Vụ án Mai văn Dậu

Văn Quang

Vụ án ngài Thứ Trưởng Bộ Thương mại Mai Văn Dâu đã khuấy động dư luận từ hơn hai năm nay. Đến tuần vừa qua, càng làm người dân chú ý hơn vì gần như toàn bộ gia đình ông Mai Văn Dâu ra tòa cùng với những tay chân trụ cột và một số những doanh nghiệp bị tố cáo đưa hối lộ.

Kết quả sau cùng, ông cựu thứ trưởng Dâu lãnh 14 năm tù, cậu ấm Mai Thanh Hải - con trai ông- lãnh 5 năm và toàn bộ tay chân thân tín “mỗi người một vẻ” đều lãnh án tùy theo “thành tích” ăn chia. Ngoài ra tòa hứa hẹn sẽ còn “làm rõ” những chuyện linh tinh của bà vợ ngài thứ trưởng có “chấm mút” gì đến các mối làm ăn của ông chồng làm quan to này không. Các doanh nghiệp xuất hàng dệt may cũng sẽ bị sờ gáy, khiến sau phiên tòa còn khối người lo sốt vó.

Không phải là tất cả những tình tiết trong vụ án này đã được làm sáng tỏ, nhưng nó cũng đã mở cánh cửa, hé lộ cho người dân biết mánh lới những quan chức lớn nhận hối lộ như thế nào.

Kính chuyển hay mệnh lệnh?


Nhận định trước tiên, phải nói thẳng là tất cả những vụ nhận hối lộ càng lớn càng được che chắn rất kỹ, để mọi hành vi được coi như đúng pháp luật. Từ ngài Thứ Trưởng đến anh trưởng phòng, trưởng ban, đều biết cách buông tấm màn nhung đúng kịch bản. Ngài Thứ Trưởng trước khi muốn nhận một cái gì đó để ban ơn mưa móc cho một doanh nghiệp đầu có “bút phê” rất hợp tình hợp lý: “Kính chuyển sở Xuất nhập khẩu (hoặc một sở nào đó) xem xét”. Tức là Ngài không quyết định gì cả, nếu có cho hay không cho đều do anh cấp dưới làm hết. “Tôi chỉ kính chuyển mà thôi”. Dù là những hồ sơ như thế thường mang đến trực tiếp cho quan trên làm việc tại nhà, ai biết đâu chỗ ma ăn cỗ!

Anh cấp dưới thấy “bút phê”, cứ coi như một cái lệnh ngầm là “phải chấp thuận” chứ không phải là việc “xem xét” gì nữa cho mất thì giờ. Thằng nào dở trò “xem xét” thì coi chừng cái mạng cùi. “Sếp” viết là viết cho ra vẻ đúng nguyên tắc thế thôi.

Lệnh trên đã ban xuống, cấp dưới cứ thi hành và dĩ nhiên cấp nào cũng có phần, chỉ có như thế mọi công việc mới được “thụ lý” nhanh chóng. Cấp trên và cấp dưới đã có những thỏa thuận ngầm như thế rồi, cứ thế mà làm. Cho nên những anh dù mới tập tọng bước chân vào nghề làm quan lớn, quan nhỏ đều phải “quán triệt” sâu sắc bài học này. Thứ bài học không sách vở đó, ai cũng thuộc lòng hơn là những bài học cũ mèm được rao giảng ầm ầm trong các lớp được gọi là “học tập chính trị”.

Dường như bây giờ những bài “học tập” kia đã trở thành “khuôn sáo”, học chơi cho vui, cho đúng chính sách thôi, chứ chẳng ai còn nhớ, và quan trọng hơn, chẳng ai còn tin vào điều gì nữa. Niềm tin của họ được xác định bởi những gì diễn ra thực tế trước mắt. Cái bệnh hình thức ăn sâu trong huyết quản, đến nỗi nó trở thành một “sự dĩ nhiên”. Nói một cách thông thường và người dân thường nói với nhau là: “nói thế mà không phải thế”. Anh nói cứ nói, anh không tin cứ không tin. Đây là chuyện thông thường, có thể gặp bất kỳ nơi đâu, bất kỳ trường hợp nào. Bạn xuống ngay phi trường đã thấy điều đó rồi. Cần kiệm liêm chính cũng phải có ít nhất một tờ 5 đô nhét vào hộ chiếu thì mọi việc diễn ra êm đềm. Ra gọi taxi cũng thế thôi. Máy tính cước chạy như máy chém. Gặp một em cẳng dài cũng chẳng có gì khác. Tưởng là “thơm” mà không thơm. Tưởng là sang mà không sang. Tưởng là “tình cảm” mà chỉ có “tình trao đổi thực dụng”, không có “cảm”. Cái gì cũng có “mặt sau” của nó. Người ta hứa một ngày, bạn cứ phải phòng xa chừng một tuần. Xe chất lượng cao, có khi lèn hơn cá hộp. Học sinh tiên tiến là do “chỉ tiêu đề ra”, hầu hết đều là học sinh chậm tiến. Mọi sự việc diễn ra “bình thường” như cơm ăn hàng ngày. Thế mới đáng sợ!

Định nghĩa mới của hai từ “làm luật”


Xét như thế, bạn tin vào cái gì? Những thanh niên có học vấn cao, được đào tạo từ nước ngoài về, phục vụ trong các cơ quan nhìn thấy gì ở những bậc đàn anh, cha chú? Họ phải tin vào những điều trước mắt thôi. Làm hỏng một thế hệ đi sau, chính là những đàn anh, những cha chú này.

Lợi dụng pháp luật để ăn gian nói dối, vinh thân phì gia là cái vỏ bọc chính trong quan trường. Nó kéo theo cả những người dân muốn làm ăn lương thiện cũng không được. Một thương gia muốn được việc, bắt buộc phải hối lộ. Từ đầu phiên tòa đến cuối phiên tòa xử vụ Mai Văn Dâu, tất cả những doanh nghiệp đều khai: “muốn có quota xuất hàng dệt may đều phải đưa tiền cho các quan chức Bộ Thương Mại”. Dù muốn hay không, Bộ này biến những người dân lương thiện thành kẻ không lương thiện. Nếu không thì chỉ còn cách vỡ nợ. Một “kim chỉ nam” rất “bình thường” trong giới “làm ăn” xin cấp quota là “nếu không quen biết thì hồ sơ vất vào sọt rác”.

Xét cho cùng, “kim chỉ nam” đó không chỉ xuất hiện ở Bộ Thương Mại, mà nó xuất hiện tràn lan trong “mọi ngành mọi giới”. Ở những nước khác, người ta cũng thường thấy những việc tương tự như vậy. Nhưng không giống như ở Việt Nam, vì ở các nước thỉnh thoảng mới xảy ra, còn ở VN nó xảy ra thường xuyên và liên tu bất tận, từ thành đến tỉnh, từ trung ương đến địa phương. Nó không còn là chuyện lạ mà là chuyện “rất quen”, rất đỗi “bình thường”. Người nhận và người đưa hối lộ cứ như “làm đúng luật” vậy. Chỉ có những người không làm như thế mới là lạ. Thế nên ở Việt Nam, các bạn thường gặp từ ngữ “làm luật” thay cho từ chỉ việc ăn hối lộ. Ăn hối lộ tức là “làm luật”. Nói một cách khác, người ta thi hành luật pháp bằng cách đó.

Cho nên, công chức già hay trẻ, muốn hay không muốn cũng đều biết cách “làm luật” cả. Nguy hại hơn, người ta cho đó là “tính cách” của những người có quyền hành hay đó là “quyền lợi” của tất cả những người phục vụ trong bộ máy nhà nước.

Thay đổi được một tính cách chẳng dễ dàng chút nào. Nhưng… cũng may là người dân sống ở đây đã quá quen rồi nên không còn thấy “bức xúc” nữa. Nếu có ai nói đến chuyện này, người dân tặc lưỡi: “chuyện bình thường mà”. Cái may hay cái họa tiềm ẩn phía sau?

Đòn “giang hồ kiểu công sở”


Muốn “đối phương” xì tiền ra thì tất nhiên phải có một cái gì đó làm đối phương lo sợ. Bọn bắt cóc cũng dựa trên yếu tố này. Các tay có quyền “cho hay không cho” cũng chỉ dựa vào yếu tố này mà thôi. Hãy nghe một vài doanh nghiệp trần tình trước tòa trong vụ án này:

Quá lo lắng vì hàng đã xuất đi nhưng không có quota, công ty Hải Minh đứng trước nguy cơ bị mất tiền lưu kho, bãi, tiền vận chuyển và bị đối tác phạt nên bị cáo Lưu Thị Minh Hiền đã bỏ ra 50.000 USD đưa cho Trần Kim Dung để lo lót cho Lê Văn Thắng (nguyên Vụ phó Vụ Xuất nhập khẩu). Hồ sơ của Công ty này đã bị “ngâm tôm” lâu quá rồi, không có hơi đô la, nó không chịu nhúc nhích. Đây là “đòn giang hồ công sở”, chuyên dùng để “bắt địa thượng đế”.

Còn bị cáo Trần Thu Lan khai, để được cấp hạn ngạch, Lan phải “ngược xuôi” Hà Nội - Sài Gòn hàng chục lần (tính đúng ra là 17 lần) để... đưa tiền cho Lê Văn Thắng, tổng cộng 15.000 USD. Thế nhưng tại tòa, Lê Văn Thắng chỉ thừa nhận mình lấy của Lan khoảng từ 9.000 USD-10.000 USD và số tiền này do Thắng bị động và bị ép phải nhận.

Chuyện trớ trêu hơn, không chỉ bị mang tiếng là khai man, Trần Thu Lan còn bị Thắng tố cáo: “Tôi rất bực mình việc Lan đến nhà và phòng làm việc của tôi để đưa quà. Lan cứ đột nhập vào phòng tôi để quà lại rồi chạy, sau đó cả tháng mới quay lại nên tôi rất bị động và bị ép buộc”. Mặc dù bị tố cáo như vậy nhưng Trần Thu Lan ra tòa chỉ biết mếu máo trình bày: “Bị cáo đưa tiền thì mới được cấp hạn ngạch”.