Mùa Thu Sài Gòn

Văn Quang

Những cơn gió heo may và có những đêm mưa bụi, trời lành lạnh mang không khí cuối thu về với Sài Gòn. Đó là nét đặc biệt từ hơn một tháng nay của thành phố hầu như nắng nóng quanh năm này. Nhờ những cơn áp thấp nhiệt đới và những trận bão vừa tới, đang tới và… không tới từ biển khơi. Lâu lắm rồi mới thấy người Sài Gòn mặc áo len, áo khoác ra đường. Thành phố đẹp hơn, quyến rũ hơn, nếu bạn chỉ chú ý tới thời tiết, đừng nghĩ gì khác ngoài cái không khí cuối thu.


Tôi không thể cưỡng nỗi sự quyến rũ đó, trở về rừng cùng ông Kim mập - bố của người đầu bếp giỏi nhất nước Mỹ, Huỳnh Quốc Hưng - cùng mấy người bạn thân, được đúng một ngày rồi trở ngược lại thành phố ngay buổi chiều hôm đó. Sài Gòn vẫn còn nhiều cái phải làm, nhiều chuyện để nói. Dù bạn bè chẳng còn lại bao nhiêu, đôi lúc có cảm tưởng như chính mình cũng “lưu lạc” giữa những tấp nập của phố phường, của những đường phố mang tên mới, của những thú vui từ bình dân đến xa hoa. Tất cả khoác một chiếc áo mới. Ngay cả sự tấp nập bây giờ ngoài đường phố, cứ như một sự hỗn loạn, không còn mang ý nghĩa của sự đông vui. Bước chân vào những phòng trà ca nhạc càng thấy rõ hơn sự “cô đơn” của mình. Nếu trước đây, đi đến bất cứ một phòng trà ca nhạc nào cũng gặp ít nhất năm mười người quen, một cái vẫy tay chào trong ánh đèn mờ ảo cũng thấy vui, thấy thân gần quen thuộc. Bây giờ không quen ai cả. Đi khắp các nơi không có được một cái vẫy tay, không tìm được một dáng dấp quen thuộc. Mỗi bàn là một thế giới riêng, mỗi góc là một tấm vé tàu của những hành khách xa lạ. Chỉ còn lại những bài hát cũ, những lớp ca sĩ mới, loáng thoáng “ẩn hiện” một vài gương mặt xa xưa.

Đi phòng trà một lần vì cảm hứng bất chợt, tôi có nhiều nhận xét khá mới. Cũng vì thế nên tôi có ý định đi tìm hiểu thêm, bổ sung cho những nhận định này. Phòng trà ca nhạc là một biểu trưng cho văn hoá địa phương, một nền văn hoá thầm lặng, biểu hiện tâm hồn của những người địa phương đó. Nếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bạn có thể đến những sân khấu phòng trà để thưởng thức “những cô thôn nữ lên đời hoặc giả thôn nữ” vừa ca tân nhạc vừa ca vọng cổ. Nếu đến Hà Nội bạn sẽ được nghe nhiều nhạc phẩm “tình ca” của những nhạc sĩ sáng tác từ sau năm 1975. Nhưng ở Sài Gòn bây giờ những phòng trà được coi là “hạng sang”, bạn sẽ có dịp được thưởng thức hầu hết là những nhạc phẩm “tiền chiến chọn lọc” của những nhạc sĩ đã định được tên tuổi mình với những bài ca đã “vượt thời gian”, từ trước những năm 1975 cho đến ngày nay, bất kể là những nhạc sĩ ở “bên này hay bên kia”. Những nhạc phẩm cũng trải qua nhiều gian truân, nhiều toan tính huỷ diệt, nhưng nó vẫn cứ đứng vững trong lòng con người.

Đó là đôi nét tổng quát về những nhận định của tôi. Trong bài này tôi chưa thể tường trình chi tiết với bạn đọc. Trước hết vì nội dung khá dài, nếu chỉ tường trình sơ lược thì không đủ “thấm”, không đủ để bạn đọc nhìn rõ toàn bộ khung cảnh đó để cùng tôi “đi phòng trà Sài Gòn” xem bây giờ nó thế nào. Dù bạn có muốn đi hay không, nhưng nhìn lại thành phố qua nét văn hoá này cho biết, thế thôi cũng được.

Thứ hai là trong một tháng ở Sài Gòn, tôi mới chỉ đi đến khoảng năm bảy phòng trà được coi như “có tiếng” thời bây giờ. Rất may, trong những đêm đi “giang hồ vặt” đó, tôi được sự hỗ trợ của một số bạn bè hiểu biết nhiều về âm nhạc thời xưa cũng như thời nay ở cả nước ngoài và ở Việt Nam. Như nữ ca sĩ Lệ Thu, trong một dịp đi hát ở Úc ghé qua Sài Gòn rồi lại tất tả bay về Mỹ, nữ ca sĩ Phương Tâm và ông tu bíp Hà Xuân Du… cùng một số bạn bè từ nước ngoài về VN và những người bạn “thổ công Sài Gòn” vẫn sống ở thành phố này từ “ngàn xưa” tới nay… Những người bạn đó cũng cho tôi nhiều nhận định chính xác hơn.

Nhưng tôi nghĩ như thế vẫn là chưa đủ, tôi sẽ còn phải đi nhiều hơn, còn phải tìm hiểu nhiều hơn mới có thể viết thành một loạt bài cho vấn đề này. Đó là những chuyện thời sự văn nghệ, song chưa hẳn chỉ có thời sự, còn những điều thuộc về tâm hồn, tình cảm sâu sắc hơn nữa. Vậy xin khất bạn đọc một thời gian nữa, có thể vào đầu năm 2008 loạt bài này sẽ xuất hiện. Mong bạn đọc lượng thứ cho.

Cảm khái về “Mùa thu Sài Gòn” nên tôi thấy cần phải chia sẻ với bạn đọc đôi hàng để có thể mang một chút gió heo may Sài Gòn đến với những người bạn dù ở bất cứ đâu. Không gian này dường như bỗng làm cho con người nhớ nhung hơn, đôi khi sự nhớ thương thật rõ, đôi lúc lại chẳng cần biết mình nhớ cái gì. Bạn hãy dành một phút để tưởng tượng về thành phố Sài Gòn vẫn còn đang khoác áo cuối thu.

Cú “đột phá” hay “đột tử”?


Bây giờ xin trở lại những chuyện thời sự nóng bỏng nhất hiện nay. Không gì tác động đến đời sống hơn là giá cả. Từ đầu năm đến nay, giá cả mọi mặt hàng đều tăng chóng mặt. Nhưng chưa bao giờ tăng “khủng khiếp” như những ngày vừa qua. Ngoại trừ một thứ duy nhất không tăng, có chiều hướng giảm là hàng điện máy.

Đi từ thành phố lớn, thành phố nhỏ, về đến thôn quê, chỗ nào cũng thấy người dân ca thán vì giá cả. Kể từ 11 giờ ngày 22-11, liên bộ Tài chính và Công Thương VN bất ngờ công bố tăng giá cả mặt hàng xăng và dầu. Một cú sốc quá mạnh, tác động bao trùm lên toàn bộ thị trường và nhiều ngành kinh tế VN. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thị trường VN, mặt hàng xăng được điều chỉnh tăng tới 1.700đ/lít. Mức tăng và cũng là mức giá cao nhất từ trước tới nay. Trong khi nền kinh tế và người dân VN đang phải đối mặt với mức lạm phát, tốc độ tăng giá cao nhất trong lịch sử hàng chục năm gần đây thì Chính phủ lại quyết định tăng giá mặt hàng này.

Những người hiểu biết có thể “thông cảm” vì ảnh hưởng của giá dầu trên thế giới tăng mạnh, người dân nước nào cũng cùng chịu chung ảnh hưởng đó. Nhưng người “bình dân” thì chỉ biết giá tăng vùn vụt, thực tế có những mặt hàng đã tăng 50% và còn đang tăng. Một thí dụ giản dị như một hộp mì gói, hồi đầu năm chúng tôi mua để giúp đồng bào nghèo với giá 32 ngàn đồng, nay lên tới gần 50 ngàn đồng. Gạo từ 6 ngàn một ký nay lên 8 ngàn. Theo dự báo của những người bán hàng, mức giá đó sẽ còn tăng, nhất là vào dịp lễ Tết sắp tới. Chẳng cần đợi Tết, ngay từ bây giờ, các bà nội trợ đều cho biết thực phẩm cứ leo thang mỗi ngày một giá. Và chẳng phải chỉ có lớp nông dân, công nhân, người lao động chân tay đã khốn khó càng khốn khó, ngay cả tầng lớp trung lưu cũng đang lo thiếu trước hụt sau. Cuộc sống ở Việt Nam đang có hai bộ mặt trái ngược. Kinh tế phát triển, hàng hoá đổ về ầm ầm đủ mọi loại, thế nhưng đời sống người dân ngày càng suy sụp. Tất nhiên không kể đến những ông “sờ chỗ nào cũng ra tiền”.

Số gia đình nghèo sẽ tăng nhanh


Tăng giá xăng dầu vào lúc này chính là lúc “nguy hại” nhất, một thời điểm hoàn toàn không thích hợp và cú “đột phá” này không khác gì cú “đột tử” đối với người dân và đối với sự kìm hãm lạm phát. Mọi cố gắng kìm giá đều trở nên vô ích, mọi kế hoạch bình ổn thị trưởng hầu như bị phá sản toàn diện.

Nhưng “lực bất tòng tâm”, chính phủ phải thú nhận bị dồn vào “thế chân tường", gánh nặng giá cả xăng dầu lần này buộc phải chuyển sang vai người dân. Nhà nước đã "hết chịu nổi" gánh nặng quá tải của bù lỗ, dù đã giảm thuế xuống 0%. Tính cả năm 2007, bù lỗ xăng lên tới 1.100 tỉ đồng; trong khi bù lỗ dầu là con số khổng lồ, với 12.300 tỉ đồng. Người dân sẽ phải bỏ ra không dưới 6.000 tỉ đồng để chia sẻ gánh nặng này.

Đại diện các bộ Tài chính và Công Thương còn cho rằng: Giá xăng dầu VN đang thấp hơn thế giới và khu vực lân cận; xu thế giá xăng dầu sẽ còn ở mức cao; đặc biệt là VN đã là thành viên của WTO, vì thế giá xăng dầu cũng phải hội nhập với thế giới.

Như thế có nghĩa là giá xăng dầu vẫn chưa ổn định, nó sẽ còn nhảy mambo nữa và người dân chỉ cỏn mỗi việc là nhảy hay bò theo tiếng nhạc của WTO, chính phủ sẽ không can thiệp, hay không thể can thiệp gì vào đó nữa! Bởi không thể áp đặt mệnh lệnh hành chính và những chính sách điều hành kinh tế "quá sức" từ Nhà nước. Đừng tưởng gia nhập WTO là bở!

Một cảnh báo nhẹ nhàng nhưng hết sức rõ rệt và hết sức đáng lo ngại cho đời sống của lớp người nghèo ở VN. Trong dịp vừa qua, có số tiền của bà con ở Canada gửi về, chúng tôi đã đi đến nhà một số người dân nghèo, quả thật đời sống của họ từ đầu năm 2007 đến nay đã thay đổi khá nhiều. Nếu có những gia đình đầu năm đủ ăn thì nay túng thiếu, thậm chí thiếu cả gạo ăn, chưa nói đến những thứ khác. Chỉ cần mang một số quần áo mua “son” từ chợ Bàn Cờ về tặng, họ cũng đã vui mừng lắm rồi. Chúng tôi bàn với Hội Hồng Thập Tự địa phương, mua gạo phát thẳng cho từng nhà. Nếu trước đây con số chừng 50 gia đình cần phát thì nay số người đến hàng trăm người trong một hai xã. Như thế có thể hiểu số gia đình nghèo ở Việt Nam sẽ gia tăng nhanh chóng. Rất nhiều “hộ thoát nghèo” nay có thể lại trở về với cảnh trắng tay.

Lại thêm một đề nghị chết điếng


Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng này, sáng ngày 21 -11, một giải pháp của Cục Đường bộ VN được đề nghị là tăng lệ phí đăng ký phương tiện tại Hà Nội và TP. Sài Gòn tới 30-50% giá trị của phương tiện. Thu phí lưu hành phương tiện vào giờ cao điểm trong nội đô theo ngày hoặc tháng, ví dụ: 20.000 đồng một ngày hoặc 500.000 đồng một tháng đối với xe hơi và 10.000 đồng một ngày và 200.000 đồng một tháng đối với xe máy.

Xe hơi cá nhân đăng ký mới sẽ thu 15 triệu đồng, xe đang lưu hành 10 triệu đồng một năm. Xe máy tùy theo phân khối thu từ 200.000 đồng đến 3 triệu đồng một năm, đó là một trong những đề nghị của Sở giao thông công chính TP. Sài Gòn khi bàn về các giải pháp phòng chống ùn tắc giao thông.

Biện pháp khác, được Bộ Giao thông - Vận tải đưa ra là cấm xe ngoại tỉnh vào thành phố bằng cách bố trí nơi đậu xe cho phương tiện này tại các đường vành đai; bắt buộc đi xe buýt đến trường đối với học sinh cấp 3 và sinh viên bằng cách phát vé hoặc trợ giá đi xe buýt.

Theo Cục phó Cục Đường bộ, sinh viên các trường đại học, cao đẳng nên bố trí học thứ 7, chủ nhật thay cho 2 ngày trong tuần để giảm số người tham gia giao thông. Ngoài ra, ngày thường sẽ bố trí học muộn hơn vào buổi sáng và kết thúc muộn vào buổi chiều để tránh giờ cao điểm…

Người dân cũng bị dồn vào “thế chân tường”


Tạm thời chưa bàn đền hai biện pháp sau. Xin bàn đến giải pháp đầu tiên là thu thuế mới đối với xe hơi và xe gắn máy lưu thông trong nội đô thành phố. Nói thẳng ra đây là một kiểu đẩy cái khó cho người dân gánh hết. Nôm na ra là “sáng tạo này” được phát sinh từ ý nghĩ đường kẹt vì nhiều xe quá, bắt anh đóng thuế nặng là anh hết dám đi xe. Cái đầu óc của vị lãnh đạo ngành này quả là “đơn giản” và thông minh… đáng sợ.

Bởi bất cứ người dân lao động nào, bất cứ một anh công nhân, công chức còm nào lẹt đẹt cưỡi xe máy trong thành phố nghe cái tin này cũng hết hồn. Xe “xịn” thì đóng nhiều tiền hơn, xe cũ được coi như những “con ngựa già của chúa Trịnh” cũng phải đóng thuế chứ không được tha. Những vị đi “ô tô con”, tôi không bàn đến ở đây vì con số đó chưa đáng là bao nhiêu so với tuyệt đại đa số người dân thành phố buộc phải dùng xe gắn máy. Nó trở thành cái chân của người dân, cái cần câu cơm hàng ngày. Xăng đã tăng, thực phẩm leo thang, vậy mà nỡ lòng nào “ông nhà nước” lại thu thêm một thứ thuế mới thì đúng là sau khi nhà nước bị dồn vào thế “không thể chịu đựng nổi” thì cũng dồn người dân lao động vào thế chân tường thêm một bậc nữa. “Đã đói cho mày đói luôn” hay sao đây?

Dù sao cũng phải công nhận rằng chuyện kẹt xe ở Sài Gòn lúc này là rất trầm trọng. Kẹt mọi lúc mọi nơi, kẹt từ đường lớn đến đường nhỏ, kẹt tứ tung, kẹt đến nỗi chẳng biết đường nào ra. Liều mình, có những anh chị leo cả xe lên hè phố khấp khểnh gập ghềnh tìm lối thoát cũng không thoát nổi. Một ca sĩ từ Mỹ ghé về Sài Gòn chơi 2 ngày, rủ tôi đi ăn cơm chay, được cô em đèo xe gắn máy đi từ Đường Nguyễn Trãi đến Đường Huỳnh Khương Ninh Đa Kao mất hai tiếng đồng hồ. Tôi đi xe ôm từ Nguyễn Thiện Thuật đến nơi cũng mất gần một tiếng. Rất nhiều vị lỡ hẹn, lỡ cả chuyến bay vì kẹt đường. Thế nên ở Sài Gòn, muốn có bất cứ cuộc hẹn nào cũng cần tính trước bài toán kẹt đường này. Theo Cục Đường bộ Việt Nam, hiện mật độ phương tiện giao thông trên đường Hà Nội, TP Sài Gòn đã lên đến mức kỷ lục so với các nước trong khu vực.

Việc tìm những giải pháp để gỡ cho đường phố bớt kẹt xe là một việc cần làm và làm càng sớm càng tốt. Người dân nào cũng mong như thế cả, tuyệt nhiên không ai “vô cảm” trước tình trạng nhức nhối này.

Nhưng không thể đề nghị một giải pháp theo ý nghĩ đơn sơ, mà phải nghiên cứu xem hạ tầng giao thông của Hà Nội và TP Sài Gòn có thể “gánh” được bao nhiêu xe hơi, xe máy. Ông có đánh thuế nặng hơn nữa thì người đi làm kiếm cơm vẫn phải đi, mọi lưu thông hàng hoá, chuyển dịch của xã hội vẫn phải diễn ra. Ông hạn chế như thế là chỉ hạn chế được những anh “chạy rông”, không có việc làm. Mà những anh này lại thường hay la cà vào những ban đêm, tức là thời điểm không kẹt xe. Đánh thuế như thế là chỉ “chết” người lao động. Dù có phải đóng thuế, người dân cũng đành nghiến răng chịu đựng. Dân Sài Gòn đã nghiến răng nhiều rồi, nghiến đến nỗi sứt cả răng, nên bây giờ các cửa hàng nha khoa mới hốt bạc.

Cơm đường cháo chợ


Tôi có thể khẳng định rằng chỉ cần thu thuế của người lao động một ngày 20 ngàn đồng là tước đoạt của họ 2 bữa cơm. Bởi ngay khu chung cư tôi ở, cách đây vài năm chỉ có vỏn vẹn một quán cơm bình dân. Nay mọc lên khá nhiều. Trên con đường từ đường lớn vào chung cư đã có thể kiếm được 3 quán cơm bình dân. Hầu hết những quán cơm bày ngay ra đầu hè. Khi về Sài Gòn tôi sống “độc thân” nên “cơm đường cháo chợ” là chuyện thường xuyên hàng ngày. Ra quán ăn một tô cơm, một dĩa nhỏ cá kho hoặc tép kho, một bìa đậu hũ nhỏ dồn thịt, một tô canh, chỉ mất mười ngàn. Hôm nào lười, mua hai ngàn cơm, một khúc cá kho, năm trăm hay một ngàn dưa chua về nhà ăn, chỉ mất tám ngàn đồng. Đối với tôi và những người buôn thúng bán bưng hoặc những anh công nhân lao động, trong đó có cả những cô thư ký, những anh làm văn phòng ở Phường, nhân viên ở mấy cái công ty nhỏ cũng “tham gia” cơm hè phố. Mỗi bữa tối đa là mười ngàn đồng. Còn những công nhân viên khá hơn thì cũng thường dùng bữa trưa ở các cửa hàng bình dân sang hơn đôi chút, nhưng họ ăn đông, ăn tập thể, nên giá cả cũng rất rẻ, chỉ trên dưới 20 ngàn đồng mỗi bữa trưa.

Mà hầu hết những khách “cơm đường cháo chợ” đó lại là những người đi xe gắn máy. Mỗi ngày phải nộp thuế cho nhà nước 20 ngàn bằng với hai bữa cơm của họ chứ ít sao. Vậy nếu ông cứ thu thuế, họ có thể không đi làm nữa được không? Ông hạn chế được bao nhiêu người? Và những người đó là ai?

Nguyên nhân chính là gì?


Nhìn tổng thể phải thấy được nguyên nhân chính là hạ tầng cơ sở không đồng bộ với việc phát triển và quy hoạch “vô tổ chức” đã làm rối loạn nhịp sống của một đô thị. Nói cho rõ và gần gụi hơn, đường xá chỉ có vậy cả về số lượng cũng như chất lượng, không thể làm thêm, không thể nới rộng, trong khi xe cộ cứ mỗi ngày một nhiều thì kẹt đường là chuyện tất nhiên phải đến. Nó đã đến từ năm nảy năm nay rồi chứ không đợi đến bây giờ. Đáng lẽ vấn đề này phải được giải quyết hoặc bắt đầu giải quyết từ nhiều năm trước. Ai cũng hiểu phải có “lộ trình”, tức là phải có thời gian thực hiện. Nhưng cũng cần phải có can đảm làm những công việc lớn hơn chứ không phải hạn chế người dân, hạn chế phương tiện. Tại sao không dời những cơ quan nhà nước, những công ty xí nghiệp, những trường học ra ngoài thành phố? Sao cứ phải bám lấy cái nội đô?

Trước hết là phải làm được những việc đó. Rồi sau mới là những tuyến xe điện ngầm, những tuyến metro và những giải pháp khác thực hiện theo kiểu “có lộ trình”.

Cứ thực hiện bất chấp sự bất đồng của người dân


Nhà nước ước tính, chỉ thu được 70% số xe cá nhân cũng đã có 2.000 tỷ đồng mỗi năm. Việc thu phí xe lưu hành sẽ do UBND phường hoặc các đại lý thực hiện.

Phó Cục trưởng Cục Đường bộ VN, cho biết đây chỉ là đề nghị giải pháp kinh tế, hành chính để hạn chế lưu lượng phương tiện cá nhân ở Hà Nội và TP Sài Gòn. Còn thực hiện thế nào phải nằm trong tổng thể đề án do Bộ Giao thông - Vận tải và các bộ, ngành liên quan xây dựng trình Chính phủ.

Tuy nhiên nhìn đến giải pháp sau là việc thu thuế lưu thông đã được đề nghị nhiều lần nhưng chưa thực hiện được vì không biết thu như thế nào. Thu thuế hàng ngày, thì bất kỳ một chiếc xe nào ló mặt ra đường là phải “kiểm tra” thuế? Thu hàng tháng thì cũng chẳng hơn gì. Ai sẽ làm công việc đó và làm như thế nào để tránh cho người đi làm ăn khỏi bị phiền hà? Đi đến đâu cũng bị hỏi thuế. Còn nếu “đăng ký” mua xe ở thành phố phải nộp thuế quá cao thì người ta không dại gì mà không về các tỉnh khác để mua xe, giải pháp trở nên vô hiệu. Rồi còn rất nhiều thứ phiền toái khác như bắt buộc sinh viên học sinh phải đi xe buýt. Xin nhớ rằng những tuyến xe buýt hiện nay không hẳn là tiện dụng cho tất cả mọi người ở nhiều ngõ ngách, nhiều con đường khác nhau. Bây giờ hầu hết học sinh được cha mẹ trên đường đi làm, chở đến trường, một công đôi việc.

Những giải pháp này khó trở thành hiện thực hay nói khác đi là khó khả thi.

Trả lời câu hỏi về tính khả thi của các biện pháp này, ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Đường bộ VN nói: chắc chắn nó sẽ tác động mạnh đến người dân, nhưng nếu Chính phủ quyết tâm sẽ thực hiện được.

Như thế tức là dù biết dân không đồng tình, làm cho đời sống của người dân điêu đứng thêm, cũng cứ làm, nếu nhà nước quyết tâm?

Hay thật, một quyết tâm đáng sợ giữa mùa thu Sài Gòn!


Cái túi của nhà nước có thể phình ra 2.000 tỉ đồng mỗi năm, nhưng cái dạ dày của người dân thì teo lại cũng bằng ấy lần. Chưa nói đến số tiền ấy còn có thể thất thoát vì thu thuế… đánh rơi dọc đường hoặc chui vào những chỗ khác hơn là đầu tư vào đường sá.

Chúng ta hãy chờ đợi xem “sáng kiến” móc túi người dân này đi đến đâu.

Một kiểu ngăn sông cấm chợ


Và gần đây nhất, trước nguồn tin sở Giao thông công chính đề nghị trong thời gian tới sẽ cấm xe gắn máy trên 7 con đường (sau đó cấm cả xe hơi) trong đó có 4 con đường quanh chợ Bến Thành là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lưu Văn Lang và Nguyễn An Ninh đã khiến bà con tiểu thương ở chợ này mất ăn mất ngủ.

Đã có 700 chữ ký của giới tiểu thương gửi đơn “đề nghị”- đúng hơn là phản đối quyết liệt - ông Giao thông công chánh Sài Gòn. Bởi lý do chợ Bến Thành có diện tích hơn 10.000 m2 với 4 con đường bao quanh, 16 cửa ra vào. Riêng phía đường Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã có 12 cửa (Phan Chu Trinh: cửa số 3, 4, 5, 6, 7, 8 còn Phan Bội Châu: cửa số 10, 11, 12, 13, 14, 15). Từ trước tới nay hàng hoá chỉ cần dỡ xuống hành lang chợ lập tức có lực lượng bốc xếp vác vô chợ hoặc đưa lên xe ôm (kiêm thồ hàng) chở đi khắp nơi. Đó là những bao giày dép nặng hàng trăm ký, những kiện quần áo, vải sợi, túi xách… cồng kềnh hoặc cá, tôm cua sống phải chở trong bồn nước có kèm bình sục khí. Nên việc cấm xe trên những con đường trên sẽ khiến khách hàng dần sẽ bỏ chợ Bến Thành để đến những chợ khác, nơi khác có điều kiện vận chuyển hàng dễ dàng hơn, chợ Bến Thành sẽ biến thành ốc đảo phù hoa, một chợ không có xe cộ tới lui”.

Tiểu thương ngành hàng mỹ phẩm chợ Bến Thành lý luận: “Khi đã cho phép một cái chợ hoạt động mua bán thì phải nhìn nhận sự tồn tại của các dịch vụ đi theo nó. Ở đây là xe ôm giao hàng, bãi cho xe vận tải, xe taxi lên xuống vận chuyển, mà trong đó bãi giữ xe cho người buôn bán và khách mua sắm là tối cần thiết, không thể thiếu được. Việt Nam vẫn dùng xe gắn máy là phổ biến, dẹp bãi giữ xe khác nào dựng rào cản khách vào chợ?”.

Thị trường mua sắm đang bước vào mùa kinh doanh cuối năm với các cơ hội đón khách mua sắm Noel, tết Tây, tết Nguyên đán. Mong muốn của hàng ngàn người đang sinh sống nhờ vào chợ Bến Thành là đừng làm mất khách hàng của họ. Như thế không khác nào một kiểu “ngăn sông cấm chợ” thời bao cấp nay lại tái diễn.

Có lý quá, chẳng biết nhà cầm quyền TP. Sài Gòn nghĩ sao? Vừa phải thôi cho dân nhờ. Cái gì cũng cấm, cũng thuế, cũng phạt, thì ai chẳng làm được!

Lại thêm những vụ bạo hành


Mới tuần trước, vụ bạo hành em bé 13 tuổi ở Hà Nội được phanh phui làm choáng váng những con tim người lương thiện, thì đến nay một vụ bạo hành khác lại xảy ra giữa Thành phố Sài Gòn. Em Nguyễn Hữu Lợi, 9 tuổi, thường được gọi là bé Đen đã bị bà “mẹ nuôi” Nguyễn Thị Tuyết 44 tuổi, ở xã Huyện Bình Chánh, TP. Sài Gòn hành hạ suốt từ năm 2002 đến nay mới “phát hiện” ra.

Chị Nguyễn Thị Thu Trang là mẹ ruột của cháu Lợi, chồng chết vì ung thư, nhà quá túng quẫn nên đã cho bà Tuyết nhận Lợi làm con nuôi. Bà Tuyết đóng vai “người mẹ nuôi” tốt bụng, đưa cháu Lợi về làm… người ở không công. Mỗi ngày cháu phải làm việc quần quật, lau nhà, rửa chén, chăm sóc cho 4 con chó để nhận được những trận đòn man rợ bằng roi vọt và cả bằng búa. Chính anh Công an khu vực cho biết: “Sau những trận đòn liên tiếp cháu Lợi như vô hồn, có triệu chứng sốt. Bé bị đánh mang thương tích nặng nề, cơ thể đỏ lòm, bầm từng vết lớn”. Bé Đen kể: “Bà ấy lấy búa đập vào đầu con. Từ người về ở với mẹ Tuyết đến giờ, bà ấy đánh con nhiều lần lắm, con không nhớ hết”.

Chị Thu Trang, mẹ ruột của bé Lợi kể vài lần đến thăm con, thấy con băng đầu bị thương, đầy những vết sẹo, nhưng không chắc chắn con bị hành hạ nên không nói được. Và khi chị xin nhận lại con, bà Tuyết không cho và cấm cửa chị luôn.

Còn những người hàng xóm cũng biết rõ cháu Đen bị hành hạ, song cứ nghĩ là con đẻ của bà Tuyết và bà này rất hung dữ nên không ai dám nói. Cho đến khi biết bé Đen chỉ là con nuôi nên mới dám tố cáo.

Sau 5 năm ở với “mẹ nuôi”, bé đen trở thành chai lỳ với những vết hằn trên da và đầu óc trở nên ngớ ngẩn. Bé Đen không có giấy khai sinh, không đăng ký tạm trú tạm vắng, không được đi học, không bao giờ có thì giờ vui chơi với những đứa trẻ cùng lứa. Cuộc sống của em còn hơn là một kẻ tù đầy.

Một nghịch cảnh như thế để xảy ra suốt 5 năm giữa thành phố “văn minh lịch sự” quả là một vết đen đáng xấu hổ.

Tuy nhiên, tình trạng này không chỉ xảy ra ở Sài Gòn, còn khá nhiều nơi cũng có những trường hợp tương tự. Sự lợi dụng của những bà “mẹ nuôi”, “chị nuôi”, “anh nuôi” dưới nhiều hình thức đã và đang diễn ra. Tiếng chuông cảnh tỉnh này cần phải được chính quyền địa phương đặc biệt chú ý, người có trách nhiệm đầu tiên chính là anh cảnh sát khu vực và tấm lòng của bà con khu phố. Dù lối sống trong thời đại “kim tiền” đang phổ biến, nhưng cái tâm mới là nhân cách con người.

Trò chơi quái ác của anh chồng vũ phu


Chuyện thứ hai cũng không kém phần đau xót. Ở Việt Nam, phong trào “giải phóng phụ nữ” và tranh đấu cho bình đẳng bình quyền giữa nam giới và nữ giới đã được tuyên truyền rầm rộ từ lâu. Nhưng thực tế, ở nông thôn, tệ nạn hành hạ phụ nữ vẫn còn rất trầm trọng và mọi người lầm với “truyền thống lâu đời” của người Á đông. Vì thế nên ngay chính những người phụ nữ cũng vẫn còn “chịu đựng” tất cả mọi cảnh ngang trái, bạo lực cho mình. Họ coi đó như một bổn phận làm vợ , làm “dâu con” trong nhà. Lặng lẽ đón nhận cuộc sống phụ thuộc vào nhà chồng, cho sao chịu vậy. Phần khác chính là do ý thức trách nhiệm của những người đàn ông, những người chồng thiếu trách nhiệm hay nói một cách nôm na là những anh chồng vũ phu. Và những người hàng xóm thì chẳng ai buồn thiệp vào chuyện vợ chồng người khác, “đèn nhà ai nấy rạng”, mọi chuyện cứ thế lặng lẽ trôi trong nỗi đau bỏng rát, mòn mỏi của người phụ nữ.

Bởi thế nên mới xảy ra những cảnh hết sức thương tâm như người đàn bà bị chồng đốt, tôi đã có dịp tường trình với bạn đọc. Nay lại xảy ra cảnh một người vợ bị chồng lột truồng nhốt vào... chuồng chó.

Chị Lý Thị Nghi (huyện Yên Dũng, Bắc Giang) đã bị chồng là Đào Văn Tuyến đánh đập và lột sạch quần áo, sau đó nhốt vào chuồng chó. Là một kẻ ham mê rượu chè cờ bạc, Đào Văn Tuyến đã nhiều lần đánh đập hành hạ vợ con tàn bạo. Hành động trên ngang nhiên diễn ra, và có điều lạ là anh chồng vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, chính quyền cũng chẳng thèm để mắt ngó tới, cứ như đó là “chuyện hàng ngày ở xã”.

Không chỉ chửi bới bằng thứ ngôn ngữ thô tục, nhiều lần chị Nghi còn bị Đào Văn Tuyến đánh đập tới mức chị phải quỳ xuống xin tha Tuyến mới dừng tay. Sau những trận đòn, nhiều lần Tuyến còn đuổi chị ra khỏi nhà. Tuyến còn nhiều lần gập đôi chiếc dây nồi cơm điện đánh con tới tấp. Những trận đòn ấy làm cho cậu bé hơn chục tuổi đau rát không thể ngồi xuống ghế, khi tắm cho con chị Nghi xót xa chảy nước mắt vì những vết tím bầm ngang dọc…

Tối mồng 10 tháng 11 (tức mồng 1 tháng 10 âm lịch) do thấy có người gọi cổng để đòi tiền, Tuyến cho rằng đó là điều không may cho hắn nên đã sinh sự chửi mắng và đánh đập chị Nghi.

Khác với những lần trước, lần này chị Nghi đã phải quỳ gối xin tha nhưng Tuyến vẫn không chịu, hắn nghĩ ra một trò chơi mới toanh, Tuyến bắt chị Nghi phải qùy gối lạy con trai mình. Khi chị Nghi không làm theo, Tuyến lột hết quần áo trên người chị và bắt chị chui vào chuồng chó rồi khóa cửa lại. Chưa đã, hắn còn sang kêu bà mẹ vợ đến nhìn con gái bà đang trần như nhộng nằm trong chuồng chó. Bà mẹ xót xa trách: “Nếu không ở được với nhau thì viết vài chữ rồi ra toà, chứ sao mày lại hành con gái tao thế này”.

Anh chồng tỏ vẻ thách thức luôn cả chính quyền địa phương, bèn vào nhà gọi điện thoại cho tổ bảo vệ của thôn đến để…chứng kiến.

Lát sau, khi 3 người trong tổ bảo vệ thôn có mặt, chính anh chồng vũ phu lại yêu cầu lập biên bản. Mọi người đều hết lời khuyên giải nhưng cũng phải gần một tiếng đồng hồ sau, Tuyến mới đưa chìa khoá mở cửa chuồng chó cho chị Nghi ra.

Đêm hôm đó, chị Nghi được mẹ đưa về nhà mẹ ruột. Bản thân chị Nghi cũng đã viết đơn trình báo và đã được CA huyện Yên Dũng thụ lý, tuy nhiên không hiểu sao đến nay anh chồng tàn bạo kia vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật?!

Một hành động cố tình bao che hay lại “vô cảm” trước nỗi đau của người dân?