Obama có lạc quan quá đáng?
Ngô Nhân Dụng
Muốn biết tình trạng kinh tế Mỹ đang lên xuống ra sao, quý vị có thể nhìn vào đoàn xe vận tải thường chiếu đèn sáng chói chạy suốt đêm trên xa lộ. Nước Mỹ có gần 20 triệu xe vận tải chạy đem hàng hóa từ nhà sản xuất đến kho của nhà buôn sỉ, tới tiệm bán lẻ, trước khi đến tay người tiêu thụ. Khi nào dòng xe 18 bánh này chạy nối tiếp nhau không ngừng, tức là kinh tế đang tốt đẹp: Nhiều người mua hàng và nhiều người có việc làm.
Căn cứ trên “chỉ số” đó, kinh tế Mỹ đã xuống rất nặng từ năm ngoái, và tới giờ vẫn còn lo xuống nữa. Trong năm 2008, hơn 3,600 công ty vận tải hàng hóa ngưng hoạt động. Có 137,650 chiếc xe ngưng chạy, đội ngũ xe tải giảm 7%. Theo tin của Hội Xe Tải Toàn Quốc (American Trucking Association) trong ngành vận tải có 1 triệu 320 ngàn công nhân làm việc, năm ngoái đã cho 25 ngàn người nghỉ. Trước đây các công ty lúc nào cũng lo không kiếm ra tài xế cho công việc cực nhọc này, bây giờ số người tới xin lái xe cao hơn nhu cầu.
Đà suy thoái kinh tế cuối năm ngoái xuống nặng hơn mọi người tưởng tượng. Trong ba tháng sau cùng Tổng Sản Lượng Nội Địa đã giảm sụt 6.2%. Đây là tỷ số tụt giảm nặng nhất kể từ quý đầu năm 1982, khi kinh tế xuống 6.4%. Nhiều nhà kinh tế tin rằng tỷ số giảm sụt trong quý đầu năm 2009 sẽ nặng không kém.
Mới đầu năm 2009 đã quá nhiều tin rất xấu, cho thấy cuộc khủng hoảng trên đà trầm trọng hơn. Số hàng bán trong loại dùng lâu bền trên ba năm đã giảm liên tiếp trong 6 tháng, Tháng Giêng giảm hơn 5%, theo tin của Bộ Thương Mại Mỹ. Số sụt giảm đó thuộc đủ mọi mặt hàng như tủ lạnh, máy giặt, xe hơi và phụ tùng, máy vi tính, vân vân. Số bán của những ngôi nhà mới xây trong Tháng Giêng giảm hơn 10%, số nhà bán thấp nhất kể từ năm 1963 tới nay.
Tình trạng sa thải nhân viên trầm trọng hơn. Tuần lễ thứ ba của Tháng Hai có 667,000 người khai lãnh bảo hiểm thất nghiệp lần đầu, sau khi đã có 631,000 người mới khai lãnh vào tuần trước, nâng tổng số người đang nhận khoản trợ cấp này lên con số 5 triệu. Tỷ lệ thất nghiệp đang 7.6% sẽ lên tới 8%, riêng tiểu bang California tỷ lệ này đã lên trên 10%. Một công ty bán nhiều máy vi tính nhất, Dell Computer cho biết lợi nhuận đã giảm gần một nửa, sẽ cắt giảm chi phí 4 tỷ Mỹ kim từ nay đến năm 2011, tức là sẽ phải sa thải nhiều nhân viên. Công ty xe hơi GM thông báo lỗ 9.6 tỷ Mỹ kim trong ba tháng cuối năm 2008, báo trước có thể sẽ không trả được những món nợ sắp đáo hạn.
Các tín hiệu trên khiến nhiều người lo ngại kinh tế năm nay sẽ xuống mạnh hơn những lời tiên đoán của chính phủ Obama trong bản dự thảo ngân sách mới trình cho quốc hội. Bản ngân sách với số chi 3.6 ngàn tỷ Mỹ kim dự trù sẽ nâng số khiếm hụt lên 1,750 tỷ Mỹ kim; nhưng tiên đoán trong 3 năm sẽ chỉ còn khiếm hụt 533 tỷ. Phép lạ nào có thể giảm bớt số thâm thủng nhanh như vậy? Lời tiên đoán đó dựa trên giả thiết là kinh tế Mỹ sẽ chỉ xuống nhẹ trong năm nay và từ sang năm sẽ lên và 2 năm nữa sẽ lên nhanh. Khi kinh tế lên thì chính phủ sẽ bớt được nhiều khoản chi tiêu trợ cấp xã hội, đồng thời số thuế thu được sẽ tăng lên, do đó ngân sách không còn thâm thủng nặng nữa.
Nhưng các giả thiết trong ngân sách Obama có vẻ quá lạc quan, so với những tiên đoán của nhiều nhà kinh tế. Tòa Bạch Ốc cho là năm nay GDP nước Mỹ sẽ giảm bớt 1.2%, nhưng năm 2010 sẽ tăng được 3.2%, và 2 năm sau tăng trưởng với tỷ lệ 4% và 4.6%. Công ty Blue Chip bề tiên đoán kinh tế đã thăm dò nhiều chuyên gia và tính số trung bình, thấy rằng năm nay kinh tế sẽ xuống nặng hơn với tỷ số giảm 1.9%, và sang năm sẽ chỉ lên được với tỷ số 2.1%, hai năm sau đó lên với tỷ số 2.8%.
Trong những cuộc suy thoái kinh tế gần đây, vào thập niên 1980, 90 và năm 2001, khi số sản xuất xuống thì xuống ít hơn, thường chưa giảm mất 1% Tổng Sản Lượng Nội Địa; và thời gian suy thoái thường chỉ kéo dài dưới một năm. Chính phủ Obama có thể đã dựa trên kinh nghiệm cũ mà tính ra những con số có vẻ lạc quan kể trên. Nhưng kỳ suy thoái này có tính chất khác hẳn mấy lần trước, khiến các nhà kinh tế bi quan hơn. Nhiều người lo rằng cơn suy thoái lần này có thể kéo dài từ 2 năm trở lên.
Nguyên nhân gây ra cơn thoái trào bắt đầu năm 2008 là không phải chỉ do biến chuyển tự nhiên của một chu kỳ kinh tế, mà lại bị tác động bởi một cuộc khủng hoảng tín dụng và ngân hàng nổ ra từ năm trước. Cho nên nước Mỹ đã phải sống trong hai cuộc khủng hoảng song hành, tài chánh và kinh tế. Nhưng điều nguy hiểm là cả hai cuộc khủng hoảng đó thúc đẩy lẫn nhau, lôi cuốn nhau trong một vòng luẩn quẩn ngày càng nghiêm trọng hơn. Cần phải có một sức tác động từ bên ngoài thì cơn xoáy lốc đó mới bắt đầu giảm tốc độ để ngưng lại.
Hai hành động của chính phủ và quốc hội Mỹ nhắm gây ra tác động đó: 700 tỷ giải cứu hệ thống tài chánh, ngân hàng, và 787 tỷ đô la kích thích kinh tế. Chưa ai có thể biết hai hành động trên sẽ có tác dụng đủ mạnh hay không, và bao giờ thì tác dụng bắt đầu. Ông chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tiên đoán lạc quan nhất là kinh tế sẽ bắt đầu hồi phục từ đầu năm 2010. Nhưng nếu các ngân hàng vẫn không có tiền để cho vay như cũ thì dù kích thích đến đâu kinh tế cũng chưa lên được. Kinh tế chỉ bắt đầu nhúc nhích khi hệ thống tín dụng được tháo gỡ để chạy bình thường.
Cuộc khủng hoảng tín dụng bắt đầu từ năm 2007 khi các ngân hàng không đòi được các món nợ mua nhà với tiêu chuẩn thấp, mà mấy năm trước đó họ được thả lỏng tha hồ cho vay. Tình trạng buông thả đó không được guồng máy chính quyền giám sát đứng đắn đã khiến nhiều ngân hàng cùng phá sản. Bản báo cáo của Tổng Thanh Tra Bộ Tài Chánh Mỹ tuần này cho biết Sở Giám Sát Các Ngân Hàng Tiết Kiệm (OTS) đã thấy những dấu hiệu bất cẩn của ngân hàng IndyMac ở California từ lâu. Báo động đỏ bật lên khi thấy ngân hàng này không kiểm chứng lợi tức của người vay tiền, OTS đã cảnh cáo, nhưng các thanh tra nhiều khi không báo lên cấp trên và không có một hành động nào để bắt buộc ngân hàng này phải sửa chữa. IndyMac là một trong những ngân hàng đầu tiên phá sản vì nợ địa ốc, và hiện chính phủ Mỹ phải quản lý để bảo vệ quyền lợi các người gửi tiền.
Khi các ngân hàng mất tín nhiệm và thị trường không dám mua các trái khoán nhiễm độc của họ nữa, cả hệ thống tín dụng bị tê liệt, người tiêu thụ và các xí nghiệp đều bị ảnh hưởng khiến cho cuộc suy thoái kinh tế trở thành nặng nề hơn.
Trong cơn thoái trào kinh tế, những người mất việc và các xí nghiệp thua lỗ không trả được những món nợ ngân hàng, từ nợ mua nhà đến mua xe, mua đồ dùng hay nợ thẻ tín dụng. Các ngân hàng ôm những trái khoán liên quan tới địa ốc bán không được, thiếu tiền cho vay. Nhưng dù có tiền họ lại không dám cho vay dễ dàng nữa, vì sợ người vay cũng sẽ không trả được nợ. Cả hệ thống tín dụng bị mối sợ rủi ro ám ảnh lâm vào cảnh bất động.
Các ngân hàng muốn có thêm vốn nhưng khó đi gây vốn khi giá cổ phần của họ tụt giảm, bán cổ phần vào lúc này sẽ bị thiệt thòi rất nặng. Khi các xí nghiệp không vay được tiền họ sẽ giảm sản xuất, sa thải công nhân, và số người tiêu thụ có tiền lại chi tiêu bớt đi. Số tiêu thụ giảm sẽ làm cho hàng hóa khó bán, các công ty giảm sản xuất và sa thải công nhân. Hai cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh lôi kéo nhau trong một vòng luẩn quẩn.
Cho nên các nhà kinh tế thuộc mọi khuynh hướng chính trị đều đồng ý chính phủ Mỹ phải đưa ra những liều thuốc mạnh, với các hành động quyết liệt, trước hết để phá cái vòng luẩn quẩn này. Nhưng người ta cũng bất đồng ý kiến về cách pha chế phương thuốc chữa trị cấp thời và những hệ quả lâu dài.
Những người phản đối bản ngân sách của chính phủ Obama báo động là số thiếu hụt ngân sách sẽ tăng lên nhiều hơn Tòa Bạch Ốc tiên liệu vì số chi tiêu của chính phủ sẽ chỉ tăng lên không ngừng. Số chi trong năm 2009 sẽ lớn gần bằng 28% Tổng Sản Lượng Nội Địa, tỷ số cao nhất kể từ thời Đại Chiến Thứ Hai.
Điều nguy hiểm trong bản ngân sách Obama là giả thiết quá lạc quan về tương lai gần của nền kinh tế. Người ta có thể tin rằng trong năm 2010 kinh tế bắt đầu hồi phục, nhưng rất khó tin là trong hai năm say tỷ lệ tăng trưởng có thể lên tới 4% và cao hơn. Như vậy thì con số dự trù khiếm hụt ngân sách chỉ có trên 500 tỷ vào năm 2012 là một ảo tưởng. Con số thực có thể lên gấp đôi. Số nợ của chính phủ Mỹ lên hơn một ngàn tỷ đô la, mỗi năm công quỹ sẽ phải dành ra trên 40 tỷ chỉ để trả tiền lãi.
Một giả thiết khác nằm trong ngân sách của Tòa Bạch Ốc là số tiền thuế sẽ thu được từ 2% những người giầu nhất nước Mỹ, nếu bỏ bớt nhiều khoản miễn thuế mà họ đang được hưởng. Chính phủ Obama hy vọng sẽ thu được 338 tỷ Mỹ kim trong 10 năm để trang trải nhiều món chi tiêu mới. Nhưng số tiền thu tưởng tượng trên dựa trên giả thiết là kinh tế hồi phục sớm và mạnh lên nhanh. Nếu kinh tế Mỹ không theo đúng giả thiết đó thì chính lợi tức của 2% những người giầu nhất nước cũng bị giảm và số khiếm hụt ngân sách càng nặng nề hơn.
Liệu những giả thiết của chính phủ Obama có lạc quan quá đáng để gây ảo tưởng cho dân Mỹ hay không? Trong những ngày tới người Mỹ sẽ được nghe những lời kết án và những lời biện hộ.
Cuộc thảo luận về ngân sách chính phủ liên bang sẽ tập trung vào những món chi tiêu và thu nhập mà Tổng Thống Obama đề nghị, nhưng cuối cùng sẽ trở lại một vấn đề căn bản. Đó là vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Mỹ. Một vấn đề khác liên can chặt chẽ là vai trò của hệ thống thuế khóa trong việc san sẻ tài sản trong toàn thể dân chúng Mỹ. Hệ thống hiện nay làm nghiêng cán cân khiến tài sản chảy vào chỗ trũng với 2% các gia đình giầu nhất hưởng 22% lợi tức của cả quốc gia. Nhưng làm thế nào để lập lại thế công bằng mà không làm giảm bớt động cơ giúp kinh tế phát triển? Đây là những câu hỏi lâu dài nhưng đáng được nêu lên ngay để tìm lời giải đáp trong lúc mọi người đều công nhận có một cơn khủng hoảng cần phải vượt qua.