Trò chơi của kẻ dại.

Nam Hải

Chuyện kể rằng: Ngày xưa, Hán Trung Vuong Lưu Bị vì muốn cứu sinh linh thoát cảnh đồ thán mà tam cố thảo lư để Lễ bái Khổng Minh ra phù trợ, cứu dân cứu nước. Vài lần trườc, ông đi không lại về không. Nhưng đến lần thứ ba, khi nghe tiểu đồng bào là “ có, tiên sinh ở nhà, nhưng ngài đang nghỉ trưa” Lưu Bị không dám làm kinh động. Trái lại, lặng lẽ đứng ngoài hàng hiên khoanh tay chờ cho “ tiên sinh tình giấc” và xin gặp sau. Đấy chỉ là câu chuyện, nhưng hẳn nhiên, cho hậu thế một bài học của chữ Lễ từ bậc quân vương đối vói quần thần. Và chính vì giữ được chữ Lễ này mà nhiều bậc Vương giả đã lưu danh vạn vạn đời và được quần thần kính trọng.

Thời nay chữ Lễ của quân vương ra sao? Một Hitle bất nhân vô đạo đã giết khoảng 5 triệu người Do Thái trong các lò sát sinh. Rồi một Stalin vô luân độc ác, đã giết khoảng hai triệu mạng ngưòi. Những cái tên ấy cũng còn đó. Nhưng còn cho người đời nguyền rủa!

Đó là chuyện của người, nay về quê ta xem thế nào. Lịch sử Việt Nam chắc còn nhắc nhiều đến hai nhân vật từng đối đầu nhau trong nhiều năm là Ngô Dình Diệm và Hồ chí Minh. Một bên là Quốc Gia với tinh thần Nhân Bản. Một bên là đại diện cho cường đổ vô đạo. Nếu chỉ xét về thành tích là có thể thành lập được một xã hội nô lệ, vô luân đôc ác giết người thì Hồ chí Minh không thua xút Hitler và Stalin là mấy, và hẳn nhiên là hơn hẳn ông Ngô Đình Diệm. Bởi lẽ, Hồ chí Minh đã biét tổng hợp tất cả những tư tưởng và hành đồng của Thằng Chí Phèo lại thảnh một hệ thống, làm cơ sở căn bản cho mọi họat động của đảng và nhà nước Việt cộng nên cộng sản đã chiếm được miền bắc, rồi lại chiếm trọn cả miền nam và đặt toàn cõi Việt Nam dưới ách bạo tàn cộng sản.

Nhưng nếu nhìn về chữ Lễ Nghĩa và đạo làm người thì không thể đem một tên trộm đạo, bất nhân để so xánh với cái đạo làm người của vị lãnh đạo miền nam Việt Nam từ năm 1954 và bị lũ phản bội ám hại vào tháng 11-1963 được. Nều có so xánh, thì đó không phải là so xánh hơn thua. Nhưng là nêu lên những công trạng của cái Ác và sự Thiện mà thôi.

Tại sao lại không thể đem ra so sánh?


- Này nhá, ông Ngô đình Diệm dù giữa muôn trùng khốn khó của ngày chấp chánh, ông đả lấy lòng nhân mà đãi người, lấy thuyết Nhân Bản Vị ra mà làm hướng chỉ đạo cho cuộc xây dựng và luật pháp của miền nam thì dựa trên những nguyên tắc tôn trọng quyền căn bản của con người. Rồi Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp là ba cơ chế độc lập điều hành và bảo vệ Quốc Gia cũng như bảo vệ cho sự an toàn của cá nhân và tập thể. Các đảng phái chính trị phải hoạt động theo luật pháp của Quốc Gia quy định, không thể đứng trên luật pháp của quốc gia. Tóm lại, xã hội miền nam là một xã hội có tổ chức về mọi mặt từ văn hóa chính trị đến đời sống phúc lợi của toàn dân, dưa đất nước đi vào hướng đi chung của nhân loại. Đặc biệt, theo tinh thần Nhân Bản sằn có, Ông Ngô Đình Diệm đã ổn định việc định cư hàng triệu đồng bào từ miền bắc vào Nam để tìm tự do. Phải nhận định rằng, chính thành phần này đã ảnh hưởng rất nhiều vào cuộc bình định và phát triển miền nam trong giai đoạn 1954- 1975 và còn kéo dài cho mãi đến sau này Với giấc mơ dài, chuyến đi ngắn, dù ông chưa đạt được sự thịnh vượng cho dân tộc. Nhưng tấm lòng chung thủy và chủ nghĩa Quốc Gia Dân Tộc trong lòng ông là điều rất đáng trân trọng.

- Trái ngược với ông Ngô đình Diệm là Hồ Chí Minh. Với một sách lược : “bạo lực cách mạng”, nói trắng ra là khủng bố người bằng mã tấu. Hồ chí Minh và đống bọn đã cướp được chính quyền ở miền bắc, rồi sau năm 1954, phóng tay mở chiến dịch đấu tố để triệt hạ nền luân lý, đạo đức văn hóa cũa dân tộc cũng như phá bỏ ảnh hưởng tinh thần của đạo giáo để xây dựng một chủ thuyết nô lệ duy vật, đưa toàn cảnh miền bắc vào cuộc sống lầm than, con người bị tước đoạt tất cả mọi thứ quyền căn bản làm người. Chúng đẩy toàn bộ đồng bào Việt Nam vào vũng lầy dối trá dưới sự áp bức của ác đảng cộng sản. Riêng Hồ chí Minh thì nổi bật lên với thành tích: ”Lôi cổ bọn chúng ra đây… (x.d).”… hoặc “giết… giết… những bàn tay không ngừng nghỉ… giết cho ruộng lúa trổ bông” (t.h)!

- Kết qủa ruộng đồng nào đâm bông? Người ta không thấy ruộng đồng thêm bông, lúa thêm mới, cũng không thấy bóng trâu cày trên đồng, nhưng thấy chủ nhân của đất nuớc thì kéo cày thay cho trâu bò, và công điểm của những người làm chủ đất nước được tính ngang hàng với trâu bò, không được ngang hàng với bác, dù bác chỉ là một loại đầy tớ của nhân dân mà thôi!. Và như thế, kết qủa của những bài ca của bọn đầy tớ giết chủ của Hồ chí Minh đã đạt mức đại thành công. Đại thành công là vì chỉ mới có ba mùa đấu tố, Hồ chí Minh đã đấu tố đến chết hàng 100,000 đồng bào Việt Nam ở miền bắc và vung dao giết chết khoảng 5000 người dân vô tội trong vòng ba mươi ngày sau khi chúng tạm chiếm được thành phố Huế vào tết Mậu Thân 1968. Ấy là chưa kể đến con số hàng trăm ngàn người bị chúng bắt, giam giữ một cách trái phép trong các trại tập trung tại miền bắc từ 1954-75 và thêm hàng trăm, hàng ngàn quân cán chính của miền nam bị chúng lùa vào các trại tù mà nhiều người nay đã không còn tìm thấy xác.


Đó là thành tích ngay trước mắt. Còn về lâu về dài, chính sách giáo dục của miền nam và của cộng sản tại miền bắc cũng đem lại những kết quả hoàn toàn trái chiều nhau.

Thật vậy, hãy lấy hai nhân vật rất nổi, đang ở Hà Nội, làm thí dụ điển hình cho thành quả của hai lối giáo dục này. Một của nhân bản và tôn giáo của miền nam và một của bạo lực cách mạng của Việt cộng để làm bản mẫu so xánh, người ta sẽ có được những đường nét cực kỳ chính xác của hai nguồn gốc giáo dục trái chiều này. Xin nhắc lại, đây không phải là một so xánh tương đồng, đánh gía hơn kém. Nhưng là nêu lên Sự Thiện và Cái Ác mà những nhân vật này là đại diện cho một kết qủa sau 60 năm cộng sản có mặt trên đất Việt mà thôi

1.- Người thứ nhất, Ông Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội.


Ông Ngô quang Kiệt theo lý lịch, sinh năm 1952. Nghĩa là chỉ vào khoảng hai tuổi thì đã được cha mẹ cho vào thúng, gánh vào miền nam để tìm tự do, nhưng thực chất là trốn chạy cộng sản. Vào miền nam, ông không thuộc thành phần gia đình vọng tộc, trái lại cha mẹ làm nghề nông, được đưa về khu dịnh cư Cái Sắn, là vùng đất mới được Tổng Thống Ngô định Diệm khai khẩn và dành cho dân di cư về lập nghiệp. Người dân ở vùng Cái Sắn còn mang nguyên đặc tính theo từng làng, xóm đạo ở ngoài bắc. Tuy cuộc sống khá cởi mở, nhưng đại đa số lớp người trước ít khi ra khỏi vùng đất mình cư trú. Cái Sắn cách Sài Gòn thủ đô của miền nam chỉ vào koảng 300 cây số, nhưng có nhiều người cho đến năm 75 chỉ nghe đến cái tên Sài Gòn nhưng không biết nó dài ngắn vuông tròn ra sao.

Điều này cũng dễ hiểu, vì đời sống của người dân quanh năm trải dài ra với mảnh vườn, con nước để kiếm sống thì thành đô chẳng là một cái gì đáng bận tâm. Tuy thế, ành mắt của họ luôn nhìn vào tương lai. Dù nghèo khổ, cha mẹ cũng chắt chiu cho con đến trường và ông Ngô Quang Kiệt đã xuất thân từ thành phần lao động nặng này. Bù lại, ông được hưởng một nền giáo dục nhân bản của miền nam và cách riêng là của tôn giáo. Từ đó ông đã đi vào đường công lý và ánh sáng Tôn Giáo, Nhân Vị dẩn đưòng.

Vào năm 1975, khi ông đang học đại học năm thứ ba, cộng sản nuốt luôn miền nam. Cuộc sống của ông đã gãy cánh theo toàn cảnh miền nam. Tương lai thì chẳng còn lấy một chút hy vọng gì. Khi đó, nhiều người thày của ông cũng đã tiên đoán là con đường ông muốn tiếp tục theo học làm Linh Mục xem ra sẽ gặp muôn vàn những khó khăn. Khó khăn thì có, nhưng không cản trở được niềm tin của ông. Năm 1992, ông được thụ phong Linh Mục, sau đó được gởi đi du học ở bên pháp. Học xong, ông trở về nước rồi đến năm 1999 thì được tấn phong Giám Mục Lạng Sơn, là quê hưong , nơi mà ông đã được gánh đi vào nam từ năm 1954. Đến năm 2006 ông về làm Tổng Giám Mục Hà Nội

Từ khi về Lang Sơn, cho đến những ngày ở Hà Nội, ưu tiên hàng đầu của ông là xây dựng và đặt lại nền móng đạo đức cho việc giáo dục, cả trong chủng viện cũng như ngoài xã hội. Và có lẽ chính từ sự thao thức về nền móng của cuộc cải tổ về nền giáo dục Nhân Bản dựa trên Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín và và tôn giáo này, dần dân ông trở thành một chướng ngại trong đôi mắt của những nhân vật lãnh đạo vô đạo của Hà Thành. Hỏi xem, Ông đã làm gì trong những ngày qua?


1. Cuối năm 2007, Ông phát động phong trào cầu nguyện trong ôn hòa để đòi lại công lý và nhân quyền cho nhân dân. Khi chiến dịch vừa được mở ra, ông đã làm rúng dộng tim lòng mọi người từ băc chí nam và vang vọng ra cả hải ngoại nữa.

2. Trong cuộc thăm bất ngờ của ông Nguyễn tấn Dũng, đến Toà Giám Mục vào dầu năm 2008, cả hai cùng bách bộ trên một đoạn đường phố để đến trước Toà Khâm Sứ, là phần đất ông đang tranh đấu để đòi lại công lý. Ông đã ôn hòa, tin tưởng và bình thản chờ đời sự thực hiện lời hứa của một viên thủ tướng Việt cộng là sẽ trả lại toàn bộ khu đất ấy lại cho Toà Tổng Giám Mục. Đổi lại, ông đã giảm thiểu các cuộc tụ họp cầu nguyện đông người ở khu vực Toà Khâm Sứ.

3. Ảnh hưỏng của niềm tin đòi lại Công Lý ở Toà Khâm Sứ đã thắp sáng cho Thái Hà. Ông mạnh dạn ủng hộ sự việc đòi lại công lý cho Giáo sứ Thái Hà. Một sứ đạo trong giáo phận của Ông cai quản.

4. Ngày 19/9-2009, nhà nước dưới sự lãnh đạo của Nguyễn tấn Dũng đã lật mặt, đưa chó nghiệp vụ đến bao vây Toà Giám Mục và đưa công nhân viên xây cất đến đập phá Toà Khâm Sứ để biến nơi này thành vườn hoa, mà không có lấy một lời báo trước cho Tòa Giám Mục, cũng không có lấy một sự thưong lượng nào về chuyện này.

5. Rồi khi đứng trước những hoàn cảnh đau thương tệ hại của đất nước, đứng trước những khốn cùng lầm tham của người dân và đặc biệt đứng trước sự kiện Nhân Quyền, Nhân Phẩm, Tự Do Công Lý của nhân dân không được tôn trọng, trái lại, trở thành những chiều bài cho nhà nước lừa bịp toàn dân cũng như thế giới, ông đã không ngần ngại công bố công khai một sự kiện của dân Việt hôm nay là: “Chúng tôi thấy rất là nhục nhã khi cầm tấm hộ chiếu của Việt Nam, vì đi đến đâu cũng bị soi mói dò sét…” trong cuộc họp với cái gọi là UBND thành phố Hà Nội vào ngày 20/9/2008. Dĩ nhiên, người ta phải hiều được rằng, là người Việt Nam yêu nước, thương dân, Ông thấy xấu hổ lây vì phương cách xử sự của chính quyền với Toà Khâm Sứ nói riêng và với nhân dân Việt Nam nói chung, đi đến đâu cũng thấy cảnh dân chúng từng hàng, từng đoàn đi đòi đất, đòi nhà. Tệ thay, kẻ cướp đất cướp nhà của nhân dân trên cả nước đều là những quan, cán cao cấp của đảng, của chế độ nên nhà nước buộc phải bao che cho các đồng Chí Phèo của mình, và mặc kệ dân trong cuộc lầm than. Rồi khi những việc làm tệ hại của nhà nước từ tham những, hối lộ, lừa bịp nhân dân, bịt miệng người giữa chốn công đường, dắt mối… đã vượt ra ngoài biên giới, làm ô nhục cho hai chữ Việt Nam trên trường quốc tế, khiến những người cầm hộ chiếu của Việt nam ( do việt cộng cấp phát) đi đâu cũng bị soi xét và bị nhìn bằng đôi mắt không tương kính, nếu như không muốn nói là dè bỉu, khinh chê thì Ngài phải lên tiếng!

6. Vì lờì thẳng thắn, quang minh ấy, ông bị Nguyển thế Thảo chủ tịch cái gọi là UNND thành phố Hà Nội và là công cụ của nhà cầm quyền cắt xén lời nói của ông và mở cuộc đấu tố liên tục suốt ngày đêm nhằm làm hại ông. Kết qủa, Trời đang nắng, bỗng mưa lũ. Đau nỗi đau của dân, khổ cái khổ của nước, ông sắn quân lên qúa gối mà đi thăm hỏi nhân dân. Khi chân ông lội nước bùn, tên tuổi ông đã vượt ra ngoài không gian và thời gian. Tên ông nổi lên như một chứng nhân của tình thương và là người đem niềm vui và an ủi đến cho mọi người.


Kết luận về ông, người ta chỉ nghĩ đến một điều. Nhờ ảnh hưởng và nền giáo dục Nhân bản của miền nam và của tôn giáo, ông có được một tấm lòng quảng đại, nhân hậu và qủa cảm như ngày hôm nay. Và nếu như lúc xưa, mẹ ông không gánh ông vào miền nam, và gia đình ông không tiếp tục giáo dục con cái theo niềm tin của tôn giaó thì có thể, cái ghế chủ tịch thành phố Hà Nội ngày nay không phải là cái tên Nguyễn thế Thảo nhưng có thể là Ngô Quang Kiệt. Trong trường hợp ấy, dù là Ngô Quang Kiệt hay Nguyễn thế Thảo thì cũng chỉ là một cái loa hay là một cánh tay gian ác của chế độ vô luân và cường bạo Việt cộng mà thôi. Khi ấy, nhân dân Việt Nam, mất hẳn một tuấn kiệt Ngô Quang Kiệt! mất hản một ngọn đuốc Công Lý. Trường hợp ông không được gánh vào nam. Nhưng vẫn trung kiên trong môi trường tôn giáo. Ông vẫn là một Ngô Quang Kiệt đầy nhiệt tâm với đất nước với đạo giáo và với con người như trong vị thế hiện nay ở Hà Nội.

Người thứ hai, Nguyễn thế Thảo.


1. Phần lý lịch, ông sinh năm nào học trường nào, gia phả thuộc thành phần bần cố nông hay đạo tặc, người ta không biết. Lý do, chả có mấy kẻ trong hàng ngũ cộng sản mà có được một cái lý lịch rõ ràng. Cũng giống như Hồ chí Minh, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Dức Mạnh, nay thì có tin đồn Dũng con của người này, mai người khác, Mạnh cũng vậy. Nên Thảo có lẽ cũng không có ngoại lệ. Tóm lại, người ta chỉ biết Thảo là một đứa trẻ được đào tạo rập khuôn theo phong thái của xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là ngay từ bé, Thảo đã được huấn luyện trong một nền giáo dục không hề biết đến chữ Nhân Lể Nghĩa Trí Tín là gì. Thay vào đó, Thảo thuộc năm lòng một giáo điều: “Sống chiến đấu và học tập theo gương bác Hồ vĩ đại” . Và ngày nay người ta đã công khai chỉ ra những cái gương vĩ đại của Hồ chí Minh là:


Đại bất hiếu. Suốt đời không một lần nhắc đến cha mẹ là ai và khi họ chết, Hồ chí Minh không một lần làm cúng giỗ cho họ.

Đại bất nhân. Lập toà án đấu tố và giết chết hàng trăm ngàn đồng bào từ bắc chí nam.

Đại bất nghĩa. Giết bà nguyễn thị Lan, là ân nhân và nuôi nấng Hồ cũng như những tên Giáp, Đồng, Duẫn, Chinh, Hoàn… nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm khi chúng chưa nắm được chính quiyền.

Đại vô đạo. Tiêu diệt nền luân lý, phá bỏ niềm tin tôn giáo cũng như tinh thần thờ cúng ông bà của lương dân. buộc người dân phải tôn sùng cá nhân chủ nghĩa, dù cá nhân được tôn sùng ấy là một đồ tề độc ác nhất của dân tộc


Chính từ lối giáo dục này, cộng sản đã đào tạo ra được cả một hệ thống các nhà lãnh đão từ địa phương đến trung ương, có đủ phẩm chất bất nhân bất nghĩa, mà nổi bật lên trong đó phải kể đến Nguyễn Minh Triết với nghề dắt mối:: “ Vào đi các ông, ở Việt Nam có nhiều gái”. và nay thì đến Nguyễn thế Thảo, một tên “răng hô mã tấu” vừa ló dạng.

Thành tích nổi bật trong những ngày qua của Thảo:


1 Đạt thư mời Toà Giám Mục Hà Nội đến dự phiên họp ngày 20-9/2009. Sau đó tự ý cắn xén với ác ý lời phát biểu của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và đẩy cho bên báo chí đài phát thanh để mở cuộc đấu tố người vô tội.

2 Tổ chức và chỉ đạo thành phần bất hảo đến đập phá khuôn viên tòa Giám Mục Hà Nội dưới sự che chở của công an với mục địch bôi lọ thanh danh và đời sống của công dân

3 Chỉ đạo việc đặt mày quay phim chung quanh toà Giám Mục với mục đích khủng bố tinh thần của những người ở bên trong.

4 Lãnh đạo thành phần bất hảo đến đập phá và xịt hơi cay vào giáo dân đi đọc kinh, cầu nguyện ở giáo xứ Thái Hà.

5 Làm ễnh ương khi mở cuộc họp vời các phài bộ ngoại giao vời mục đích truyên truyền bá đạo nhằm mục đích lót đường hối lộ đẩy Ông Tổng Giám Mục Hà Nội ra khỏi Hà Nội.

6 Biết chuyện đẩy Ngài Tổng Giám Mục không thể thực hiện được,. chúng bắt một số giáo dân và đua ra toà để trả thù.

7 Viết thư để đòi đẩy các linh mục ra khỏi Thái Hà.


Bàn về chuyện Thảo họp ngoại giao qua mặt chủ tịch nước, bộ ngoại giao, thủ tướng Việt cộng, với mưu đồ dọn đường hối lộ ngoại giao, móc ngoặc … đẩy Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội vì lý do: “Ông ấy đã mất uy tín với nhân dân”,

Nhiều người cho rằng, Về phương diện ngoại giao, đây là việc làm hết sức trẻ con khờ dại, chỉ làm trò cười cho các phái đoàn, hoặc giả, báo cho phái đoàn ngoại giao biết rằng ở Hà Nội chỉ toàn những quan cán còn thuộc diện ăn lông ở lỗ, dối trá, không biết một chút gì về nguyên tắc ngoại giao. Bởi vì, ngay những kẻ mù cũng không thể tin theo lời ễnh ương được. Lý do, họ có mù, thì tai họ vẫn còn nghe rõ mồn một lời nói của đức Tổng và những tiếng vỗ tay hoan hô Ngài vang dội mỗi khi Ngài đi thăm dân. Đặc biệt là trong nạn lũ lụt vừa qua. Hơn thế. người mất uy tín mà kêu gọi một tiếng có cả hàng chục ngàn tấn hàng đổ về Hà Nội để tiếp tế phẳm vật cho những nạn nhân lũ lụt được hay sao? Ấy là chưa kể tới những văn thư ủng hộ ông Tổng Giám Mục ở nhiều nước trên thế giới. Như thế, kẻ có “uy tín”, có tiếng nói nhớn như Chí Phèo Nguyễn thế Thảo không biết có giống tiếng kêu của con ễnh ương hay không nhỉ?

Rồi chuyện viết thơ gởi đến Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về trường hợp của Tổng Giám Mục Hà Nội. Đọc xong lá thư ấy, nhiều ngưòi phải phì cuời, họ nghĩ, giá mà Nguyễn thế Thảo gói và gởi cái búa hay con dao mã tấu đến cho hội Đống Giám Mục thì xem ra dúng sách lược và hợp với cung cách của mùa đấu tố hơn!

Nhắc đến chuyện đấu tố, tôi nhớ đến một chi tiết mà nhiều báo chí có tường thuật là trong phiên toà ấy, thân nhân của nạn nhân thì không có, nhưng ngồi chật trong phòng, nơi được chọn làm phòng xử án thì toàn những công an. Và đặc biệt là có khá nhiều nhân viên ngoại giao của các toà đại xứ nước ngoài dự khán!

Lạ, lạ thật! Không hiểu tại sao một phiên toà chỉ ở cấp phường khóm như thế mà nhà nước Việt cộng lại mời cả ngoại giao đoàn các nước đến dự khán nhỉ? Tôi nghĩ là có hai lý do:

Thứ nhất: chắc là Nhà nước Việt cộng muốn xuất cảng phương pháp xử án không cha không mẹ, không luật pháp của nhà nước XHCN Việt cộng cho thế giới chăng? Hay là nhà nước muốn bảo cho họ biết rằng, các ông cứ theo chúng tôi đây, dân không có tội vẫn đè ra xữ được như thường. Xử xong, phát cho mỗi người một bản án, mặc cho dân chúng phản đồi, chỉ cần chủ tịch UBND thành phố viết thêm một lá thư xác nhận xử như thế là hợp luật là đúng cách là thành án! Thằng dân muốn chống, cũng không thể chống lại cái búa được. Thế mới là chính quyền chứ!

Thứ hai, chắc là sau khi cắt xén lời nói của Tổng Giám Mục Hà Nội với lòng gian ác của xã hội chủ nghĩa, rồi mời phái bộ ngoại giao đến họp và thông báo với họ rằng : “Ông Tổng Giám Mục Hà Nội ấy đã mất uy tín với dân”, nhưng chẳng có ma nào tin. Trái lại, càng tuyên truyền, càng cắn xé lới nói của Ông ấy, càng làm cho bộ mặt của nhà nước Việt cộng thêm nhơ nhuốc đê tiện, rẻ rúng thêm. Nhất là sau khi đã nhận được Nghị quyết của Châu Âu, lại bị anh Nhật Bản vả cho một cái bằng cách tuyên bố cắt viện trợ ODA với lý do:”các quan cán nhà nước Việt cộng rất giỏi nghề hối lộ, tham nhũng và dân chúng Nhật không muốn tiền thuế hổ trợ những nước nghéo rơi vào tay những tên trộm cắp” làm các quan cán Hà Nội nổ đom đom mắt, nên đành xuống nước, mời các phái bộ ngoại giao đến dự khán phiên đấu tố như một lời bào chữa rằng: Đấy các ngài xem, chúng tôi cũng có chút hiểu biết về luật pháp và cũng biết tôn trọng nhân quyền đấy chứ. Riêng việc có nhiều công an xuất hiện là để bảo vệ cho các phái bộ ngoại giao đấy. Các Ngài biết, thời buổi này chỗ nào mà chẳng có thể xảy ra khủng bố!

- Cám ơn anh Thảo nhá, nhưng các anh đã là những chỉ huy lãnh đạo khủng bố rồi thì còn ai vào đây mà gài mìn nữa?

Trên thực tế, dù với bất cứ lý do nào để ngụy biện thì việc mời nhân viên lãnh sự quán đến dự khán trong phiên toà Hàng Trống, đều được đánh giá là họ rất non kém, không hiểu biết về phương diện chủ thể của một đất nước. Bởi lẽ, nếu đất nước có thể thống và luật pháp thì việc xử án ngườì phạm pháp là chuyện bình thường để bảo vệ luật pháp, cũng như bảo vệ an ninh cho cuộc sống công cộng, cần gì phải mời phái bộ ngoại giao đến để dự khán một phiên toà không ra phiên tòa như thế. ( may mà lần này Thảo… quên, không ra lệnh bịt mồm các người bị cáo!) Theo đó, việc họ làm chỉ chứng tỏ rằng, vì nhà nước này quen làm những chuyện bậy bạ, nhà nước này đã không giữ được tín nghĩa, không có được lòng tin của công chúng. Hơn thế, đã tạo ra những hình ảnh rất xấu xa đối với cái nhìn của thế giới, nên lo sợ thế giới sẽ theo gương của Nhật Bản mà cắt viện trợ, làm cho các đoàn đảng viên mất hẳn cơ hội trộm cắp béo bở của công, cũng như của tư, nên phải mời họ đến dự khán phiên toà như một ông thầy đến nhìn đứa học trò tập đánh vần A B C. vậy! Nhục…. đại nhục!

Thứ ba, ngay sau cái gọi là toà án đấu tố tám giáo dân của Thái Hà thất bại ê chề, “lồng” chí phèo Nguyễn thế Thảo lại gởi thư cho Hội Đống Giám Mục Việt Nam và Giám Tỉnh Dỏng Chúa Cứu Thế đề nghị thuyên chuyển một số giáo sỹ ra khỏi sứ Thái Hà, thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội với những luận điệu tráo trở, đê tiện mà không hề nhắc gì đến những chuyện cho người đến đập phá cũng như rình rập chung quanh tòa Giám Mục Hà Nội. Thật tội nghiệp cho cóc ngồi đáy giếng, nó không hê biết rằng, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chẳng có trách nhiệm gì về việc thuyên chuyển này, có chăng là trách nhiệm thuộc về Ông Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt. Nhưng viết thư xin Ông Tổng Giám Mục thì… nhục quá, không thể viềt được. Mà phải sống chung với những ngườì yêu công lý, trọng lẽ thật và hòa bình thì miếng cơm không ngon! Cứ nhìn thấy những người ấy hát kinh là máu uất xung lên nghẹn cổ. Muốn ra đao chém lén vài mạng thì lại sợ tai mắt thế giới . Không giết được, nên đành nuốt nhục mà viết thư cầu Hội Đồng vậy! Thảm hại thay, là thư ấy lại tố cáo chính kẻ viết là một kẻ thừa lòng gian ác, nhưng thiếu hẳn cái đạo lý làm ngùơi.

Nhận định chung về Nguyễn thế Thảo và trò chơi của những kẻ dại là:

Lòng kẻ ác, không bao giờ được yên ổn, đặc biệt chúng là những kẻ sống trong gian dối và bóng tối nên không dám gặp mặt lẽ thật và công lý.


Theo đó, ở đâu, làm gì, chúng cũng chỉ nhìn thấy kẻ thù. Nghĩa là, ngay khi ngồi làm việc trong cái gọi là UBND tại Hà Nội hay ở nhà, Thảo cũng chỉ nhìn thấy kẻ thù nên buộc Thảo phải theo gương Hỗ chí Minh sống một đời bất nhân bất nghĩa với mọi người mà không hề biết, cách sống ấy không phải là cách sống của con người.

Nên khi nhìn Thảo từ khía cạnh của Nhân Bản sau những vu việc vừa qua. Câu kết luận sẽ là, Thảo cần phải được giáo dục, dạy dỗ lại về Lễ Nghĩa và cách thức giao tiếp với người khác( chưa nói đến việc đạo đức). Vì Thảo ở ngoài bắc nên hợp với phong thổ và hợp với nền giáo dục của Việt cộng, Thảo có được cái ghế như ngày hôm nay. Tuy nhiên, thứ văn hoá này không thể tiếp cận được với văn minh của thế giới và chỉ làm tủi nhục cho hai chữ Việt Nam mà thôi. Trường hợp, nếu Thảo được cha mẹ gánh vào nam như ông Ngô Quang Kiệt, nhưng chối bỏ Lễ Nghĩa, thì hẳn nhiên là Thảo sẽ giống như Năm Cam! Và trò chơi của kẻ dại cũng kết thúc cùng một cách như thế.

Nam Hải