Phân tích sự đàn áp Của Đảng Cộng Sản Việt-Nam Đối với Tự Do Tôn Giáo của Giáo Hội Công Giáo (Phần III)

Lm. Trần Xuân Tâm

(tiếp theo....)

C.- Những ích lợi mà ĐCSVN trực tiếp nhằm đạt đến nhờ hai ấn tượng lừa dối kể trên.


Dĩ nhiên, những ấn tượng này được ĐCSVN tạo ra không nhằm mục đích sau cùng nào khác hơn là để duy trì và bành trướng quyền lực toàn trị của mình như đã chỉ ra ở đầu bài phân tích này. Nhưng những ấn tượng này phục vụ mục đích sau cùng của Đảng bằng cách giúp Đảng trực tiếp đạt được những mục tiêu tùy thuộc lực những ích lợi sau.

1. ích lợi thứ nhất đó là bằng cách tạo ra hai ấn tượng sai lầm này, ĐCSVN hy vọng thuyết phục được nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ và các nước Tây âu, rằng sự tôn trọng của Đảng đối với tự do tôn giáo đang được cải thiện cách đáng kể. Do vậy không nên có bất kỳ lý do tiêu cực nào về mặt nhân quyền mà nghiêm trọng đủ để cấm những quốc gia này ban cho Đảng sự viện trợ kinh tế dưới những hỉnh thức khác nhau và theo đuổi những quan hệ mậu dịch và đầu tư với Đảng. Đảng dĩ nhiên không thể đạt được ích lợi này mà không bày ra một kế hoạch nhiều giai đoạn và phức tạp để liên kết với nhau một cách hiệu quả những cuộc vận động khác nhau xét về tôn giáo xét về các quan hệ quốc tế, xét về quan hệ giữa người Việt trong nước và Người Việt ở nước ngoài, v v Nói ví dụ, không phải là vô lý mà suy đoán rằng trước khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận kinh tế, thì Đảng chắc đã dùng một vài giáo sĩ cao cấp ở Việt Nam bằng những cách khác nhau mà ảnh hưởng một vài giáo sĩ Việt Nam ở Mỹ, những người mà Đảng mong muốn làm việc cho mình. Những giáo sĩ Việt Nam ở Mỹ này chắc phải hoạt động cho Đảng hoặc một cách vô tình và gián tiếp,nếu như họ chỉ bị những giáo sĩ cấp cao nói trên ở trong nước chỉ dẫn sai lầm mà không hay biết, hay một cách ý thức và trực tiếp, nếu như những lỗi lầm luân lý của họ đã bị Đảng biết mà lợi dụng khai thác. Dù bằng cách nào, họ chắc phải thành công trong việc bắc cầu liên lạc giữa Hội đồng Giám mục ở Hoa Kỳ và một vài vị lãnh đạo trong Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bước tiếp theo, Đảng chắc phải dùng những vị lãnh đạo này để làm cho Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ có một cái nhìn thiếu sót về tình hình tự do tôn giáo của Giáo Hội tại Việt Nam. Một khi Hội đồng này đã không có một sự hiểu biết chính xác và đầy đủ, thì Đảng có thể thấy trước mà chờ đợi một vài hậu quả thuận tiện phát xuất từ ảnh hưởng của Hội đồng lên trên những chính sách đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ đối với Đảng.

Cái ích lợi ở trên vẫn không quá quan trọng đối với nhóm bảo thủ trong Đảng, là nhóm muốn duy trì quyền lực toàn trị của Đảng bằng cách quy phục Đảng Cộng sản Trung Quốc hơn là bằng cách mở cửa đối với những quan hệ kinh tế và ngoại giao gần gũi với Tây phương.

Tuy nhiên, cả nhóm bảo thủ và cấp tiến đều thấy rõ cái ích lợi thứ hai sau đây là cần thiết, không thể thiếu được. Đó là một khi ĐCSVN có thể tạo ra được cái ấn tượng thứ hai trong tâm trí hàng giáo sĩ Công Giáo và đánh lừa các vị về cái tinh thần ,"đối thoại" và "cởi mở" của mình, thì các vị sẽ thấy được biện minh nhiều hơn mà theo đuổi một thái độ yếu mềm, nhượng bộ, thỏa hiệp, và phục tùng đối với Đảng, như thể thái độ .này về lâu về .dài chỉ một mình nó là cách tốt nhất phục hồi lạ.i tự do tôn giáo cho Giáo Hội.

Nói cách khác, theo kế hoạch của Đảng, hàng giáo sĩ Công Giáo, một khi bị mắc bẩy trong cái ảo tường này, sẽ từ chối vận dụng sức mạnh hiệp nhất trong Giáo Hội, đặc biệt là sự hiệp nhất giữa hàng giáo phẩm và lực lượng đông đảo giáo dân , để dầu không phải bằng cách bạo động, nhưng vẫn mạnh mẽ và dứt khoát đòi hỏi Đảng chấm dứt kế hoạch và nỗ lực tước đoạt sự độc lập và tự trị khỏi Giáo Hội. Sự từ chối như thế quả thật là một ích lợi rất to lớn và rất quan trọng đối với ĐCSVN, bởi vì ở trong tình trạng suy yếu hiện thời của mình, Đảng thấy rất rõ là mình không còn có khả năng nữa để mà khuất phục được sức mạnh hiệp nhất này của Giáo Hội .

Đó là lý do tại sao hôm nay bất kỳ khi nào Đảng đánh hơi được một sự đe dọa thực sự đến từ sức mạnh hiệp nhất của Giáo Hội, để xoa dịu và ngăn chặn nó bùng nổ trước khi quá trễ, Đảng mau chóng, dầu miễn cưỡng, dùng đến một vài hành động cụ thể có vẻ 'đối thoại' hay "cởi mở" nhưng thực ra chỉ là tạm thời và lừa gạt. Những hành động này đã được dự định trước rồi để không nhằm mục đích nào khác hơn là dụ dỗ Giáo Hội đừng đòi hỏi những gì rõ ràng thuộc về mình. Ngay cả những trưởng hợp miễn cưỡng này cũng chứng tỏ một cách không thể nghi ngờ rằng ý định đối thoại và cởi mở của Đảng không hề thành thật chút nào. Sau đây là một trong những trường hợp miễn cưỡng như thế. Vào ngày 28 tháng Bảy và sau đó vào ngày 28 tháng Chín năm 2001, Hồng y Phạm Đình Tụng (mới qua đời) , Tổng Giám mục Hà Nội, viết cho Thủ tướng Phan Văn Khải, yêu cầu ông ta can thiệp để ngăn chặn công trình xây cất của giới cầm quyền địa phương của Quận Hoàn Kiếm Hà Nội trên mảnh. đất được khai báo cách chính đáng như là tài sản của

Giáo phận từ năm 1933. [41]

[41] Đảng 'quốc hữu hóa' đất này vào năm 1954. Gần đây Tổng Giáo phận yêu cầu Đảng trả lại đất, Đảng không trả. Theo thông tư số 02/TT-TGCP của chính Đảng ban hành vào ngày 24 tháng 9 năm 1992, thì Đảng phải duy trì tình trạng hiện hành (status quo) của một tài sản như thế, nghĩa là, không được xây dựng bất kỳ công trình nào mới hay phá đổ bất kỳ công trình nào cũ, trong khi Tổng Giáo phận đang chờ đợi sự giải quyết của Đảng.


Không bao lâu sau lá thư thứ hai của vị Hồng y, 46 cha xứ của Tổng Giáo phận Hà Nội, thay phiên nhau, ký vào một lá thư khác có cùng nội dung và gửi đến Đảng để bày tỏ một lòng hiệp nhất với Giám mục của mình trong chuyện này.

Bất chấp hai lá thư viết bởi một vị Hồng y, lúc đó vẫn còn là Chủ tịch của Hội đồng Giám mục, và bất chấp cả lá thư của các linh mục ngài, Đảng vẫn không thèm trả lời, ngay cả gửi một thông báo đã nhận cũng không có. Ngược lại, Đảng vẫn để cho giới cầm quyền địa phương tiếp tục công trình. Có sự im lặng khinh bỉ về phía Đảng trong vòng ba tháng rưỡi. Thật là một cái tát vào mặt bất cứ ai vốn nghĩ rằng Đảng phần nào có ý định đối thoại và tiếp nhận thay đổi. Sự im lặng khinh bỉ của Đảng đối với hàng giáo sĩ có lẽ sẽ kéo dài bất tận, nếu vào ngày 11 tháng Mười Một, 2001 Hồng y Tụng đã không phổ biến công khai trên mọi tín hữu trong Tổng Giáo phận lá thư của mình cũng như của các cha xứ của ngài bằng cách cho đọc những tài liệu này từ trên tòa giảng ở khấp mọi nhà thờ trong Tổng Giáo phận. Hành động của ngài đã dấy nên những ủng hộ mạnh mẽ và công khai từ mọi tín hữu của mình. Ngay vừa khi thấy mối đe dọa ngấm ngầm này, Đảng liền bắt đầu gửi các phái đoàn đại diện khác nhau của mình đến gặp Hồng y Tụng và các giáo sĩ của ngài. Cuộc gặp mặt với đoàn đại điện cao nhất từ phía Đảng xảy ra vào ngày 6 tháng 12 năm 2001. Tại cuộc gặp mặt này dầu hứa hẹn tạm thời ngưng công trình xây cất, Đảng vẫn tiếp tục từ chối trả lại mảnh đất vừa nói của Giáo phận.

2.- ĐCSVN dùng những nới lỏng và cho phép trong thập niên qua để làm suy yếu, tê liệt, hay hủy hoại nhiều phẩm chất luân lý và thiêng liêng ở nơi người Công Giáo, đặc biệt là ước muốn và nỗ lực bảo vệ sự độc lập và tự trị của Giáo Hội ở nơi hàng giáo sĩ Công Giáo.

Những nới lỏng và cho phép này không phải miễn phí về phương diện vật chất, dầu chúng chỉ được ban cho những người Công Giáo nào tối thiểu chứng tỏ không đối lập lại việc Đảng tước đoạt độc lập và tự trị của Giáo Hội. Trong tình trạng thối nát không thể chữa, ĐCSVN rất thường đòi hỏi hối lộ hay 'quà biếu' từ nơi người Công Giáo để đổi lấy một sự nới lỏng hay cho phép về những công việc- tôn giáo như vào chủng viện, chịu chức linh mục, bổ nhiệm và thuyên chuyển, đi ra nước ngoài tu học hay thăm viếng, tu sữa, tái thiết, hay xây dựng các thánh đường và các cơ sở tôn giáo khác, v.v... Những hối lộ và quà biếu này không mang tính tượng trưng chút nào. Chúng quả là đặt giá.

Kiếm được những ích lợi vật chất cho mình, Đảng đồng thời dùng những nới lỏng và cho phép này, khi được ban cho kiểu đó, mà làm suy yếu, tê liệt, hay hủy hoại nhiều phẩm chất luân lý và thiêng liêng ở nơi người Công Giáo. Trước tiên là lương tâm hay ý thức luân lý của họ. Dầu với ý định tốt hay nhằm mục đích tốt, nhưng quá thường xuyên phải thực hành hối lộ, nhiều người Công Giáo đi đến chỗ thoải mái tự nhiên đối với chuyện đó, không còn quan tâm đến-sự kiện rằng thực hành này tự nó là một điều xấu về mặt luân lý và do vậy không thể được biện minh bởi bất kỳ mục đích hay ý định tốt nào. Cái phẩm chất thứ hai là cảm nhận của người Công Giáo về tính cách thánh thiêng của những thực tại tôn giáo, đặc biệt là chức thánh linh mục.

Việc Đảng một mực đòi hỏi "hối lộ" hay 'quà biếu' để đổi lấy những nới lỏng và cho phépcủa nó có thể làm cho nhiều người Công Giáo dần dần tục hóa những thực tại thánh thiêng này. Họ có thể nghe hay tin rằng họ có thể đạt được những thực tại .tôn giáo này chủ yếu nhờ vào sự giúp đỡ của những phương tiện của con người, thậm chí cả những phương tiện xấu về mặt luân lý. Điều này không thể tránh đưa đến sự suy giảm hay đánh mất phẩm chất thứ ba, nghĩa là, sự nhận thức và tin cậy rằng những thực tại thánh thiêng, đặc biệt là thánh chức linh mục, là những ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa và vì vậy chỉ tùy thuộc vào ý muốn và quyền năng của Ngài.

Tiếng "xin vâng" tự do của người Công Giáo, lòng tin thác khiêm nhường và nỗ lực sống thánh thiện cách tương xứng không làm cho những thực tại thánh thiêng này có nhưng chỉ là những đáp trả thích hợp đối với những ơn huệ mà Thiên Chúa đã trao ban cách tự do rồi. Hơn nữa, ngay cả chính những đáp trả tích cực này cũng là những hiệu quả của ơn Thiên Chúa. Danh sách những phẩm chất luân lý và thiêng liêng khác mà bị Đảng làm cho suy giảm hay mất đi còn tiếp tục phơi bày ra qua những suy thoái tương ứng với chúng, ví dụ như việc thay thế tính cách nội tại và những đòi hỏi nền tảng của đạo Công Giáo bằng tính cách ngoại tại và hình thức và những nhu cầu kém thiết yếu của đạo (đặc biệt ở nơi 'phong trào' trùng tu và tái thiết nhà thờ), sự sa sút trong đôi sống thanh đạm và và tiết độ ở nhiều giáo sĩ Công Giáo, v~v~

Nhưng đối với ĐCSVN không có một phân chất luân lý và tình thần nào mà sư suy giảm và mất mát' có lợi đôi với Đảng cho bằng ước muốn và nỗ lực bảo vệ độc lập và tự trị của Giáo Hội ở nơi hàng giáo sĩ Công Giáo. Việc Đảng dùng những nới lỏng và cho phép trong thập niên qua đã và đang đạt được sự phục tùng và cộng tác từ phía giáo sĩ Công Giáo ngay cả còn hiệu quả hơn hai chiến lược nói trước đây. Khi mà bàn tay của Đảng nới lỏng những hạn chế của mình và cho phép thêm nhiều hoạt động tôn giáo, ngay cả những hoạt động chỉ có nằm mơ trước đây, thì nhiều giáo sĩ Công Giáo có thể dễ dàng bằng lòng với việc Đảng nắm giữ mình mà xem ra dễ chịu đủ . Ít nữa là họ dễ đàng đầu hàng đối với số phận này, bỏ rơi ý muốn và nỗ lực thoát khỏi cái bàn tay đó. Đảng dùng những hoạt động tôn giáo như thuốc phiện để mê hoặc nhiều giáo sĩ Công Giáo và ràng buộc họ vào trong quỹ đạo thống trị của mình một cách xem ra khá dịu dàng nhưng thật ra chặt chẽ hơn.

Nói chính xác, bằng cách vận dụng những nới lỏng và cho phép của mình như một thứ cám dỗ để dần dần dập tắt nơi người Công Giáo mọi ước muốn và nỗ lực bảo vệ sự độc lập và tự trị của Giáo Hội, ĐCSVN gia tăng và củng cố nhóm Công Giáo thứ ba. [42]

[ 42] xem ở trước về việc phân loại thái độ của người Công Giáo Việt Nam đối với việc Đảng đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hôi.


Đảng cứ cho phép Giáo hội nhận vào chủng viện nhiều chủng sinh hơn, phong chức nhiều linh mục hơn, bổ nhiệm giám mục vào những tòa trống ngôi dễ dàng hơn, nhưng nếu nhờ đó mà Đảng đưa vào được trong nội bộ hàng giáo sĩ thêm nhiều chủng sinh, linh mục, giám mục mà dễ dàng phục tùng và cộng tác với Đảng, thì việc cho phép như thế lại càng được việc cho Đảng hơn. Còn đối với những giáo sĩ thuộc nhóm thứ nhất và thứ hai thì dùng những nới lỏng và cho phép của mình Đảng dần dần lôi kéo nhiều người trong họ chấp nhận một thứ thái độ ngày càng kém kiên quyết và tha thiết đối với việc bảo vệ sự độc lập và tự trị của Giáo Hội và do đó ngày càng ít đối kháng với những kế hoạch và nỗ lực đàn áp của Đảng. Cho phép một giáo phận phong chức thêm nhiều linh mục, xây sửa tòa giám mục, mở chủng viện, xây sửa thêm nhiều nhà thờ, nhưng nếu nhờ đó mà Đảng không gặp phải sự đối kháng nào từ giới lãnh đạo của giáo phận đó trong việc Đảng đàn áp một hai linh mục có tinh thần đối kháng ở trong giáo phận, chiếm đất của giáo phận ở một vài nhà thờ khác mà có lợi về mặt kinh tế cho Đảng, thì không có gì ích lợi đối với việc Đảng đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội cho bằng sự cho phép như thế. Sự kiện sau đây có lẽ cho thấy sự thoái lui trong thái độ của một số giáo sĩ thuộc nhóm thứ nhất. Vào tháng Tư năm nay, Tòa Giám mục Xuân Lộc viết một lá thư kêu gọi giáo sĩ, tu sĩ, và giáo dân trong Giáo phận tham gia tích cực vào cuộc bầu cử đại biểu cho Quốc hội và đề cao sự tham gia này như là một bổn phận ý nghĩa và quan trọng. Lá thư gián tiếp biện hộ cho cái Quốc hội mà mọi người Việt Nam đều biết rất rõ chỉ là một tổ chức bù nhìn do Đảng dựng nên và điều khiển chỉ để lừa bịp thế giới. Điều khó tin đó là lá thư được ký bởi Giám mục Nguyễn Minh Nhật, là người, trong chuyến viếng thăm "ad limina" tại Rôma và sau đó ở Pháp từ tháng Mười một đến tháng Mười hai năm 1990, đã không sợ hãi mà bày tỏ sự đồng ý của mình đối với những sự thật về sự đàn áp tự do .tôn giáo của Đảng và công khai phê bình UBCGYN và tờ báo CG DT của nó. [43] phải chăng Đức cha Nhật là tác giả thực sự của lá thư nói trên? Nếu phải, thì tại sao ngài phản bội chính mình khi đổi ngược thái độ của mình đối với Đảng?

Phải chăng vì Đức cha đã quá già yếu?

[43] Trả lời cho một câu hỏi "Đức cha nghĩ sao về ủy ban Đoàn kết Công Giáo Yêu nước? (Que pensez-vous du Comité d'union des catholiqué patriotes)" của báo Eglises d'asie trong cuộc phỏng vấn vào ngày 12 tháng Mười Hai năm 1990, Giám mục Nguyễn Minh Nhật của Giáo phận Xuân Lộc nói: lấy ban giữ tờ báo Công Giáo độc nhất tại miền Nam Việt Nam: tờ 'Công Giáo và Dân Tộc'. Nhưng cả ủy ban lẫn tờ báo nên được coi như là những cơ quan của nhà nước thì hơn. Những bài viết của tờ báo luôn luôn bênh vực chính sách của chính phủ và rất thường phê bình đối với Giáo Hội. Chúng không cho [người đọc] một ý tưởng đúng đắn về Giáo Hội tại Việt Nam (Le Comité détient l'unique jounal catholique du Sud Viet-nam: "Le Catholicisme ẹt la Nation". Cependent, l'un comme l'autre doivent che considérés plutôt comme des organes de l' État. Les articles du journal sont toujours en faveur de la politique gouvernementale ettrès souvent critiques vis-à-vis de l'église. Ils ne donnent aucune idée juste de l'Église du Viet-nam)"


Nếu không phải, thì làm sao giải thích sự kiện này?

Hy vọng rằng lá thư đã được viết và được công bố mà không phải do lỗi của ngài, nhưng dầu vậy Đức cha đáng lẽ nên làm gì đó công khai để điều chỉnh những hậu quả tai hại của nó.

Đồng thời, ĐCSVN dùng những nới lỏng và cho phép như là một thứ áp lực nào đó để giảm bớt sự ủng hộ ngấm ngầm mà nhiều người Công Giáo thuộc nhóm thứ hai vốn thường dành cho những ai trong nhóm thứ nhất mà công khai lên tiếng bảo vệ sự độc lập và tự trị của Giáo Hội.

Những người này hôm nay bắt đầu bị xem là "thiếu khôn ngoan" hay "cực đoan", cản trở nỗ lực của Giáo Hội đạt được những nới lỏng từ Đảng. Nói cách khác, dùng những nới lỏng và cho phép, Đảng cô lập một số người thuộc nhóm thứ nhất cách hiệu quả hơn trước đây. Những gì vừa nói giúp giải thích phần nào tại sao cuộc tranh đấu của cha Nguyễn Văn Lý và các bạn của ngài cho tự do tôn giáo thực sự của Giáo Hội đã không nhận được nhiều ủng hộ đáng kể từ phía hàng giáo sĩ Công Giáo nói chung, kể cả giám mục và linh mục. Việc Đảng gia tăng đàn áp ngài,. đến mức độ kết án ngài 15 năm tù và 5 năm quản thúc, cũng không làm dấy nên bất kỳ phản ứng hay phê bình nào. từ phía hầu hết hàng giáo sĩ Công Giáo [44] . Và dĩ nhiên điều này rất đáng tiếc!

[44 ] Ngoại trừ sự lên án công khai và mạnh mẽ của hai linh mục bạn ngài là cha Phan Văn Lợi và cha Nguyễn Hữu Giải và của linh mục Chân Tín ở Sài Gòn, những lời cầu nguyện công khai của hai ba linh mục khác ở Huế cho ngài như là nạn nhân của bất công, và sự phản đối phần nào ngấm ngầm của nhiều linh mục ở Huế và một hay hai giám mục.


(còn tiếp)