Phân tích sự đàn áp Của Đảng Cộng Sản Việt-Nam Đối với Tự Do Tôn Giáo của Giáo Hội Công Giáo (Phần I)
Lm. Trần Xuân Tâm
LTS: Chúng tôi xin mạn phép đăng lại Bản "An Analysis of the Vietnamese Communist Party's suppression of the Catholic Church" bằng tiếng VN của Lm. Phaolô Trần Xuân Tâm thuộc TGP Hoa Thịnh Đốn nhân ngày Lễ Tạ Ơn năm 2002. Bản Phân tích bằng tiếng Anh này chăc chắn đã được chuyển vào Toà Bạch Ốc cho Chính Quyền của TT George W Bush và Bộ Ngoại Giáo Hoa Kỳ. Tuy nhiên từ mấy năm qua, BNG Hoa Kỳ vẫn cho điểm tốt CSVN về nhân quyền và tự do tôn giáo thì thật là một điều lạ.
Những gì TNGD nói về hệ thống tôn giáo quốc doanh tại Việt-Nam từ trước đến nay đều bị chụp mũ tiếng 4C "Chống Cha Chống Chúa". Xin mời quý vị đọc để tìm hiểu thêm.
Trong bài phân tích này:
* Trước tiên, người viết sẽ trình bày lý do và mục đích tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN [1] ) đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam.
* Kế đến là phần nói về chi tiết ba chiến lược mà Đảng dùng để đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội vì mục đích vừa nói.
* Kết thúc bài phân tích là việc giải thích đâu là hậu quả có tác dụng hủy hoại nhất mà những chiến lược đàn áp này gây ra cho người Công Giáo ở Việt Nam.
[1] Như sẽ thấy trong bài phân tích, tôi dùng "ĐCSVN" thay vì những danh từ khác như "chính quyền CSVN"." nhà cầm quyền CSVN", hay "Công an CSVN", v.v... Lý do đơn giản và hiển nhiên thôi: Như là một thứ độc tài toàn trị muốn có quyền lực tuyệt đối, ĐCSVN điều khiển và sở hữu mọi quyền lực và quyến hành trong nước. Tòa Án tối cao, QH, CP, Lực Lượng Võ Trang, CA, v.v.. chỉ là những dụng cụ hay những hình thức khác nhau của quyền lực toàn trị của đảng.
I.- Lý do và mục đích tại sao ĐCSVN đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội CG tại VN.
Là một chế độ toàn trị tuyệt đối, ĐCSVN không bao giờ xem ích lợi của nhân dân và đất nước như là mục đích của họ. Mục đích duy nhất và không thay đổi của Đảng là duy trì và bành trướng quyền lực, một khi nó đã được thiết lập. Mọi cái khác chỉ được Đảng dùng như là những phương tiện hay tối thiểu phải bị Đảng làm mất hết khả năng gây ra bất kỳ cản trở nào cho mục đích đó. Ngay cả ích lợi của nhân dân, độc lập và thống nhất của đất nước cũng không là luật trừ, phương chi là đời sống và những hoạt động của Giáo Hội Công Giáo tại VN. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm bốn thập niên đối phó với Giáo Hội, Đảng biết rất rõ rằng bách hại kiểu Stalin, dù được dùng nhiều nhất và mạnh mẽ nhất trong quá khứ, đặc biệt đối với Giáo Hội Công Giáo ở miền Bắc, vẫn không bao giờ tiêu diệt được Giáo Hội, để nhờ đó một lần duy nhất Đảng loại đi hết mọi trở ngại mà Giáo Hội có thể gây ra cho quyền lực của mình .
Một khi những tiền đề đó được hiểu, thì dễ dàng hơn cho chúng ta thấy rằng:
(1) Điều mà ĐCSVN cần làm đối với Giáo Hội không phải là xóa sạch Giáo Hội nhưng là đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội ;
(2) Đảng làm vậy, không phải vì Đảng sợ hay nghi ngờ rằng Giáo Hội , nếu được phép tự do, có thể sẽ theo đuổi và gây ra một vài bất lợi cho nhân dân và đất nước VN. Những cái gọi là "sai lầm" của Giáo Hội chẳng hạn như những học thuyết "duy tâm", "phản khoa học" của Giáo Hội [2] , hay những cái gọi là "tội ác" của Giáo Hội ví dụ như những hoạt động quá khứ "phản cách mạng" của Giáo Hội cộng tác với chủ nghĩa thực dân Pháp, v.v. .., thường bị Đảng khai thác và tuyên truyền như là những lý do hàng đầu biện minh cho việc Đảng đàn áp tự do của Giáo Hội .
[2] Từ đầu thập niên 50 cho đến cuối thập niên 80, sự đối lập không thể dung hòa giữa ý thức hệ Cộng sản vô thần và đức Tin Công Giáo rõ ràng đã là một trong những lý do của sự đàn áp. Tuy nhiên, bắt đầu từ thập niên vừa qua, bởi vì đa số đảng viên ĐCSVN, kể cả giới lãnh đạo, không còn tin vào ý thức hệ này nữa, cho nên sự đối lập về ý thức hệ chấm dứt là một lý do trong thực tế.
Tuy nhiên, phân tích cho cùng, chúng chủ yếu che đậy cho một lý do sâu xa hơn và thực tế hơn: một Giáo Hội nếu được phép có tự do sẽ cấu thành một lực lượng tinh thần và xã hội cực kỳ nguy hiểm đối với sự độc tài toàn trị của ĐCSVN. [3]
[3] cũng tương tự, dầu lý do viện dẫn có khác nhau, vụ Cải cách Ruộng đất năm 1956, vụ án Nhân văn Giai phẩm cuối thập niên 50, và vụ án chủ nghĩa Xét lại chống Đảng vào cuối thập niên 60 đều nhằm phục vụ cùng một mục đích ở hậu trường. Chúng đều nhằm củng cố quyền lực toàn trị của ĐCSVN bằng cách khủng bố nông dân, văn nhân thi sĩ, và chính nhiều thành viên của Đảng, và nhờ vậy mà nghiền nát bất kỳ tiềm năng đối lập nào ở nơi những loại người này.
Một tự do như thế sẽ nguy hại cho bản tính toàn trị cộng sản. Nếu điều này đã đúng trong quá khứ, thì nó càng đúng hơn hôm nay.
Thứ nhất, tự do tôn giáo chân thật cho Giáo Hội tương đối hóa và làm suy yếu sự toàn trị tuyệt đối của ĐCSVN, không những trên Giáo Hội, [4] mà còn trên các tổ chức tôn giáo khác và trên các thành phần khác của nhân dân, họ chấn chắn sẽ được tự do tôn giáo của Giáo Hội khuyến khích đòi hỏi và tranh đấu cho tự do tôn giáo của chính họ cũng như cho các nhân quyền căn bản khác.
[4] Nếu không biết rằng ĐCSVN một mực duy trì một thứ quyền toàn trị tuyệt đối, người ta thấy không thể hiểu được tại sao Đảng lại phản đối cách hung hăng và bẩn thỉu việc Đức Giáo Hoàng phong thánh 117 vị thnáh tử đạo VN năm 1988.
Thứ hai, cho phép Giáo Hội hưởng một sự tự do tôn giáo chân thật có thể có nguy cơ khiến cho con cái Giáo Hội có khả năng lên tiếng công khai mà bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của người dân Việt Nam và lên án mọi hình thức bất công xã hội mà nguyên nhân chính yếu về mặt chính trị và xã hội của chúng rõ ràng là ĐCSVN. Bởi đó, Đảng đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam để Đảng có thể ngăn ngừa xảy ra bất kỳ ích lợi nào mà tự do này có thể đem đến cho các nhân quyền căn bản khác của người dân Việt Nam hay có thể đóng góp vào việc dân chủ hóa đất nước.
Tuy nhiên, Đảng vẫn không hài lòng với việc chỉ loại đi bất kỳ tiềm năng nào đối kháng lại sự toàn trị của mình mà có thể ngoi đậy từ việc thi hành tự do này. Đảng muốn thêm điều gì khác, điều gì đó có hiệu năng đối với sự cai trị của Đảng. Chính thật ra, ĐCSVN đàn áp tự do tôn giáo" của Giáo Hội bằng cách nào mà Đảng đồng thời có thể biến Giáo Hội thành ra một dụng cụ hay phương tiện nào đó phục vụ cho sự độc tài toàn trị của mình. Nói cách cụ thể hơn, Đảng cố gắng hết sức để có được sự phục tùng và cộng tác từ những thành phần thuộc hàng giáo phẩm của Giáo Hội. Đảng muốn tất cả hoạt động của Giáo Hội bằng những cách khác nhau phải hướng đến việc hữu dụng cho Đảng, giúp Đảng tiếp tục nắm quyền.
Nói tắt một lời, khi đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam, ĐCSVN không có mục đích nào khác hơn là tước đoạt sự đọc lập tự trị của Giáo Hỏi, chủ yếu là có được sự phục tùng và cộng tác của hàng giáo sĩ, và nhờ vậy mà biến Giáo Hội thành một phương tiện phục vụ quyền lực toàn tri của Đảng. Chính Mai Chí Thọ, bộ trưởng bộ Nội Vụ của Đảng trước đây, đã ám chỉ đến mục đích này với lời đe đoạ sau trong một buổi họp vào ngày 23 tháng Sáu năm 1990 với giới Công Giáo Sài Gòn (Giám mục Nguyễn Minh Nhật, Chủ tịch của Hội đồng Giám mục vào lúc đó, cũng có mặt tại buổi họp). Thọ nói: ""Nếu các vị không đi với chúng tôi, thì có nghĩa là các vị không thể đoàn kết với chúng tôi, mà cũng có nghĩa vị chống chúng tôi, không thể có nghĩa nào khác (sic) ! " [5]
[5] Toàn bộ bài nói chuyện của Thọ được Công Giáo và Dân Tộc đăng trong các số ra ngày 5 và ngày 12 tháng Tám năm 1990. Công Giáo và Dân Tộc là tờ tuần báo của ủy han Đoàn kết Công Giáo Yêu nước. Tôi sẽ nói thêm về ủy ban này sau.
II- Những chiến lược mà ĐCSVN dùng để đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội với mục đích là tước đoạt sự độc lập và tự trị của Giáo Hội, chủ yếu là có được sự phục tùng và cộng tác của hàng giáo sĩ, và nhờ vậy mà giản lược Giáo Hội thành một phương tiện phục vụ sự toàn trị của Đảng.
Để đạt được mục đích nói trên, bên cạnh sự đàn áp kiểu Stalin, ĐCSVN cần phải bày ra và sử dụng những chiến lược đàn áp khác. Những chiến lược này có thể công khai hay bí mật, bạo lực về mặt thể lý hay lừa đảo về mặt tâm lý, phù hợp hay không phù hợp với chính luật pháp mà chính Đảng làm ra. Chúng có thể được chia ra thành ba loại sau.
A.- Chiến lược thứ nhất
ĐCSVN cố gắng làm cho hàng giáo sĩ Công Giáo ở VN phục tùng sự thống trị của họ bằng những hạn chế và cấm đoán ít nhiều chính thức của đảng đối với những hoạt động thông thường của Giáo Hội như bổ nhiệm giám mục và giám quản giáo phận, phong chức linh mục, bổ nhiệm và thuyên chuyển linh mục, hội họp của các giám mục và linh mục. chiêu mộ chủng sinh, v.v . . .
Những hạn chế này đã từng được mô tả nhiều rồi. Tuy nhiên theo chỗ tôi biết những bản tường trình và những chứng từ ngoại quốc về việc Đảng đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội đã thiếu sót không giải thích bản tính chiến lược của việc Dùng sử dụng những hạn chế này. Có nghĩa là, Đảng không áp dụng những hạn chế này một cách đồng đều không thiên vị nhưng một cách phân biệt hay chọn lọc nhằm những mục tiêu sau:
(1) Để loại trừ khỏi những vị trí lãnh đạo, khỏi những tác vụ tôn giáo, hay thậm chí khỏi hàng giáo sĩ bất kỳ người nào có khuynh hướng đối lập lại sự đàn áp của ĐCSVN để bảo vệ sự độc lập và tự trị của Giáo Hội trong các hoạt động tôn giáo của mình. [6]
[6] Từ đây trở đi, những người Công Giáo mà có thái độ này đối với ĐCSVN sẽ được đề cập đến như là những người Công Giáo thuộc nhóm thứ nhất.
Trong số nhiều giáo sĩ nổi tiếng của nhóm thứ nhất này có cố Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền của Huế, Linh mục Chân Tín, dòng Chúa Cứu Thế, ở Sài Gòn, Linh mục Nguyễn Văn Lý cùng thuộc Huế, và Giám mục Huỳnh Văn Nghi của Phan Thiết. Những thái độ và hành động của ba vị giáo sĩ nói trước từng quá nổi tiếng đến nổi tôi không cần đề cập đến ở đây. Thay vào đó, cần có đôi điều nói đến trường hợp của Đức cha Nghi. Khi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa của Sài Gòn vào ngày 10 tháng Tám năm 1993, Đức cha Nghi đã cố giới hạn quyền hành của Linh mục Huỳnh Công Minh, Tổng Đại diện, người mà Đảng ủng hộ mạnh mẽ. [7]
[7] Tôi sẽ nói nhiều đến linh mục này sau.
Vì nỗ lực trên đây của Đức cha, ĐCSVN đã không thừa nhận việc bổ nhiệm và ngăn cản ngài thi hành tác vụ này cho đến khi Tòa Thánh bổ nhiệm Tổng Giám mục hiện hành Phạm Minh Mẫn vào năm 1998.
Một số giáo sĩ khác trong nhóm thứ nhất này mà cá nhân tôi từng biết đến là một vị linh mục chánh xứ ở một giáo phận nọ [8] và Linh mục Phan Văn Lợi.
[8] Vì lý do an toàn của ngài tránh trường hợp Đảng gây rắc rối cho ngài, tôi xin phép không nói rõ những chi tiết về tên tuổi và nơi chốn.
Vị linh mục chánh xứ vừa nói đã nhiều lần làm cho ĐCSVN bực tức vì những bình luận khôn ngoan của ngài mà nhờ đó ngài đã có thể vừa phê bình Đảng về việc Đảng đàn áp tự do tôn giáo của Giáo Hội và cùng lúc vừa bài bác được những lời buộc tội khả dĩ của Đảng chống lại ngài. Hậu quả là, năm 1989 khi vị linh mục kể trên được Giám mục sở tại bổ nhiệm làm Tổng Đại diện của giáo phận, thì Đảng đã ngăn cản ngài thi hành chức năng này bằng cách từ chối cho phép ngài đổi về tòa giám mục. Đảng cũng cố gắng tạo một thứ áp lực về mặt tâm lý ở trên ngài bằng cách đổ lỗi rằng chính vì ngài có thái độ "xấu" đối với Đảng, mà Đảng giữ lại một số đại chủng sinh trong giáo xứ của ngài không cho chịu chức linh mục. Ngay cả nhiều năm sau, khi vị linh mục này rời bỏ giáo phận vào khoảng năm 1993 mà nhập một giáo phận khác, Đảng vẫn chưa bỏ qua "những tội" của ngài.
Đảng không cho phép vị giám mục của giáo phận mới bổ nhiệm ngài về ngay cả một giáo xứ nhỏ bé . Khi một giáo sĩ ở trong sổ "đen" rồi, thì ĐCSVN sẽ thù ghét người đó tới chết, trừ khi người đó thực sự chuộc "lỗi lầm" bằng cái mà Đảng có thể chấp nhận.
Về Cha Lợi thì ngài bị cấm không cho thi hành tác vụ linh mục, không những vì ngài được Tầm Nguyễn Văn Thuận [9] truyền chức linh mục cách bí mật vào ngày 21 tháng 5 năm 1981, mà còn vì ngài đã điều khiển một vở kịch tựa đề" là "Dâng con cho Mẹ" tại giáo xứ chính tòa Phủ Cam vào ngày 21 tháng 9 năm 1981. Vở kịch phê bình việc ĐCSVN cấm cản một nhóm tín hữu Công Giáo hành hương đến Đền thánh Đức Mẹ La Vang.
[9] Tổng Giám mục Thuận, người lúc đó đang bị quản thúc tại gia ở Giang Xá, Sơn Tây, bây giờ là Hồng y (đã qua đời) và là Chủ tịch của Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình.
Vì hai "tội này mà Đảng đã giam cầm ngài trong trại cải tạo 7 năm, từ năm 1981 đến 1988. Đặc biệt, từ cuối năm 2000 đến nay Cha Lợi là một người lên tiếng công khai mạnh mẽ và trung thành ủng hộ cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo của Cha Lý . Cũng vì thế mà cha đang bị công an giám sát 24 giờ trên 24 giờ không cho ra khỏi nhà, cho dù không có bất kỳ bán án hình thức nào.
(2)- đe dọa và cảnh cáo trước những người nào mà ĐCSVN vẫn chưa có thể xác định được thái độ đối với Đảng [10] rằng họ nên tỏ ra ngoan ngoãn và phục tùng đối với Đảng nếu muốn ở trong tình trạng "tốt". (Cũng dễ thấy là nhóm thứ hai này là nhóm đông nhất trong ba nhóm).
[10] Từ đây về sau, những người Công Giáo như thế sẽ được phân loại như là nhóm thứ hai.
Sự kiện sau đây chỉ là một trong muôn vàn ví dụ cho sự đe dọa và cảnh cáo như thế. Khi Đại chủng viện Huế được Đảng cho phép mở cửa lại vào năm 1994, những ứng sinh ở Đà Năng được triệu hồi đến Sở Công an nhiều lần. Công an của Đảng nói thẳng thừng với một số ứng sinh, "Các anh phải biết rằng đất nước của các anh là Việt Nam, không phải là Vatican; vậy các anh phải biết ai là người các anh phái trung thành" . Còn đối với các ứng sinh khác thì họ sỉ nhục chính xác tín Công Giáo về bản chất thánh thiêng và nhưng không của ơn gọi linh mục khi ngạo mạn tuyên bố: "Không phải là Chúa mà là chính chúng tôi chọncác anh vào chủng viện và làm cho các anh thành linh mục " (sic).
(3) - Để nâng đỡ và thưởng công với ít hạn chế hơn hay ngay cả không có hạn chế nào những người Công Giáo tỏ ra lụy phục đứng trước việc ĐCSVN đàn áp sự độc lập và tự trị của Giáo Hội hay ít nữa chứng tỏ không cả ước muốn đối lập lại sự đàn áp
này. [11]
[11] Từ đây về sau, những người Công Giáo này sẽ được phân loại như /à nhóm thứ ba.
Hệ quả là, Đảng đùng những linh mục và giám mục thuộc nhóm thứ ba này như /à những "trung gian" được ưa chuộng, mà sự giúp đỡ của họ Đảng mong muốn Giáo Hội phải tìm kiếm, nếu Giáo Hội muốn xin Đảng nới lỏng một vài hạn chế cụ thể.
Vai trò trung gian này ĐCSVN đã thường chính thức ban cho các linh mục thuộc nhóm thứ ba khi mà họ gia nhập ủy ban Đoàn kết Công Giáo Yêu Nước. [12]
Ủy ban này là một bộ phận của Mặt trận Tổ Quốc việt Nam và trong bản chất là một tổ chức do ĐCSVN điều khiển.
[12] Từ đây về sau, UBĐKCGYN.
Một trong những bổn phận của nó đối với Đảng là hoạt động như một thứ phát ngôn viên bán chính thức của Đảng đối với giới Công Giáo ở Việt Nam bằng cách xuất bản tờ tuần báo gọi là Công Giáo và Dân Tộc. [13] .
[13] Trả lời cho một câu hỏi "Đức cha nghĩ sao về ủy ban Đoàn kết Công Giáo Yêu nước? (Que pensez-vous du Comité d'union des catholiques patriotes)" của báo Eglises d' Asie trong cuộc phỏng vấn vào ngày 12 tháng Mười Hai năm 1990, Giám mục Nguyễn Minh Nhật của Giáo phận Xuân Lộc nói: "Ủy ban giữ tờ báo Công Giáo độc nhất tại miền Nam Việt Nam: tờ "Công Giáo và Dân Tộc". Nhưng cả ủy ban lẫn tờ báo nên được coi như là những cơ quan của nhà nước thì hơn. Những bài viết của tờ báo luôn luôn bênh vực chính sách của chính phủ và rất thường phê bình đối với Giáo Hội. Chúng không cho (người đọc) một ý tưởng đúng đắn về Giáo Hội tại Việt Nam ( Le Comité détient l"unique jouma/ catholique du Sud Viet-nam: "Le Catholicisme ẹt la Nation" Cependent, l'un com me l"autre doivent être considérés plutôt comme des organes de l'état. Les articles du joumal sont toujours en faveur de la politique gouvernementale et très souvent critiques vis-à-vis de l' Église. Ils ne donnent pas nhe idée juste de l'Église du Viet-nam )"
Cố Tổng Giám mục Sài Gòn, Đức cha Nguyễn Văn Bình, phải thừa nhận rằng: "Chúng tôi dựa vào UBĐKCGYN để giải quyết một số vấn đề. Chẳng hạn, nếu tôi muốn triệu tập tín hữu mà xin phép Nhà nước, Nhà nước sẽ không cho. Nhưng nếu tôi nhân danh UBĐKCGYN để triệu tập tín hữu thì Nhà nước sẽ cho phép dễ dàng" . [14]
[14] Trả lời phỏng vấn của báo Il Regno Attualità ngày 15 tháng Tư năm 1990.
Cũng đáng lưu ý rằng, như nhiều bằng chứng cho thấy, ĐCSVN cố làm cho nhiều giáo sĩ Công Giáo tham gia vào UBĐKCGYN và vào một vài tổ chức chính trị khác như Quốc Hội và Hội đồng Nhân dân ở các cấp khác nhau, để mà dụ dỗ họ không vâng phục Giáo Hội, để dùng nhiều thứ hội họp và công việc chính trị mà ngăn cản họ khỏi chu toàn bổn phận linh mục của mình đối với Đức Kitô và Giáo Hội, [15]
[15 ] "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dễ chủ nọ" (Matthêô 6, 24).
và cuối cùng để dễ dàng gài bẫy họ vào những sai phạm luân lý để Đảng nấm được khuyết điểm mà khai thác, [16] là điều sẽ bảo đảm được sự phục tùng và cộng tác trung thành của họ.
[16] Xem chiến lược thứ hai.
- Cũng để can thiệp sao cho những giáo sĩ Công Giáo thuộc nhóm thứ ba có thể đạt được những vị trí quan trọng trong hàng lãnh đạo Giáo Hội. Lúc đó qua họ, ĐCSVN có thể bí mật xâm nhập vào chính cơ cấu của Giáo Hội và phát triển ở trong đó những nhân tố năng động phục vụ cho mục đích của Đảng cách phập pháp.
Trường hợp khét tiếng nhất có lẽ là Linh mục Huỳnh Công Minh , một thành viên rất tích cực của UBĐKCGYN. Được bầu làm đại biểu Quốc hội, Linh mục Minh đã tuyên bố trong bài phát biểu tại một phiên họp của Quốc hội vào năm 1976 rằng "con người mới, xã hội mới mà mọi người đều mơ ước mà mọi người tin vào Chúa Kitô Giê su mãi mơ ước, con người mới đó, xã hội mới đó" không thể có được, không bao giờ có được, nếu không có Đảng Lao Động Việt Nam, [17]
[17] Tên của ĐCSVN vào lúc đó.
đội tiền phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo và tổ chức (sic). [18] Linh mục Minh cũng đã từng là tổng biên tập của tờ Công Giáo và Dân Tộc, một tờ báo của Đảng như đã chỉ ra ở trên.
[18] Bản tin ngày 7 tháng Bảy năm 1976 của Thông Tân Xã Việt Nam, tức cơ quan thông tin của Đảng, đã đăng lời phát biểu này.
Cái bảnchất nguy hiểm của mối quan hệ của ông với Đảng được đánh giá thích đáng hơn từ khi nó bị tiết lộ trong một lá thư riêng mà Linh mục Vương Đình Bích, chủ tịch của UBĐKCGYN thành phố HCM vào lúc đó, viết cho một số cơ quan của Đảng vào ngày 25 tháng Mười Hai năm 1997 để giải thích cho những cơ quan này việc xung đột mang tính chia rẽ giữa các thành viên của UBĐKCGYN về một số vấn đề tài chính. [19]
[19] Lá thư viết: "Tôi, (LM. Bích) đã thành khẩn nói với hai anh Từ (Lm. Phan Khắc Từ) và Cần (Lm. Trương Bá Cần), là vấn đề thật của Tổ chức chúng ta, không phải là Nhóm nghiên cứu, mà là Nhóm 4 anh em chủng tôi, Minh ( (Lm. Huỳnh Công Minh)-Cần-Từ-Bích đã được lãnh đạo
Với biết bao phẩm chất "tốt" và thành tựu theo tiêu chuẩn của Đảng, ĐCSVN rõ ràng đã xem Linh mục Minh như là ứng viên tốt nhất của chức vụ Tổng Giám mục Sài Gòn. Nhưng sau khi chắc chắn thấy rằng linh mục này rõ ràng là một nhân vật thất sủng (persona non grata) trong mắt Toà Thánh cho bất kỳ vì trí giám mục nào. Đảng bảo vệ quyền hành của ông bằng cách khác. Đảng dứt khoát đòi hỏi sau phải được thoả mãn như là một trong những điều kiện để Đảng chấp nhận bất cử ứng viên nào khác hơn là Linh mục Minh cho chức vụ Tổng. Giám mục Sài Gòn. Đó là bất kỳ tân Tổng Giám mục nào cũng không được loại ông ra khỏi vị trí tổng đại điện hay cắt giảm quyền hành của ông, quyền hành mà ông hưởng dưới thời cố Tổng Giám mục Bình. Điều đó muốn nói là trong thực tế quyền hành của Linh mục Minh nhiều hơn xa quyền hành của một vị tổng đại diện bình thường theo Giáo luật Hơn nên, dưới thời Tổng Giám mục Bình, Đảng đã can thiệp bằng cách khác nhau để Linh mục Minh và những người Công Giáo khác thuộc nhóm thứ ba có thể thống trị Ban Cố vấn của Tổng Giáo phận Sài Gòn. "Ban này, ngoài hai Đức cha, gồm sáu ủy viên, mà bốn ủy viên là những người chóp bu của UBĐKCGYN (Nguyễn Huy Lịch (linh mục), Phan Khắc Từ (linh mục), Huỳnh Công Minh (linh mục), Nguyễn Đình Đầu (giáo dân). Còn lại là Cha Mai Xuân Hậu và Chân Tín [20]
[20] Thư Linh mục Chân tín gửi Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình ngày 17 tháng Mười năm .
Một trường hợp khác ít được biết đến hơn nhưng không kém nghiêm trọng đó là Linh mục Nguyễn Bình Tĩnh của Đà Nẵng (nay là Giám mục), người đã ủng hộ những hoạt động và chính sách của ĐCSVN công khai và hăng say đến nỗi gây "scandal" cho nhiều người Công giáo trong giáo phận. Ví dụ, trong những bài giảng phụng vụ, ông trích dẫn các văn kiện của Đảng như một thứ hướng dẫn luân lý cho tín hữu Công Giáo. [21]
[21] Khi còn là một chú giúp lễ ở giáo xử Thanh Đức, Đà Nẵng, vào những năm 80, chính tôi đã chứng kiến một trường hợp như vậy vào một dịp cử hành Tam Nhật Thánh mà Linh mục Tĩnh chủ sự vì cha chánh xứ của tôi tạm thời mất tiếng sau một cuộc giải pháp ở cổ.
Nhiều người Công Giáo ở Đà Nẵng cũng đã tường thuật rằng vào.một ngày Chúa Nhật năm 1991, Linh mục Tĩnh đã cho phép một viên chức của Đảng nói chuyện ở trong nhà thờ giáo xứ An Hải của ông mà kêu gọi giáo dân tham gia chương trình công trái của Đảng. Và như thể điều này chưa đủ, vào tháng Ba năm 1993, lại cũng trong một thánh lễ Chúa Nhật, Linh mục Tĩnh đích thân phân phát cho giáo dân những tập giấy của Đảng quảng bá ngừa thai nhân tạo và phá thai (lưu ý rằng Đảng không những cho phép mà còn khuyến khích phá thai không hạn chế). Có sẵn một linh mục tốt như thế, Đảng đòi hỏi rằng ông phải được đặt làm Giám Đốc Đại Chủng viện Huế như là một trong những điều kiện để chủng viện được mở cửa lại vào năm 1994. Không chỉ có vậy, Đảng còn thành công trong nỗ lực kiên trì và có tổ chức của mình để ép Giáo Hội vào góc tường khiến Giáo Hội khó có thể tránh bổ nhiệm Linh mục Tĩnh làm Giám mục phó có quyền kế vị của Đà Nẵng vào tháng Sáu năm 2000 (và bây giờ là Giám mục chính tòa). [22]
[22] Ngay từ những năm 95, 96, nhiều linh mục và giáo dân của Giáo phận Đà Nẵng đã biết đến một văn thư được Công an Đà Nẵng gửi đến cho Linh mục Tĩnh, trong đó họ đã thẳng thừng gọi ông là "Giám mục". Một sự kiện khác cũng đáng biết. Trong giáo phận có một vài linh mục ít nhiều xứng đáng là những ứng viên giám mục nhưng các vị đã bị bổ nhiệm dạy trong ban giáo sư của Đại Chủng viện Huế vì chủng viện thật sự cần sự giúp đỡ của các ngài. Đảng đòi hỏi rằng vì những linh mục này bây giờ sống và dạy tại chủng viện như là thành viên của ban giáo sư, các ngài phải huỷ bỏ thường trú của mình ở Đà Nẵng mà đăng ký thường trú ở Huế. Hệ quả là, các ngài mất thường trú ở Đà Nẵng. Đòi hỏi này hóa ra là một bước trong âm mưu được Đảng chuẩn bị từ lâu âm mưu này sau đó đã sử dụng tình trạng thường trú ở nơi khác như là một lý do hợp pháp để từ chối việc đề cử những linh mục đang nói vào chức vụ Giám mục Đà Nẵng và nhờ vậy mà để dành cơ hội cho một mình Linh mục Tĩnh. Thật vậy, nếu cùng một logic ở trên mà đã được áp dụng, thì Đảng đáng lẽ phải đòi hỏi việc hủy bỏ thường trú của Linh mục Tĩnh ở Đà Nẵng còn nhiều hơn là Đảng đã làm vậy đối với những linh mục vừa nói trên, bởi vì ông là Giám đốc Đại Chủng viện Huế. Nhưng trái lại, Đẳng đã không làm vậy, mà lại một mực đòi rằng ông phải duy trì thường trú ở Đà Nẵng. Cuối cùng, một nguồn riêng cho biết rằng dầu Giám mục cũ, Đức cha Nguyễn Quang Sách, sức khoẻ rất yếu kém và hết sức cần người thay thế hay tối thiểu là một vị phó có quyền kế vị, nhưng ngài vẫn không muốn Linh mục Tĩnh vào vị Giám Mục cũng như đã không đề cử ông, có lẽ vì ngài sợ những nguy hại lớn lao cho Giáo Hội trong tương lai.
Từ lúc đó, đúng y như Đảng sắp đặt và dự định sẽ xảy ra, nhờ vào quyền hành giám mục, sự phục tùng và cộng tác của ông đối với Đảng càng có nhiều hiệu quả hơn. Hai câu chuyện sau đây có thể xem như là những ví dụ. Vào cuối năm ngoái, khi Đảng từ chối bồi thường cho giáo xứ Thanh Đức về khoảng 2, 000 mét vuông mà Đảng lấy từ đất của giáo xứ để mở rộng đường, thì cha chánh xứ, Linh mục Đặng Đình Canh, và hầu hết các thành viên của giáo xứ đồng lòng quyết định dùng luật pháp mà tranh đấu đòi bồi thường. Giám mục T nữ đến thăm giáo xứ để điều tra sự việc Sau khi tận tai nghe quyết định của giáo xứ, lúc ra về, ông nói riêng với Cha Canh: "Tôi không muốn (giáo xứ) làm ồn ào chuyện này". Hiểu được vị giám mục muốn nói gì, vị linh mục chọn lựa vâng theo và khuyên các thành viên của giáo xứ bỏ đi quyết định vốn có của họ, và để cho Đảng lấy đất không tốn một xu. Gần đây hơn, trong một cuộc phỏng vấn của báo Công Giáo và Dân Tộc vào tháng Năm năm nay, Giám mục Tĩnh đã công khai bảo vệ việc giáo sĩ Công Giáo tham gia vào các tổ chức chính tả của Đảng, cụ thể là việc Linh mục Nguyễn Tấn Khóa, một trong những linh mục của ông, được giới thiệu ra ứng cử vào Quốc hội. ông nói: "Giáo Hội khuyến cáo các linh mục không nên tham gia vào các đảng phái chính trị và làm chính quyền vì sợ bị chi phối mục vụ và mất đoàn kết. Tuy nhiên mỗi nước có những thể chế chính trị riêng. Trong bối cảnh việt Nam chúng ta, công quyền ít có sự hiện diện của Giáo Hội, nên tôi thấy các linh mục tham gia vào Quốc hội là chuyện bình thường và cần thiết vì Quốc hội là tập hợp của khối đại đoàn kết gồm đại diện nhiều thành phần khác nhau. Do đó, ở giáo phận tôi, nếu linh mục nào được nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội, tôi thấy không có trở ngại nào (sic)". [23]
[23] Xem toàn bộ bài phỏng vấn trong số ra từ ngày 24 đến ngày 30 tháng Năm năm 2002 của Công Giáo và Dân Tộc: trang 14 và trang 40.
(còn tiếp)