TỪ DARWIN ĐẾN ... HỒ CHÍ MINH
Sơn Tùng
Hiện đang có một chiến dịch của những người vô thần ở Tây phương để vận động nhìn nhận ngày 12 tháng 2 hàng năm, ngày sinh của Charles Darwin, là “Ngày Darwin”, thay thế cho Ngày Chúa Giáng Sinh (Christmas).
Theo những tín đồ tân thời của Darwin thì ông ta là nhà khoa học vĩ đại nhất thế giới, và thuyết tiến hóa (evolution) của ông ta là nền móng của môn sinh học hiện đại, hay có thể là của toàn thể khoa học hiện đại.
Lý thuyết của Darwin, cuốn “The Origin of Species” (Nguồn gốc loài vật) xuất hiện vào năm 1859, cho rằng mọi sinh vật trên trái đất đều là hậu duệ của một tổ tiên chung, được cải tiến bằng những tiến trình không định hướng như sự biến thể ngẫu nhiên hay lựa chọn tự nhiên.
Thuyết trên đây đã bị nhiều nhà khoa học công kích vì tuy không ai nghi ngờ rằng sự biến thể và chọn lựa có thể tạo ra những thay đổi nhỏ bên trong những loài vật đang hiện hữu, hay tiến hóa vi mô (microevolution), không có bằng chứng cho thấy sự tiến hóa vi mô dẫn tới nguồn gốc của những loài vật mới, các bộ phận và thân thể mới, hay tiến hóa vĩ mô (macroevolution), như lập luận của Darwin.
Trọng tâm lý thuyết của Darwin là về nguồn gốc con người mà ông ta nói rằng là hậu thân của loài vượn Homo sapiens trải qua những biến đổi tiệm tiến kéo dài hàng trăm ngàn năm không bị đứt quãng.
Nhưng cho đến nay, lập luận của Darwin chỉ là một sự suy đoán. Thật vậy, không một ai từng quan sát được một tiến trình biến thể và chọn lựa nào đã tạo ra một loài vật mới. Kể cả môn di truyền học hiện đại cũng không giải quyết được vấn đề. Mặc dầu các môn đệ của Darwin ngày nay tuyên bố rằng có “vô số bằng chứng” hậu thuẫn cho lý thuyết của ông ta, sự thật vẫn là sự thật. Một con vượn là một con vượn, không bao giờ có thể tiến hóa thành con người, hay con gì khác. Ngay một con ruồi dấm (fruit fly), với khoa học tiến bộ hiện nay, người ta cũng không thể cải biến nó thành một cái gì khác. Dù tác động thế nào lên DNA của phôi thai một con ruồi dấm, người ta cũng chỉ tạo được ba loại ruồi dấm: một con ruồi dấm bình thường, một con ruồi dấm khuyết tật, hay một con ruồi dấm chết.
Lý thuyết của Darwin cũng không phải là nền móng của môn sinh học hiện đại. Hầu hết các quy luật căn bản của môn sinh học đều đã được đặt ra trước ngày Darwin chào đời – trong đó gồm cơ thể học, sinh lý học, thực vật học, động vật học, vi trùng học, phôi sinh học, thực thể tiền sử học và khoa học phân loại. Đồng thời với Darwin, Gregor Mendel lập ra môn di truyền học và Louis Agassiz cùng với Richard Owen khai sáng môn sinh học đối chiếu. Nhưng, không ai trong những nhà khoa học này chấp nhận thuyết Darwin.
Những người bác khước cho rằng cuộc cách mạng của Darwin thuộc về triết học cơ bản, và triết học của Darwin đã giới hạn khoa học vào “việc khám phá những quy luật phản ảnh sự vận hành của thiên nhiên thuần túy hay nguồn gốc thứ hai”.
Thực ra, thuyết Darwin luôn luôn được xem như triết học hơn là khoa học. Với mọi người, khoa học có nghĩa là thử nghiệm giả thuyết bằng cách so chiếu chúng với bằng chứng. Tuy nhiên, với Darwin và các môn đệ của ông ta, “khoa học” trở thành tìm kiếm những sự giải thích tự nhiên.
Sự suy đoán cho rằng mọi vật đều có thể giải thích bởi những nguyên nhân tự nhiên đã dẫn đến triết lý duy vật. Darwin đã không đề xuất một giả thuyết rồi được xác định bởi bằng chứng – như các nhà khoa học thực sự đã làm. Thay vào đó, Darwin đã cung cấp cái mà nhà sinh học tài danh Douglas Futuyma gọi là “một bệ đỡ chủ yếu cho nền móng của thuyết cơ giới và thuyết duy vật”mà ngày nay đang chế ngự tư tưởng Tây phương - dù Chủ nghĩa Marx, một lý thuyết đã dùng thuyết tiến hóa của Darwin làm bệ đỡ chủ yếu cho nền móng, đã sụp đổ.
Đúng ra, không phải đợi đến lúc các chế độ cộng sản tại Đông Âu bị loại trừ vào cuối thập niên 1980, Chủ nghĩa Marx mới sụp đổ. Chủ nghĩa ấy đã bị chính Marx chối bỏ vào lúc cuối đời khi ông ta trối trăng với đám đệ tử trung thành để yêu cầu họ giải tán: “Tất cả điều tôi biết bây giờ là tôi không phải là một người Mác-xít” (All I know is I am not a Marxist.”
Thế nhưng, sau khi Marx qua đời, các đệ tử của ông ta đã không chịu tan hàng. Họ tiếp tục sử dụng và khai thác chủ thuyết của ông ta để chiếm đoạt quyền lực nhân danh lý tưởng vô sản, dựng nên những chế độ tàn bạo, gây ra những tai ương và tội ác kinh tởm đối với nhân loại.
Các chế độ cộng sản đã sụp đổ tại Ân Châu nhưng còn tồn tại ở vài nơi khác, trong đó có Việt Nam, một nước hoàn toàn không có những điều kiện kinh tế xã hội để áp dụng chủ thuyết Marx và tiến hành một cuộc cách mạng vô sản, đấu tranh giai cấp.
Vào đầu Thế kỷ 20, xã hội Việt Nam là một xã hội chậm tiến về kinh tế, chủ yếu là nông nghiệp, không có kỹ nghệ, không có giai cấp công nhân mà cũng không có tư bản bóc lột – những yếu tố để áp dụng chủ nghĩa Marx. Vì vậy, đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã phải dựng ra chiêu bài yêu nước, giành độc lập để từ đó chiếm quyền và dựng ra chế độ độc tài đảng trị khoác áo chủ nghĩa Mác-Lê.
Và cũng như các đảng cộng sản ở những nơi khác khi nắm được chính quyền, CSVN cũng dựa vào thuyết Darwin (thủy tổ của loài người là giống vượn) để hủy diệt tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo, quảng bá thuyết vô thần. Và như vậy, sau hơn 60 năm nắm độc quyền cai trị Việt Nam (miền Bắc trước rồi cả miền Nam) bằng bạo lực và lừa dối, CSVN đã gây ra rất nhiều tàn phá để xây dựng nên một xã hội băng hoại cực kỳ, hỗn độn cực kỳ, trong đó mọi con người chỉ còn biết xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để giành giật vật chất, chiếm giữ vật chất, đầu không định hướng, mắt không nhìn thấy tương lai, chân không biết đi về đâu.
Chính những kẻ nắm quyền sinh sát cũng không biết sẽ đưa cái xã hội ấy đến đâu, dù mồm nói “định hướng xã hội chủ nghĩa”, vì tất cả mọi cái đều đã tan vỡ: đạo lý, văn hóa, nhân phẩm, niềm tin. Họ cổ vũ vô thần để rồi bằng lừa phỉnh và tuyên truyền, áp chế, họ ra công thần thánh hóa Hồ Chí Minh để bắt nhân dân tôn thờ, thay cho Phật, thay cho Chúa. Nhưng, chính thần tượng Hồ Chí Minh ngày nay cũng đã sụp đổ, hiện nguyên hình là một con người gian ác, phàm tục.
Đảng viên CSVN đã theo Hồ Chí Minh, một trong những tên giả của Nguyễn Tất Thành, đem chủ nghĩa Mác-Lê vào Việt Nam, phá hủy nền móng hàng ngàn năm của xã hội Việt Nam, với mộng mơ xây dựng thiên đàng vô sản và vô thần với kiểu mẫu là Liên-Xô vĩ đại. Rồi thì Liên-Xô tan vỡ ra hàng chục mảnh, phơi bày những tang chứng đen tối của tội ác trong non một thế kỷ dưới chế độ cộng sản, kinh sách Mác-Lê bị ném vào đống rác, các tượng đài lãnh tụ vĩ đại nằm ngổn ngang bên cống rãnh.
Như những con vượn biến thành người theo thuyết của Darwin, những đồ đệ của Mác-Lê ở Việt Nam hốt hoảng nhận ra không còn hình tượng nào để núp bóng, và họ đem ông Hồ ra bắt nhân dân tôn thờ để cố bám víu lấy quyền lực. Họ có lý do để thờ ông Hồ vì nhờ ông ta mà ngày nay họ cùng nhau ngất ngưởng trên đỉnh cao quyền lực như những vua quan thời phong kiến, tha hồ vơ vét tiền của, giàu có ngàn lần hơn “bọn tư sản bóc lột” ngày xưa, nhưng đối với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là người có công hay có tội?
Cứ nhìn vào đất nước Việt Nam ngày nay thì có thể kết luận công hay tội của Hồ Chí Minh, kẻ được tô vẽ như một lãnh tụ ái quốc và cách mạng vĩ đại, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành lại độc lập và đưa đất nước Việt Nam vào con đường xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, tự do, hạnh phúc.
Hãy để qua một bên đời tư u ám, gian trá của ông ta, HCM và các đồng chí của ông ta đã thành công trong việc lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt Nam, gây ra hai cuộc cuộc chiến tranh (1946-1954 và 1960-1975), đem lại bao đau thương chết chóc và tàn phá; về kinh tế, kéo lùi bước tiến của Việt Nam hàng chục năm so với các nước lân bang; về chính trị, áp đặt một chế độ độc tài lạc hậu, tước đoạt mọi quyền tự do căn bản của người dân, cai trị bằng bạo lực và trại tù giam nhốt những người không chịu cúi đầu tuân phục.
Không thiếu dữ kiện lịch sử để chứng minh vì HCM dùng chiêu bài “chống ngoại xâm” để gieo rắc chủ nghĩa Mác-Lê nên đã đưa đến hai cuộc chiến tranh chẳng những vô ích mà còn gây hận thù, chia rẽ giữa người dân cùng một nước, loại trừ quyền sống và quyền đóng góp tài năng của hàng triệu người để thay đổi vận mệnh dân tộc, gây tổn thất lớn cho tiềm năng xây dựng đất nước, làm Việt Nam mất cơ hội sánh vai bình đẳng với các quốc gia dân chủ tiến bộ trên thế giới.
Con đường của HCM đã đưa đất nước Việt Nam tới chỗ suy liệt: nhân dân bị nhà nước áp bức và hèn hóa, nhưng nhà nước cũng chỉ là công cụ của đảng Cộng sản do đảng dựng ra để phục vụ đảng, tuân lệnh đảng nên cũng bị hèn hóa, rồi đến những kẻ cầm đầu đảng với quyền hành tuyệt đối nhưng cũng tự hèn hóa để tồn tại vì quyền lực của họ không do dân mà ra, không được dân hậu thuẫn, phải dựa vào ngoại bang (Liên-xô, Trung Cộng). Bằng chứng hiển nhiên là dư đảng của ông Hồ đã cúi đầu ngoan ngoãn dâng đất, dâng biển, dâng tài nguyên quốc gia cho đàn anh Trung Cộng, bất chấp nhân dân sôi sục chống đối, đi ngược lại truyền thống dân tộc cương quyết bảo vệ lãnh thổ, từng tấc đất không nhượng cho quân xâm lược phương bắc.
Tất cả chỉ vì HCM và Đảng CSVN do ông ta tạo lập tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lê và bắt mọi người Việt Nam tin rằng con người là do con vượn mà ra, để ngày nay Việt Nam trở thành một nước tụt hậu về kinh tế, cổ quái về chính trị, dân sinh thấp kém, dân trí suy đồi, văn hóa băng hoại.
Gần đây, từ hải ngoại, Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã gửi về trong nước một loạt bài có tầm vóc rất rộng rất sâu về chính trị và tôn giáo mang chung một chủ đề là “Hải Ngoại Huyết Thư”, mà qua sáu bài đã được phổ biến, có thể được dùng như một căn bản lý luận để vạch tội CSVN trước lịch sử và để xây dựng nền móng cho một chế độ dân chủ tại Việt Nam. Trong bài số 6 viết về ý nghĩa và mục tiêu của sự cầu nguyện, Ông Nguyễn Anh Tuấn nhận định về xã hội Việt Nam ngày nay như sau:
“Sống trong xã hội và quốc gia ấy, con người đã mất ánh sáng, mất niềm an vui hạnh phúc, mất tình yêu chân thật, mất tình người, mất niềm tin, và có thể mất cả đời sống tinh thần và sức khỏe. Trong xã hội và quốc gia đó, con người có tai không biết nghe, mắt có nhưng đã thành mù lòa tăm tối, chân bước đi vất vưởng không định hướng, miệng lưỡi xấu xa nói toàn lời gạt gẫm điêu ngoa, trí tuệ bị u trầm đọa lạc và tâm hồn bấn loạn u tối dầy đặc.
“Đó là chỗ tai hại của con người đã tự nhận mình là những kẻ vô thần. Đã vô thần thì sẽ sống vô tâm, vô tính, vô tình, vô đạo và vô pháp. Đã hơn 60 năm qua, kể từ ngày Hồ Chí Minh và đảng CSVN đem chủ nghĩa cộng sản vô thần vào Việt Nam, họ đã bắt dân tộc đó uống những viên thuộc độc mang tính chất tàn phá lần mòn lục phủ ngũ tạng trên dòng sống của một dân tộc. Những con người này đã chống lại đấng Tạo Hóa, chống lại tất cả luật lệ thiên nhiên, và chống lại tất cả mọi giá trị nhân bản của xã hội con người. Thật chưa thấy có giai đoạn lịch sử nào mà thiện tâm và chân tâm của con người bị chính con người tàn phá hủy hoại tận tình đến như thế. Chế độ chính trị đầy tính chất yêu ma quỷ quái này đã liên tục xô đẩy con người vào những cảnh sống làm cho con người từ từ biến thành những con người chỉ còn cái tâm mù lòa, tâm độc ác, tâm gian dối điêu ngoa, tâm phàm phu tục tử lúc nhúc khắp nơi, khắp chốn.
“Đúng là con người là sản phẩm của xã hội, và xã hội cũng là sản phẩm của con người, Cá nghiệp và cộng nghiệp, cũng có nghĩa là tội lỗi của mỗi cá nhân, đem cộng chung lại thì thành cộng nghiệp của một quốc gia.”
Đó là công nghiệp của HCM đối với đất nước Việt Nam, với dân tộc Việt Nam mà dư đảng của ông ta xây lăng, đúc tượng để bắt toàn dân tôn thờ, trong lúc các “thánh Mác”, “thánh Lê” đã bị ném vào bãi rác của lịch sử.
Bao giờ thì tượng “thánh Hồ” cũng được cho vào nằm nơi thích hợp với nó? Trong lúc ấy, những tín đồ của Darwin ở Tây phương đang nghĩ tới việc đổi ngày 12 tháng 2 thành “Ngày Tự do Lý luận” (Academic Freedom Day), thay cho “Ngày Darwin”, vì ông “thánh” này không thuyết phục được nhiều cái đầu minh mẫn.