Giá cả tăng vọt và tác động dây chuyền.
Văn Quang
Chuyện thời sự trong mọi gia đình Việt Nam trong tháng 7 này là chuyện giá cả tăng vọt theo kiểu phi mã. Không phải như những nguồn tin cho rằng chỉ trong tháng 7 giá cả mới nhảy vọt, mà thật ra từ đầu năm đến nay, giá cả vẫn tăng. Tháng nào cũng tăng, chẳng có mặt hàng nào là giảm giá, ngoại trừ mặt hàng điện máy. Nhưng ngay trong việc giảm giá hàng điện máy cũng lại phát sinh những chiêu… giảm giá đểu. Tôi sẽ kể trong một đoạn sau.
Hàng điện máy là thứ mặt hàng không phải là thứ hàng thiết yếu cho hầu hết các gia đình Việt Nam. Tôi nói gia đình Việt Nam là nói chung từ thành thị tới thôn quê, và nhìn vào tuyệt đại đa số chứ không chỉ có dân thành thị. Bởi cái khoảng cách về giàu nghèo ở Việt Nam cứ mỗi ngày một lớn dần. Nói cụ thể hơn là người nghèo thì ngày càng nghèo đi, người giàu ngày càng giàu lên. Nhất là những người có chức có quyền ở bất cứ nơi nào, thì sự giàu lên nhanh chóng và… cứ như nằm mơ thì ở VN ai cũng biết, ai cũng thấy. Tất cả những thứ đó ngày càng rõ dần.
Gần nhau lắm nhưng cũng xa vời vợi
Đối với người nghèo, ai cũng biết không có cái máy ảnh, không có cái máy để nghe nhạc MP3- MP4, kể cả không có cái ti-vi cũng chẳng sao. Nhưng không có gạo thì đói to, không có sữa thì con không sống nổi, không có thuốc thì bệnh tật hành hạ. Tất nhiên là trong thời đại văn minh, ai cũng muốn có những tiện nghi hiện đại để dùng hàng ngày. Song cái mái nhà dột nát còn chưa vá được thì nói gì đến những tiện nghi khác.
Bạn có thể nhìn thấy ngay hai cái hình ảnh giàu nghèo trái ngược đó trong một bước rất gần. Thành thị và thôn quê gần nhau lắm, chỉ cần vài cây số đã có thể thấy ngay và nếu chịu khó đi xa vài chục cây số, vài trăm cây số hoặc nói theo kiểu tính toán ở nước ngoài thì đi vài chục miles, bạn sẽ thấy rõ hơn sự khác biệt này. Càng đi xa càng rõ và cái tỉ lệ giàu nghèo càng tăng. Thí dụ nếu bạn nhìn thấy sự “hoành tráng” của một thị trấn thì sau đó bạn sẽ nhìn thấy vài chục ngôi làng với nhà tranh vách đất tiều tụy. Bạn nhìn thấy một ngôi nhà lầu ở thôn quê thì bên cạnh đó là hàng trăm, hàng ngàn ngôi nhà tồi tàn rách nát. Nếu ở thành phố bạn thấy một vài cái nhà hàng sang trọng “cực kỳ” với vài trăm thương gia, quan chức lớn nhỏ chen chúc ngồi nhậu thì đi xa hơn chút xíu bạn sẽ gặp hàng ngàn người dân đầu tắt mặt tối mà không đủ ăn.
Đó là những thứ hơn 30 năm “hòa bình” mang lại. Thành thị và thôn quê gần nhau lắm nhưng cũng cách xa vời vợi, tưởng như không bao giờ với tới.
Không thề điều tiết giá cả thị trường
Khoảng cách càng xa hơn khi đời sống ngày một khó khăn hơn. Giá cả leo thang bao nhiêu thì sự giàu nghèo càng phân hóa rõ rệt. Người giàu không cảm thấy gì khi giá gạo tăng vài ngàn đồng một ký, nhưng với người nghèo thì đó là một gánh nặng. Bữa cơm sẽ phải bớt dần những món ăn ngon. Và rồi cá thịt sẽ không bao giờ còn hiện diện trên mâm cơm nhà nghèo nữa. Và cứ thế, từ đầu năm đến nay, gạo cũng phải bớt trong bữa ăn hàng ngày.
Nếu phỏng vấn bộ trưởng Tài Chính thì sẽ nhận được những nhận định ở “tầm vĩ mô”. Đối diện với nguy cơ lạm phát, nói với báo chí, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Vũ Văn Ninh cho biết chính phủ sẽ quyết liệt trong điều hành cả "vi mô" và "vĩ mô" về giá cả. Nhưng nếu phỏng vấn những bà nội trợ, những công nhân công nghiệp vẫn hàng ngày tiếp xúc với giá cả cụ thể những mớ rau con cá, ta sẽ thấy giá cả tăng đã gây ra những lo lắng cho họ như thế nào.
Từ ngày tăng giá điện, thực phẩm leo thang. Không thể lý luận giản dị rằng giá điện tăng theo “lũy tiến”, tức là dùng nhiều thì phải trả giá đắt hơn, người nghèo dùng điện ít hơn thì trả ít hơn đã là “nghĩ đến quyền lợi của người nghèo”.
Thật ra, rồi tất cả lại đưa lên vai người nghèo gánh hết. Bởi các công ty sản xuất, các xí nghiệp chế biến khi bị tăng giá điện, sẽ tăng giá hàng hóa. Phân bón tăng thì tất nhiên giá gạo cũng tăng. Thế là anh ở giữa không thiệt hại gì nhiều mà cái đại đa số tuyệt đối thầm lặng kia lãnh đủ. Từ đó kéo theo hàng trăm, hàng ngàn thứ khác ngoài thị trường vọt theo. Cái tác động dây chuyền đó là điều ai cũng thấy.
Nhưng thấy đấy mà không làm gì hơn được. Chính phủ không đủ năng lực để điều tiết giá cả thị trường. Đã từ cả năm nay, người ta kêu om lên giá sữa tăng dữ dội, giá thuốc tây tăng theo kiểu nhà thuốc nào muốn bán giá bao nhiêu thì bán. Kiểm tra, thanh tra túi bụi, phạt mấy cái tiệm thuốc tây không có dược sĩ đứng bán hàng vì chỉ cho thuê bằng cấp, làm biên bản mấy cái cửa hiệu bán quá giá, quá hạn, nhưng chỉ lơ mơ rồi đâu lại vào đấy. Còn chợ búa thì chẳng ai hơi đâu mà điều chỉnh giá cả. Các bà bán hàng cứ tự do điều chỉnh.
Ví thế kêu cho vui, kêu cho có tiếng nói chứ chẳng lẽ lại câm, nên kêu cứ kêu, tăng cứ tăng. Chỉ khổ người dân ba cọc ba đồng. Các bà nội trợ đang kêu trời như bọng, chắt bóp từng ly sữa cho con. Một công nhân, trung bình lương tháng gần một triệu đồng, nếu trước kia chi tiêu hết 600.000 đồng kể cả tiền thuê nhà, xe pháo, quần áo thì bây giờ phải trả tối thiểu là 800.000 đồng. Số tiền gửi về cho gia đình chỉ còn vỏn vẹn từ 50.000 đến 100.000 là cùng. Không thể có tiền dành cho khi đau ốm bệnh hoạn.
Hiện tượng bỏ công ty
Cũng chính vì thế nên bây giờ có hiện tượng khá nhiều cô gái từ thôn quê ra thành thị làm việc tại một số công ty của người trong nước hoặc của người nước ngoài (hầu hết là những công ty lớn do người nước ngoài làm chủ). Nhưng chỉ được một thời gian rồi chịu không nổi với công việc quá nặng nhọc và với đồng lương không tăng mà giá cả cứ tăng nên đã bỏ công ty ra ngoài kiếm việc khác.
Lâu nay, để có "mặt bằng" giá nhân công cạnh tranh, chính phủ đã khống chế mức lương tối thiểu cho công nhân công nghiệp ở mức rất thấp. Và các chủ doanh nghiệp, những nhà kinh doanh, đã tìm mọi cách để chỉ trả cho người công nhân mức lương thấp nhất ấy, và còn cố gắng để không phải trả kèm thêm bất cứ khoản phụ cấp nào.
Nhiều doanh nghiệp còn trốn tránh cả việc đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cho người lao động. Với mức lương chỉ từ 600.000 VND tới 1.200.000 VND, người công nhân công nghiệp đang làm việc đầu tắt mặt tối ở các nhà máy xí nghiệp tại các khu công nghiệp, các thành phố lớn hiện tại là những người có đời sống "dưới mức khổ". Tất cả mọi khoản chi tiêu trong tháng của họ đều chỉ trông vào những đồng lương ít ỏi nhiều khi còn bị chậm trả. Không ít những công ty có những ông chủ người nước ngoài coi công nhân VN ngày như nô lệ, chửi bới quát tháo là chuyện hàng ngày, bạt tai đá đít cũng thường xảy ra, chưa nói đến những chuyện “gạ tình”, “ép tình”, lợi dụng “cọ quẹt” đểu cáng âm thầm trong các cơ xưởng. Người công nhân gạt nước mắt chịu đựng để kiếm miếng ăn, thông tin về những cuộc đình công xảy ra chỉ là bề mặt và là một con số rất nhỏ trong đời sống vất vả khổ sở đó.
Chỉ cần một mớ rau tăng gấp đôi, vài con cá nhỏ tăng gấp rưỡi, rồi giá thuê nhà, giá điện giá nước đều tăng… thì đời sống hàng ngày của người công nhân lập tức khốn đốn. Khi không còn chịu đựng nổi nữa, khá nhiều các cô gái đã phải bỏ việc công ty, ra ngoài kiếm việc khác hy vọng “dễ thở” hơn.
Bỏ việc rồi đi đâu?
Hầu như không có cô gái nào đã ra thành phố làm việc, khi chịu không nổi lại quay về với ruộng đồng.
Thoạt đầu thì cô nào cũng cho rằng sẽ kiếm một công việc “lương thiện” như đứng bán hàng cho một vài cái cửa hàng bán đồ “sida”, bưng bê cho một nhà hàng ăn uống… Nhưng chính ở những nơi đó các cô sẽ dễ bị cuốn hút vào những công việc khác, chưa nói đến những chàng Sở luôn trong tư thế sẵn sàng đưa đón. Những quán cà phê, mát xa, bia hơi luôn có nhu cầu “cần tuyển nữ phục vụ trẻ” với những tấm bảng trưng ngay trước những tấm kính bóng loáng.
Cho nên ở những thành phố lớn bây giờ con gái nhà quê đi làm “tiếp viên” nhan nhản, quán cà phê, quán mát-xa mọc lên không thua kém gì các tiệm ăn, quán cóc. Đến bất cứ dãy phố nào, dù sang hay bình dân cũng có đầy rẫy những hàng quán như thế. Chơi sang có loại hàng “cẳng dài”, chơi “bình dân” có loại tầm tầm, vừa túi tiền. Tùy theo cô nào sắc vóc trời sinh ra sao, sa vào với nhà hàng thích hợp. Nhưng có một điều chắc chắn rằng những cô gái ấy lại nuôi cái quan niệm ơ hờ rằng “chỉ là một bước dừng chân tạm thời, rồi ra sẽ kiếm một nghề nghiệp khác”. Hỏi mười cô thì có đến chín cô tâm sự rằng “chỉ kiếm chút vốn rồi về quê với mẹ”. Nhưng cái ngày về không có, chỉ có ngày đi, mỗi lúc một xa hơn.
Thế cho nên, bạn không cần hỏi tại sao bây giờ công an VN lại bắt được nhiều nhà hàng mát xa, cà phê, cắt tóc trá hình đến như thế. Tuần nào cũng có vài chục cô gái bị bắt quả tang bán của trời cho bằng đủ các ngón nghề. Và hầu như toàn bộ những cô gái đó đều là gái quê. Cách đây vài năm các cô gái này hầu hết từ Đồng bằng sông Cửu Long, đến nay thì từ Quảng Bình, Quảng Trị, Nam Định, Thái Bình đều có mặt.
Và, chẳng có gì xa lạ khi có tới 126 cô gái VN bị rao bán như hàng hóa ở Malaysia. Những nỗi đau đó của những cô gái Việt từ đâu mà ra? Phải chăng từ đời sống ngày một khó khăn, từ những đợt hàng hóa tăng giá, người nhà quê không đủ sống, các cô gái mới phải “vươn ra thành thị”? Không thể kết tội vì các cô gái đó ham có một cuộc đổi đời nhanh chóng. Cuộc sống đưa đẩy và tất nhiên còn vì những quyến rũ của một xã hội xa hoa quá đáng trước một dân tộc còn quá nghèo nàn.
Sự tính toán nhầm lẫn
Nếu cứ tính mỗi năm người nông dân thu nhập 12 triệu VND, bằng gần 800 USD, rồi cho đó là mức thu nhập "chấp nhận được" thì quá nhầm lẫn! Với số tiền ấy, nếu người công nhân sống ở nông thôn, có vườn có ruộng, thì mức thu nhập là tạm ổn. Nhưng khi đã "bật gốc" ra sống và làm việc ở thành thị, lại là niềm hy vọng kiếm tiền cho cả gia đình ở nông thôn, thì coi như cả hai mục tiêu nuôi mình và nuôi gia đình ở quê họ đều không đạt được.
Trong khi ở nhiều miền quê, nhất là ở nông thôn miền Bắc, mức thu nhập của người nông dân thấp đến khó tưởng tượng. Nhiều người chỉ kiếm được vài ba ngàn một ngày. Ở miền Nam có cao hơn chút đỉnh nhưng đời sống, giá cả lại ở mức cao hơn, nên cũng như nhau mà thôi. Trong khi họ còn phải chịu bao nhiêu khoản đóng góp có lý và vô lý quanh năm suốt tháng (như tôi đã tường trình trong kỳ trước). Giá cả tăng có thể phản ánh độ nóng của tăng trưởng kinh tế. Nhưng một khi, sự tăng trưởng ấy chưa đi kèm với mức tăng thu nhập trong một thành phần rất lớn người lao động, tập trung ở thành phần công nhân công nghiệp và nông dân, đặc biệt nông dân ở những vùng khó khăn, một khi hố phân cách giàu nghèo tăng tốc từng ngày, thì vấn đề đời sống người lao động nghèo trở thành vấn đề lớn trong xã hội. Không thể chỉ ngồi nhìn bức tranh thành thị hào nhoáng để đánh giá toàn xã hội mà 90% là thành phần nông dân và công nhân (kể cả những người đang làm việc ở thành phố trong đủ mọi ngành nghề và những thứ không hề có ngành nghề như bán quán, bán thân, bán máu…)
Dịch bệnh lan nhanh đến Sài Gòn
Trong khi đó ở những vùng quê dịch bệnh hoành hành dữ dội. Những nhà máy cứ “vô tư thông thoáng” thải chất độc ra ruộng vườn của người dân làm chết hàng loạt ao cá, làm hại không biết bao nhiêu hoa màu, hành hạ đời sống người dân từng ngày. Những tiếng kêu cứu của những “làng ung thư” từ mấy nam qua vẫn chưa mang lại kết quả gì. Ai ung thư cứ “tự do” ung thư, nhà máy cứ tiếp tục sản xuất kiếm tiền. Gần đây nhất, hàng trăm gia đình dân ở Khuê Mỹ, Bắc Mỹ An thuộc quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng đang phải sống trong cảnh hít thở mùi và bụi khói cao su suốt mấy năm qua. Mùi cao su đã khó thở nhưng không độc hại bằng muội này. Vì thế nên mọi thứ bệnh tật kỳ lạ nhất đều có thể xảy ra.
Hết cúm gà đến heo tai xanh. Việc kiểm soát ngay ở những vùng có dịch lại thờ ơ như trò đùa. Mấy cái trạm kiểm soát đặt ra cho có, dịch bệnh lây lan từ nơi này sang nơi khác một cách dễ dàng.
Cụ thể như một buổi trưa trong trạm kiểm dịch Hòa Phước (Đà Nẵng) , 2 “quan chức” đang an giấc. Ngoài đường, xe tải bịt kín ngang nhiên chạy qua. Có heo trong đó hay không, cán bộ "không biết" bởi việc chặn xe thuộc thẩm quyền Cảnh sát Giao thông (CSGT). Mà CSGT phối hợp chặn heo dịch cùng trạm thì... về nhà có việc!
Đáng nói nữa là trong 7 xã, phường đã công bố dịch heo “tai xanh” ở Đà Nẵng, có đến 4 cái tên nằm trên tuyến Quốc lộ 14B là Hòa Khương, Hòa Nhơn, Hòa Phong và Hòa Thọ Tây. Vậy mà đi qua các địa phương này vẫn chưa hề thấy có bảng thông báo vùng dịch, bảng cấm vận chuyển heo ra vào vùng dịch…
Cho nên không có gì lạ khi dịch bệnh từ Quảng Bình nhanh chóng lan ra đến Đà Nẵng rồi Thừa Thiên Huế. Nay lại đang có nguy cơ lan tới TP. Sài Gòn. Trong vài ngày vừa qua, người dân đã thấy nhiều bao tải chứa phèo, phổi, chân, đầu heo...vứt vương vãi xuống các nhánh kênh nhỏ tổ 68, P.Bình Hưng Hòa B, Q.Bình Tân (TP Sài Gòn). Người dân nghi ngờ đây là heo chết do dịch tai xanh.
Chiều 27-7, dọc theo các nhánh kênh nhỏ ứ nước của kênh Tham Lương, tại hẻm 115 đường số 1, tổ 68, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, mọi người đều thấy mùi hôi thối xông lên nồng nặc xuất phát từ những bao tải lớn vứt dưới kênh. Cuối con hẻm, tại ao rau muống, có 4 bao tải khác nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Hơn hai năm tiền trợ cấp bão lụt còn nằm một chỗ
Từ đầu năm đến nay, trong 42 bệnh nhân mắc bệnh do liên cầu khuẩn heo Streptococcus suis tuýp 2, có 2 người đã tử vong ở thể bệnh viêm màng não và nhiễm trùng huyết. Cứ cái đà này dịch bệnh sẽ còn lây lan và sự nguy hiểm không kém gì cúm gà. Điều quan trọng hơn là khi người dân trắng tay, dù muốn hay không, con cái phải lo kiếm việc ở thành phố. Không phải người nông dân nào cũng muốn con cái mình rời xa gia đình đi tìm một tương lai mờ ảo mà đến nay họ đã biết quá nhiều chuyện đau thương chờ đợi tương lai con cái mình ở phía trước. Nhưng “lực bất tòng tâm”, họ đành phải “nhắm mắt đưa chân” cho con cái đi tìm một “con đường sống” dù biết “con đường chết” vẫn sẵn sàng chờ đợi!
Địa phương đã không thể giúp gì cho người nông dân được, đến ngay việc trợ giúp cho những gia đình bị thiên tai bão lụt là một công việc khẩn cấp, vậy mà cả hai năm trôi qua món tiền đó vẫn chưa đến tay gia đình các nạn nhân. Hãy lấy một sự việc cụ thể như ở Quảng Ngãi, ngày 27-7 vừa qua, phó chủ tịch UBND tỉnh Trương Ngọc Nhi mới “chỉ đạo” cho các ngành, địa phương phải giải quyết dứt điểm nguồn tiền, hàng khắc phục hậu quả thiên tai năm 2006 trước ngày 30-9-2007.
Sở dĩ có tình trạng này là do việc giải quyết nguồn tiền, hàng khắc phục hậu quả thiên tai quá ì ạch, thậm chí các gia đình có người bị chết, mất tích, bị thương nặng do thiên tai trong khoảng thời gian từ ngày 1-1-2005 đến nay vẫn chưa được đồng nào. Hiện nguồn kinh phí còn tồn đọng chưa phân bổ là 15 tỉ 788 triệu đồng. Người dân còn biết trông cậy vào đâu?
Cái vòng tròn luẩn quẩn đó đã đẩy biết bao cô gái vào những cảnh đời nhục nhã khổ ải. Đừng trách họ. Hãy nhìn vào thực tế hơn. Mọi thứ cứ tiếp tục leo thang, tất nhiên sẽ còn đói và còn nhiều những vụ bắt bớ các cô gái quê ở những nhà hàng trá hình. Tệ nạn xã hội sẽ không bao giờ bớt nếu đời sống cứ diễn tiến như hiện nay.
Đến chuyện giảm giá… đểu
Trong dịp về Sài Gòn tuần vừa qua, tôi có một ông bạn có ý định mua một cái máy quay phim từ lâu, nhưng xót tiền nên chưa dám mua. Nay thấy trên tờ báo TT có cái quảng cáo của cửa hàng điện máy Chợ Lớn rất to, chiếm hẳn một trang báo. Mọi thứ hàng đều được quảng cáo “bán dưới giá vốn”. Đúng là “một sự kiện chưa bao giờ có” theo như quảng cáo. Trong đó máy quay phim của hãng Pansonic được quảng cáo giá đúng là gần 8 triệu, nhưng hạ giá 50%, chỉ còn có 3.990.000 đồng. Thời gian từ 21-7 đến 26-7. Nay lại tăng thêm 4 ngày từ 27-7 đến 31-7. Ông bạn tôi ham quá bèn rủ tôi đi cùng. Ông lý luận một cách “lô gích” rằng nó không giảm giá, nay mai hàng WTO nhảy vào chỉ có nước ế nhăn răng. Hàng của người ta đã tốt lại rẻ, ai thèm mua model cũ. Có lẽ lúc này nhiều người tiêu dùng có “của ăn của để” ở VN cũng nghĩ như thế. Thu xếp thì giờ mãi rồi đến gần trưa ngày 22 -7 tôi mới được ông đèo trên chiếc xe gắn máy cũ vào Chợ Lớn.
Cái cửa hàng điện máy to đùng, dễ nể. Những thùng hàng chất đống như núi ngay bên cửa tiệm. Người mua ra vào tấp nập như đi xem xiếc. Chúng tôi lần vào đúng cửa hàng bán máy quay phim của hãng Panasonic. Một cái máy quay phim xinh đẹp nằm trong tủ kính và hàng chữ giảm giá khuyến mãi 50% còn mới toanh. Ông bạn tôi vốn cẩn thận nên xăm xoi, hỏi tới hỏi lui cậu bán hàng đủ thứ chức năng của máy. Cậu cũng vui vẻ hướng dẫn. Nhưng khi ông bạn tôi bằng lòng mua thì cậu bán hàng nhã nhặn thưa rằng: “Hôm nay chúng cháu hết hàng rồi. Nếu hai bác muốn mua thì sáng sớm mai đến xếp hàng chờ mua”. Tôi hiểu rằng cửa hàng này bắt chước kiểu bán hàng ở nước ngoài. Tôi kể với ông ban tôi rằng tôi có ông chú ở San Jose đã nhiều lần chịu khó đi xếp hàng mua đồ giảm giá. Ông bạn tôi hỏi: “Vậy ngày bán bao nhiêu cái?” Người bán hàng trả lời “Ngày chỉ bán có 4 cái”. Ông bạn tôi cầm tờ quảng cáo xem đi xem lại, không thấy có chỗ nào nói rõ là ngày bán 4 cái. Người bán hàng lại nhã nhặn giới thiệu chúng tôi sang quầy hàng bên cạnh mua những cái máy quay phim khác.
Đứng tần ngần một lát, lại có thêm gần chục người khác cũng vào xem máy và cũng y hệt như chúng tôi, họ được đề nghị sáng sớm mai đến xếp hàng chờ mua máy và giới thiệu sang quầy bên cạnh mua máy khác, cũng giảm giá, nhưng chỉ giảm 5 - 10% thôi.
Ông bạn tôi cay cú lắm, quay ra “đồng lõa” với mấy vị khách đến mua hụt. Một ông khách nóng tính lẩm bẩm chửi thề . Tôi vội kéo ông bạn tôi ra chỗ khác cho hạ hỏa. Ông bạn tôi vẫn còn hậm hực:
– Thì ra nó giảm giá đểu ông ạ. Cái thời đại đồ đểu này, cái gì cũng đểu.
– Không phải đâu ông ạ, người ta dần dần bắt chước kiểu Mỹ hết.
– Nhưng nó không nói rõ là ngày chỉ bán có 4 cái. Nó cứ làm như từ nay đến 26-7 ngày nào đến mua cũng có. Nó “dụ” mình đến cửa hàng nó để mời mua cái khác. Tôi với ông và còn hàng trăm người khác nữa, mất bao nhiêu thì giờ để được lên xem cửa hàng và mời mua máy khác. Đểu thật! Ngày mai tôi sẽ đến thật sớm xem có mua được không. Thức sớm thì không anh nào hơn tôi. Già rồi, ngủ đến 4 giờ sáng là thức trắng mắt ra.
Ngày hôm sau, mới hơn 8 giờ sáng, ông bạn tôi đã đến nhà tôi và một lần nữa lại về tay không vì… hết hàng! Và ông lại càu nhàu:
- “Nó đểu thật. Học người nước ngoài cái gì hay không học, lại học trò gian dối này, làm ông mất bao nhiêu công sức”. Rồi ông lắc đầu quầy quậy phán rằng: “Cái thời đại đồ đểu này, đếch tin được cái gì cả. Tin vào quảng cáo có phen nát xương. Uống thuốc bổ có khi chết sớm hơn không uống”.
Tôi chỉ còn biết nhìn ông bạn tôi ngồi uống cà phê với vẻ mặt khó đăm đăm