháu Cu Tèo,
Tình trạng trốn chui trốn nhủi của Bác hiện nay mang tính khẩn trương hơn. Lực lượng truy lùng Bác vừa được tăng cường thêm đám đồng chí đầu gấu hôm nọ giật gấu quần níu tay áo,hành hung mấy bà già trầu giáo dân Thái Hà, và ăn nói nhố nhăng xàm xở với ông Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt, khiến Bác càng âu lo mất ăn mất ngủ; chúng mà vớ được thì Bác nhừ đòn. Mấy ông chủ cà phê mạng hình như cũng nhận đựợc lệnh bắt Bác “sống hay chết cũng được”, nên vào đâu cũng đòi giấy chứng minh nhân dân của khách hàng. Mẹ tổ, tới đâu cũng chình ình, không bên trong thì bên ngoài, cái bảng “Khách hàng là thượng đế”, mà “thượng đế” sau khi trình giấy, bị sách hoạch đủ thứ, đóng tiền giờ ,khi ngồi được trước cái máy vi tính, tưởng đã yên thân, lại bị “đầy tớ” lượn qua lượn lại, khoanh tay đứng ngay sau lưng hai mắt lườm lườm theo dõì màn hình, như tìm bắt tội phạm... Cũng may, không biết có phải nhờ cụ Mác cụ Dao phù hộ mà đêm qua ngủ dưới gầm cầu Long Biên, Bác khều nhẹ được cái póoc-tờ-phơi ( portefeuille cái ví, bóp) của lão già nằm cạnh. Cu Tèo thắc mắc:Bác dùng chứng minh nhân dân của người ta, tuổi tác thì được đi, nhưng khuôn mặt thì sao? Thằng này lại “lo chuyện con bò trắng răng”: bọn homeless già -Bác viết tiếng Mỹ cho oách—lại là homeless già xã hội chủ nghĩa thằng nào lại không giống thằng nào!
Tình hình cực kỳ khó khăn nhưng Bác lại cực kỳ bức xúc nên bất chấp các đồng chí đầu gấu túm đầu; phần khác thời gian sau này, tức là thời kỳ đổi mới tư duy (nói nhỏ với Cu Tèo, “đổi ngược tư duy” mới đúng, chư’ “đổi mới” con mẹ chi mô; ăn cắp “tư duy” của người ta thì có), Bác đã khám phá ra “ông Trời có mắt”. Bác làm điều này, tức là khẩn trương i-meo cho Cu Tèo là thuận theo ý Trời, vì Bác đang tự tay Bác lột cái mặt nạ của Bác. Nên Bác cóc cần phải sợ.Xin ông Trời phù hộ ..Bác
Bác bức xúc vì sáng nay theo dõi tin BBC, lại thấy con cháu Dương Thu Hương lôi cổ Bác lên đỉnh… cây chà là. Con cháu Hương nó kiếm đâu bên Paris được cái ống đu đủ, (của Tây hèn chi to thật là to), nó rình lúc Bác đang tựa lưng gầm cầu lâu quá, tê chân , vươn vai chổm khu đổi sang thế chò hỏ như cán bộ quản giáo ngồi lên lớp bọn ngụy quân ngụy quyền mau mau rửa cho sạch văn hoá cũ, nếp sống cũ đồi trụy, để tiếp thu văn hóa mới nếp sống mới , đạo đức mới để trở thành” con người mới xã hội chủ nghĩa”; con Hương thọc, con Hương thổi Bác đang ốm o gầy mòn vì ăn uống thất thường ,nay đầu đường mai xó chợ gầm cầu, phồng ra “Người Việt Nam Vĩ Đại Nhất” ( web BBC,04/03/2009).
Cu Tèo ơi’, hơi con Hương nó dài nó mạnh quá (chắc nó nhờ bánh mì phó mát la vát ki ri ( Fromage La vache qui rit), trông mặt mày láng nhảy, mồm mép tươi như con bò cái cười) nó thổi Bác ù tai nên Bác không tài nào nhớ hết. Bác chỉ kể lại cho Tèo đôi hơi (điều) để mong Cu Tèo thông cảm cho nỗi đau bị thổi Bác đang vật vả chịu đựng. Tổ cha cái con cháu, nó tưởng nó làm vậy là được giải cháu ngoan. Xin lỗi Cu Tèo, Bác bức xúc qúa, chịu không nổi, chen vào đây, chửi xéo nó một câu cho hạ hỏa.
Nghe đây, con Hương nó thổi, nào là
“Bởi vì chính ông ta (tức là Bác) là nhân vật đầu tiên thấu hiểu giá trị của nền dân chủ và tìm mọi cách du nhập vào Việt Nam”.
Đó, cái “nền dân chủ” mà Bác là “nhân vật đầu tiên thấu hiểu giá trị” và “tìm mọi cách du nhập vào Việt Nam” là cái thứ mà ngay taị cái nôi sinh ra nó, người ta đã đem đi quăng đi đốt đi chôn, cái thứ chính con Hương sợ quá phải bỏ mà chạy . Ủa Cái con Hương này mày “thổi” tao kiểu này hóa ra mày sang Tây chẳng qua chỉ vì mấy ổ bánh mì với phó mát con bò cái nhe răng cười à ?
Nào là :
Bác là “Người Việt Nam vĩ đại nhất”
Con cháu này đểu thật.Nó xỏ xiên Bác đó. Cứ nhìn đi , trong lich sử nước Việt Nam ta, có thời nào dân Việt ta bi tù đày, hãm hại, bị tước đọat quền làm người, bị giết đi bởi người Việt nhiều như dưới thời đại Hồ Chí Minh? Từ trước đến naỵ có bao giờ hang mấy triệu người Việt bất chấp cả mạng sống để chạy thoát khỏi quê hương mình như dưới thời đại Hồ Chí Minh? Đọc lịch sử Việt từ cổ chi Kim, có nhân vật nào bị Dân Việt nguyền rủa về tội ác do đương sự gây nên, về gian manh xảo trá , phản trắc của đương sự bị lật tẩy, nhiều như Hồ Chí Minh không. Từ trước đến nay, chưa có một “nền”… nào làm tan hoang cả đạo lý truyền thống dân tộc , dâng đất dâng biển ông cha để lại cho ngoại bang , như cái “nền” Bác “thấu hiểu giá trị và tìm mọi cách du nhập vào”.
Đáng ra con Hương phải viết Bác là “Tên tội đồ Việt Nam vĩ đại nhất”;
Nào là:
“Ông là người trước hết nhận ra cuộc chiến tranh này sẽ là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc và sẽ để lại sự tàn phá lâu dài với thời gian”
Tèo ơi, Con Hương này nỏ biết chi mô cả .
Cháu dư biết trận Công Kích Mậu Thân, chính phủ ta làm bô hưu chiến mấy ngày Tết, lưà đêm giao thưà đang lúc người ta cúng giỗ ông bà tổ tiên, bộ đội cụ Hồ xua quân đánh. Người ban hiệu lệnh mở màn cuộc tổng tấn công cho quân ta trên toàn Miền Nam chính là Bác.Sau khi gỉa đò nói mấy lờ chúc Tết đồng bào, Bác đọc sang sảng trên đài Hà Nội và đài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam:
Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bác không ra lệnh thì ai đánh; Miền Nam có ông Thiệu mà hay,” Đừng nghe những gì Cọng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cọng Sản làm”.
Tội nghiệp con Hương, bánh mì bơ sữa trời Tây đã mấy năm, mà đầu óc vẫn còn lợn bợn cháo lú .
Bác còn mỗi mình Tèo . Hãy vững niềm tin, niềm tin đã manh nha trong lòng Bác. Đừng lú lẫn như em Hương, nha Tèo .
Tiếp tục cầu xin cho Bác.
Bác Hồ
Góp ý của cháu họ Nông Tuấn
Bác nói đúng đấy, cô Hương ở Bên Pháp tức khí tụi đàn em băng đảng 14 của bác nên xỏ lá kéo đời tư của Bac lên Nét, rồi lại ra sách bằng tiếng Pha Lăng Xa, mà người chuyển ngữ cố ý dịch có ý là "Đỉnh cao trí tuệ" nhưng lại độc trệch ra là "đỉnh cao chói lọi". Cô Hương này độc thật khai tông tích những tình nhân của bác cho thiên hạ biết.
Cháu thì không tin cuốn sách phản đảng này vì xem cuốn sách của ông Trần Dân Tiên hoan hô bác hết mình, còn công kênh bác lên bệ mà thờ hơn cô Huơng này nhiều. Cháu tin ông Trần Dân Tiên hơn cô Thu Hương này. Cô Hương này hãy còn trẻ mà, khi Bác 60 thì cô ta mới sinh ra đời có 1 tuổi hãy còn cởi truồng bế ẵm mà biết cái gì thuở xưa của Bác. 20 năm sau cô ta vác túi dết vào miền Nam giải phóng, thì cô ta mới sáng mắt ra rồi trốn sang Tây, viết báo chửi đảng ta quá xá. Trong cuốn ĐCCL, vì bé tí nên cô ta cô ta quên hết sạch việc Bác cải cách ruộng đất năm 1956 thanh toán một số địa chủ ác ôn, và vì vậy bây giờ nhóm băng đảng 14 của bác còn nhớ và đem áp dụng với nhóm địa chủ miền Nam lấy đất lại cho cán bộ đảng ta xây sân golf, xây nhà cả trăm tỷ, mái ngói, sân thượng còn dùng làm vuờn thuợng uyển, trồng rau ăn chơi nữa. Hồi đó chắc bác chưa được xem nhà bác Phiêu đâu, đẹp hơn nhà sàn của bác bên hồ Hoàn Kiếm nhiều.
Ngoài vụ Cải cách ruộng đất nổi tiếng của bác, cô Hương còn quên không nói đến mấy người vợ Tầu, vợ đầm của Bác nữa, chắc là cô ta chỉ kể những gì mắt thấy tai nghe từ nhóm đảng viên của Bác kể lại thôi. Bác đang được đảng ta làm tượng đặt vào chùa ngồi chung với Phật, thì cô Hương ác ôn kê khai ra làm người ta thấy Bác cũng thường tình như những người đàn ông khác trên thế giới này. Thế thì kẹt cho đảng ta quá bác nhỉ. Đảng đang định phong thần, phong thánh cho bác, lấy tư tưởng của bác làm "tín điều vàng ngọc" của đảng thì cái cô DTH khi gió này phá đám chỉ cho bác làm thuờng dân thôi để chạy tội cho bác. Chắc cô Huơng này bị tụi VK hải ngoại, thế lực thù nghịch, chi tiền phá hoại đảng ta theo diễn tiến hoà bình rồi. Cháu đề nghị đảng ta sai hội VK yêu nước của ta bên Pháp thuê ngay đám xã hội đen, dân Rệp càng tốt, hỏi tội và trừng trị cô ta một phen.