Từ nhà cao tầng đến hè phố đều là chuyện tiếu lâm
Văn Quang
Chỉ trong vòng hơn một tuần giữa tháng 10 vừa qua, ở TP. Sài Gòn đã xảy ra hai sự kiện lẩm cẩm cứ như chuyện tiếu lâm. Người dân TP Sài Gòn chưa hết ngỡ ngàng vì hình ảnh chen lấn bát nháo tranh nhau mua căn nhà tại dự án Vista vào cuối tuần trước, tuần này lại càng thêm bất ngờ vì cảnh hàng ngàn người xếp hàng chầu chực để tìm cơ hội mua căn nhà Sky Garden 3 của Phú Mỹ Hưng.
Nhiều nhà “bình loạn” ở Việt Nam coi đó là một chiêu làm giá của các đại gia trong lãnh vực thị trường địa ốc. Mỗi chiêu có khác nhau chút đỉnh, nhưng tựu trung là người bán hàng tìm mọi cách bán được hàng với giá cao, còn sau đó muốn ra sao thì ra. Khoản đóng tiền coi như tiền cọc để giữ chỗ, nếu nó không đúng luật thì “công ty nhớn” liền đẻ ra một kiểu đóng khác gọi là “tiền thành ý”. Như thế là không phạm luật. Thật ra có gọi là tiền gì cũng thế thôi, nó vẫn là tiền “xí chỗ” và gọi nôm na vẫn là tiền cọc. Nhưng tôi không bàn đến chuyện luật lệ ở đây, xin để cho các nhà đầu tư, các đại công ty và các “cơ quan chức năng” thương lượng với nhau cho kín đáo vui vẻ.
Tôi xin đi vào mặt sau của thứ chuyện tiếu lâm này. Đó là tâm trạng của người dân khi nhìn vào sự việc.
Những ông chủ thật sự giấu mặt.
Từ ngỡ ngàng không thể hiểu tại sao những “ông nhà giàu” lại cay cú, tha thiết đến việc mua một căn nhà (hay ở đây còn gọi là căn hộ) cao cấp đến thế. Có thể còn tha thiết hơn là làm một mâm cơm thịnh soạn cúng ông bà già. Nửa đêm đi xếp hàng, chen lấn xô đẩy để xin một chỗ mua nhà thì từ thượng cổ đến nay chưa hề có. Chị bán xôi trước chợ Bàn Cờ chép miệng, giọng đanh đá cá cày: “Bà thì bà thèm vào. Mời thì may ra bà mua chứ bắt bà xếp hàng thì còn lâu”. Còn anh xe ôm thì nhún vai: “Không biết tiền chúng nó ở đâu ra mà lắm thế”. Hỏi như thế không phải là anh không biết, chỉ là một cách nói và ai cũng hiểu tiền ở đâu ra, của những thứ người nào. Căn nhà 200 ngàn đô la chứ có phải ít của đâu. Ngoài một số rất ít người làm ăn lương thiện có đủ khả năng mua, còn ai vào đó? Và nhu cầu thật sự cũng lại khác hẳn. Những người nhiều tiền thường đã có sẵn nhà rồi, ít có ông nào thiếu nhà để ở. Còn những tay cò nhà, cò đất cũng chỉ là những người kiếm chác giữa đường. Chủ căn nhà thật sẽ là những người giấu mặt, những người có quá nhiều tiền không biết làm gì, không biết chôn giấu ở đâu cho chắc. Lạm phát gia tăng, tiền đang mất già ào ào, vật giá leo thang như lính cứu hoả leo lên nhà lầu, để tiền trong két chỉ có nước lỗ trắng mắt. Chỉ có cách mua bất động sản để đó là chắc ăn. Mua nhà, mua đất không lời to thì cũng lời nhỏ, chẳng bao giờ sợ lỗ. Tiền lại đẻ ra tiền.
Đấy mới chính là những ông chủ thật sự của những ngôi nhà cao cấp. Những tay chân đất đi xếp hàng, phần đông là những tay “làm mướn” mà thôi. Ngay cả tay đầu cơ cũng chỉ là một thứ trung gian cao cấp cho những ông chủ thật ở phía sau. Những ông chủ hét ra lửa, mửa ra… lý luận suông. Cuối cùng vẫn là đồng đô la chi phối. Có bốc láo kiểu gì thì cái đích cuối cùng vẫn thế.
Giấc mơ viển vông của dân nghèo.
Nhiều bạn tôi ở nước ngoài cứ thắc mắc dân VN còn nghèo, sao bây giờ nhiều người tranh nhau mua “ô tô” đời mới, giành giật nhau, van nài các công ty để mua “nhà cao cấp”? Bộ dân Việt Nam ta sang đến năm nay sung túc no đủ, “dửng mỡ” lắm rồi sao?
Xin thưa ngay, 99% dân đen chúng tôi không hề liên quan gì đến những “vụ việc” mua bán nhà cửa như thế này. Vật nhau với giá cả leo thang từ đầu năm đến giờ còn toát mồ hôi, nói chi đến “giấc mơ ngàn đời không với tới đó”. Mấy hôm nay triều cường lớn nhất trong 48 năm qua, còn làm điêu đứng hơn nữa. Nếu đầu năm có mười ngàn mua được 2 ký gạo, thì nay chỉ mua được đúng một ký. Thế mà nhiều nhà “kinh tế học” cứ phán rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%, cao nhất trong 10 năm qua; chỉ số giá tiêu dùng trong 10 tháng đầu năm ở con số 8,12%. Không biết những con số này lấy ở đâu ra và chính xác được bao nhiêu phần trăm? Có lẽ lấy ở những báo cáo của cấp dưới và là những báo cáo của những nhà làm thống kê nhưng quên chưa biết kinh tế học là cái quái gì cho mệt.
Còn người dân thì càng không cần biết đến cái sự tính toán đó, ai nói sao cũng được. Họ chú ý đến cuộc sống thực tế, giá cả trước mắt. Đồng lương của người công nhân lao động đã thấp, hụt trước thiếu sau cứ mỗi ngày một thiếu thốn hơn. Vì thế những cuộc đình công ngày một nhiều. Có ai muốn đình công làm gì khi đang làm ăn xuông xẻ. Đi xin việc bã người còn chưa được, đình công làm gì cho vất vả.
Cứ nhìn vào thực tế đó, đủ biết người dân kiếm cái nhà tàng tàng để ở còn chưa xong, có ai dám mơ đến một căn nhà “hoành tráng” bao giờ đâu. Nhất là một căn nhà giữa thành phố lại là giấc mơ viển vông. Đúng là nằm mơ giữa ban ngày. Cho nên những chuyện xếp hàng, chen chúc xô đẩy để được đóng tiền mua nhà đối với người bình dân trở thành chuyện khôi hài, chuyện tiếu lâm pha đầy cay đắng, ngạo đời, ngồi xổm lên những số phận kém may mắn.
Ngay cả việc xây dựng những khu chung cư cho người có thu nhập thấp cũng lại chảy vào túi những tay đầu cơ, những ông chủ “bự”, chứ người nghèo chỉ là những người bị lợi dụng tên tuổi cái nghèo để dự án được phê duyệt. Một số rất ít người nghèo có phúc được gọi tên mua nhà chỉ để làm cảnh, làm lá chắn cho cái dự án khổng lồ đầy tính nhân đạo kia. Rút cục, anh nhà nghèo vẫn cứ ở nhà tạm, nhà vá. Dân trung lưu nhảy vào ở sau khi đã qua ba bốn cửa chung chi, vài ba lần môi giới. Tiền lại chảy vào túi nhà giàu, vào két sắt những anh có chức có quyền. Và… tiền lại không biết để đâu cho hết, lại đi mua nhà mua đất. Cái vòng luẩn quẩn ấy xoay đi xoay lại từ bao năm nay. Những tham quan kiếm tiền dễ như thò tay vào túi hoặc không cần thò tay vào túi, có người nhét sẵn vào túi quan rồi.
Người dân đen chỉ biết chong mắt lên nhìn những ngôi nhà cao tầng rồi cúi đầu ngậm ngùi. Đừng có hòng nhào vô những “chuyện cao cấp” đó.
“Cải tạo” hè phố để làm gì?
Bây giờ đến chuyện cấp thấp. Thấp nhất thành phố là cái hè phố. Thế mà cũng lắm chuyện. Có một thời đi đâu cũng thấy hè phố được “chỉnh trang, cải tạo”. Đủ thứ gạch được mang ra thí nghiệm làm hè phố phục vụ nhân dân đi lại cho tiện, làm đẹp thành phố, đẹp mặt cả nước.
Nhưng chỉ một thời gian sau, những viên gạch không chịu “cải tạo” cho tiến bộ nên sinh hư, sinh hỏng. Hè phố lỗ chỗ như cái tổ ong, lem nhem như mặt cô gái giang hồ về già. Lại đào bới lên “cải tạo” một phen nữa, trát thêm tí son phấn, song nó cũng chẳng đẹp hơn được. Thế là cái chương trình kế hoạch xây dựng, cải tạo hè phố có “tính vĩ mô” không kèn không trống nằm một chỗ. Tuy nhiên việc bảo trì, chỉnh trang thường lệ thì vẫn phải làm.
Ngân sách nhà nước mỗi năm đầu tư cho việc xây dựng, duy tu và nâng cấp vỉa hè trên địa bàn TP Sài Gòn lên đến cả trăm tỉ đồng. Ngoài ra còn số tiền đóng góp của người dân theo cái khẩu hiệu rất dễ thương là “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Mỗi nhà, mỗi “hộ” có hè phố chạy ngang đều phải chung đủ theo “tiêu chuẩn” rộng hẹp dài ngắn. Đôi khi mấy “hộ” ở trên lầu cũng phải đóng góp, dù hè phố có chạy qua hay không.
Những bãi để xe mini của “anh hùng” xóm nhỏ
Hè phố dùng làm chỗ để xe, chỗ kinh doanh của mấy cửa hàng, mấy công ty có ăn cánh với quan địa phương. Nếu bạn đã từng về chơi TP. Sài Gòn thanh lịch của chúng tôi thì việc đi dưới lòng đường là chuyện tất nhiên phải thế. Và những chỗ để xe của các cửa hàng có phải chung chi hay không thì phải hỏi mấy ông “cán bộ” phường xã và cảnh sát khu vực mới biết rõ đường đi nước bước ra sao. Đấy là những điểm tự phát hay nói cho rõ là khách khứa cứ việc để xe bừa phứa trước các cửa hàng, cửa hiệu. Nhà hàng chỉ làm phúc để một cái bảng “coi chừng mất xe” hoặc thêm một câu thòng “nhà hàng không chịu trách nhiệm”. Còn nếu ăn uống trên hè phố thì cứ để ngay chiếc xe kè kè bên mình cho chắc ăn, ai đi mặc ai, xe ta ta giữ. Ấy thế mà quay đi quay lại chỉ vài phút là chiếc xe không cánh mà bay lúc nào không biết. Dân chôm ở thành phố chúng tôi rất lão luyện, chỉ trong nháy mắt, khoá nào cũng mở tuốt hết.
Vì thế lại cần có những bãi giữ xe mini, những nơi tự phát, giữ chừng vài chục cái xe gắn máy, do một “anh hùng” địa phương cai quản. Mỗi đầu ngõ hẻm, mỗi nơi ăn uống lẻ tẻ đều có một “anh hùng” cầm đầu vài chú lóc nhóc, chưa đáng mặt dân dao búa, phục dịch. Chẳng trách nhiều ông cứ nói “ra ngõ là gặp anh hùng”. Những tay anh chị này thường là dân du côn, có vài ba cái “tiền án tiền sự” về tội đấu đá lăng nhăng, hết thời, về địa phương cai trị mấy sấp nhỏ. Tuy vậy cũng không loại trừ một vài tay có tí quyền tí chức ở địa phương đứng ra cai quản ngầm những chỗ gửi xe mini này. Những vị đương chức đương quyền hoặc đã nghỉ hưu được chính quyền “phe ta” ưu ái, cho ra làm “anh hùng bến bãi” kiếm ăn. Đấy là sơ sơ mấy cái bến bãi nhỏ mà đi bất kỳ đâu bạn cũng gặp.
Đóng góp để đi dưới lòng đường
Còn những bãi giữ xe ngay trên hè phố ở những nơi chốn đông đảo khách lãng du, ở những địa điểm sang trọng, to đẹp thì có tổ chức hẳn hoi. Bãi giữ xe thoải mái chiếm dụng hè phố, khách bộ hành bắt buộc phải đi dưới lòng đường, đồng hành cùng đủ loại xe cộ đông nghẹt. Nếu bị tai nạn, rõ ràng anh đi dưới lòng đường là người có lỗi. Đường dành cho xe chứ có dành cho anh cuốc bộ đâu. Ấy thế mà người dân vẫn phải chịu đựng. Cãi với ai? Chẳng dại gì dây với hủi. Kiện cáo gì ba thứ lặt vặt đó, mà có kiện cũng chẳng ai thèm xử. Thế là những bãi giữ xe cứ nghiễm nhiên tồn tại.
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” rồi để cúng cho mấy tay trùm sử dụng. Lại thêm một chuyện vô lý mà bạn đi tìm khắp thế giới không thấy, món hàng “quái” này chỉ có thể tìm thấy ở Việt Nam chúng tôi thôi. Dân kêu mặc dân, khách du lịch bực mình mặc khách, bộ mặt nhếch nhác cứ bày ra hàng ngày… Ai mắc cỡ, ai xấu hổ mặc ai, khi bộ mặt đã “đóng chai” thì chuyện nhỏ đó đâu có ăn nhằm gì.
Tiền tỉ đi đâu?
Hãy lấy thí dụ ở một quận thuộc TP. Sài Gòn. Tiền đầu tư cho chỉnh trang vỉa hè của quận 1 hàng năm lên đến hàng chục tỉ đồng, nhưng nguồn thu từ kinh doanh bãi xe vỉa hè lại làm giàu cho cá nhân
Nằm ở khu vực trung tâm TP Sài Gòn, quận 1 là nơi có số lượng bãi giữ xe nhiều nhất thành phố. Nếu tính từ tháng 9-2007 trở về trước có trên 500 bãi giữ xe, từ tháng 9 đến nay quận 1 đã rút phép hoạt động của 300 bãi giữ xe vi phạm, nên cứ tính vào thời gian hiện tại quận 1 có 200 bãi giữ xe.
Làm phép tính cỏn con: Mỗi bãi giữ xe tại trung tâm quận 1 thấp nhất mỗi ngày giữ từ 100 đến 150 xe, với giá 2.000 đồng/chiếc thì doanh thu mỗi năm của một bãi giữ xe vỉa hè khoảng 90 triệu đồng. Số tiền này nhân với 200 bãi giữ xe thì doanh thu khoảng trên 20 tỉ đồng mỗi năm. Đây chỉ là cách tính khiêm tốn bởi trên thực tế các bãi giữ xe ở quận 1 đều thu hút lượng xe gắn máy gởi rất nhiều.
Phó chủ tịch UBND quận 1, cho biết năm 2006 kinh phí đầu tư của quận cho việc “cải tạo” vỉa hè khoảng 4 tỉ đồng, trong đó người dân đóng góp 1 tỉ đồng. Riêng năm 2007, kinh phí đầu tư cho việc cải tạo, sửa chữa vỉa hè của quận 1 lên đến trên 30 tỉ đồng.
Số tiền nhà nước và nhân dân bỏ ra là như thế, song số tiền thu được từ các bãi giữ xe lại quá ít. Theo Chi Cục Thuế quận 1, trung bình hàng năm số tiền thu thuế từ các bãi giữ xe được quận cấp phép hoạt động khoảng 5 tỉ đồng. Vậy còn 15 tỉ đồng hoặc hơn nữa “trốn” đi đâu? Vào túi ai?
Số tiền tỉ này đã “chảy” vào túi những chủ bãi giữ xe chiếm vỉa hè của nhà nước và của dân, những trùm chuyên “xẻ thịt” vỉa hè và những người bảo kê các bãi xe sai phạm này. Vậy người bảo kê là ai?
Có lẽ câu hỏi này của tôi đặt ra hơi lẩm cẩm đến có thể gọi là ngốc nghếch. Người dân nào chẳng biết không có chức có quyền thì bảo kê làm sao được. Chỉ ngày trước ngày sau là bị hốt trọn gói ngay. Ai cấp phép? Ai thu thuế? Ai được phép “hốt”? Đấy là câu trả lời rõ như ban ngày, việc gì phải đi tìm ở đâu cho loạn óc.
Xin đừng nghĩ rằng người dân mù tịt không biết chỗ… ma ăn cỗ. Cũng như những vu bắt bớ giam cầm xe với những bãi giam xe to đùng, chẳng bịt mắt ai được và người dân đau như hoạn chẳng lẽ họ không biết ai “hoạn” mình? Họ có nói nhưng là chỉ dám nói thầm cho đỡ tức, thiếu điều chui vào cái lu nước mà hét ầm lên thôi. Ai cũng biết, và ai cũng bực mình vì hàng ngày phải nhảy đại xuống lòng đường mà cuốc bộ, nhưng cũng đành câm. Hé môi là bị những tay du đãng - đàn em những “ông trùm” - nện cho chí tử. Lại là thứ du đãng được bảo kê, du đãng có nộp thuế thì thua to là cái chắc. Xin chứng minh cái sự bảo kê đó.
Đội trưởng Đội Quản Lý Trật Tự Đô Thị (QLTTĐT) Q.1 cho biết quận có 880 quán hàng ăn uống, cao ốc văn phòng cho thuê... có sử dụng lề đường để xe, giữ xe, trong đó có hơn 500 trường hợp được UBND quận 1 cấp phép sử dụng tạm lề đường để kinh doanh. Và Chi Cục Thuế quận 3 có thu thuế bãi giữ xe ở số 75B đường Nguyễn Đình Chiểu (đối diện siêu thị Co.opMart).
Rõ ràng những tay du đãng đó có “ba tăng” và có nộp thuế. Nói cho chính xác là những “trùm bến bãi” đó có ăn chia với "cơ quan chức năng" đàng hoàng. Còn tiền nộp có vào cái thứ quỹ quỷ quái gì đó của quận huyện, phường khóm hay chui vào két nhà quan nào thì chưa biết.
Nói gọn lại các “cơ quan chức năng” có quyền cấp giấy phép này đã hồn nhiên coi hè phố là “của riêng mình”, tự do xẻ thịt.
Cảnh này diễn ra bao nhiêu năm nay rồi. Đến nay thứ tệ nạn này chướng mắt quá, nhà nước bèn giao cho quận huyện “chịu trách nhiệm xử lý”. Trong khi đó quận lỡ cấp phép, thành phố phải... chờ? Đến ngày 15-10 là hết hạn, nhưng thực tế thì sau ân hạn cuối cùng này, những bến bãi vẫn đầy rẫy trên hè phố. Có lẽ lại “cần một thời gian” nữa và chưa biết đến bao giờ. Rồi đến “cái hẹn bao giờ” ấy chỉ được một thời gian rồi đâu lại đóng đấy, cứ “vũ như cẩn” như đã từng làm một hai lần trước đây.
Những bất công trắng trợn trong cảnh đuổi bắt.
Người dân thành phố lớn không ít lần chứng kiến cảnh phố xá đang yên lành, bỗng những hàng buôn gánh bán bưng ôm thúng ôm mẹt chạy tán loạn như có cướp. Hè phố rối loạn hẳn lên khiến những khách bộ hành ngơ ngác. Đó là cảnh khi nhìn thấy anh cảnh sát khu vực hoặc chiếc xe thùng, trên xe có mấy anh cảnh sát và dân phòng đi tà tà, lượm những người buôn bán trên vỉa hè.
Theo đội trưởng Đội Quản Lý Thị Trường Q.1, nếu trong tháng 9-2007 vừa qua, đội này cùng lực lượng QLTT 10 phường “xử lý” hơn 7.700 vụ vi phạm trật tự lòng lề đường, thì có đến hơn 3.700 vụ thu gom, xử lý bàn ghế, thau chậu... của người buôn bán vỉa hè! Mà những người này toàn là dân nghèo rớt mùng tơi, làm được thứ gì mang ra bán thứ đó. Có khi chỉ là mấy củ khoai luộc, mấy hột đậu phọng nhà quê, dăm ba trái cam, vài va cái cây cảnh lèo tèo từ làng hoa Gò Vấp… Kiếm ngày vài chục đã là may. Những cảnh “truy bắt” diễn ra từ hè phố này sang hè phố khác, người dân nghèo chạy toé khói, có cái xe đạp cà tàng làm chân chạy gạo cũng bị đưa lên xe về nơi… an nghỉ cuối cùng.
Thế nhưng đi hết các con đường dài của thành phố đều nhận ra các quán lớn quán nhỏ hay cửa hàng cửa hiệu to tướng đều lấn chiếm vỉa hè một cách công khai, xe để từng hàng dài, không thấy ai cản trở cả. Các chú đi tuần, đi bắt, cứ như không trông thấy, chỉ còn thấy toàn những anh khố rách áo ôm thôi.
Người đi phố chứng kiến cảnh này từ năm này sang tháng khác, nhìn quá rõ sự bất công trắng trợn đó. Đó là thứ chuyện tiếu lâm tân thời không để cười mà để khóc.
Không phải chỉ có ở Sài Gòn, những người dân ở các thành phố khác như Hà Nội, Đà Nẵng, Đắc Lắc, Ban Mê Thuột… cũng phải lên tiếng về sự bất công này. Có người đặt câu hỏi phải chăng hè phố là của người giàu? Phải chăng có tiền thì cho qua, không tiền thì chịu phạt? Tôi tưởng không cần trả lời câu hỏi này vì người dân hỏi là tự họ có câu trả lời rồi.
Đây mới chính là mấu chốt của vấn đề. Công bằng xã hội ở đâu?