TẾT NĂM CANH DẦN
Nguyễn Quang
Phần I
Trước hết chúng tôi lần lượt đề cập tới ý nghĩa của những chữ Tết, Năm và Canh Dần.
I.- Trước hết là chữ Tết.
Mỗi năm chúng ta có một Lễ Tết Nguyên đán, tức là Lễ lớn nhất toàn dân ta hân hoan chào đón Chúa Xuân. Chữ Tết là tiếng trẽ của chữ Tiết, theo Âm Dương lịch thì mỗi tiết có 15 ngày, tức là khoảng thời gian khí hậu có những đổi thay rõ rệt. Ví dụ sau tiết Lập Xuân thì mọi cây cối mới bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Chúng ta không thể thấy Thời gian, nhưng qua sự biến đổi của vạn vật trong vũ trụ dưới ảnh hưởng của thời tiết mà ta nhận ra chu trình đổi mới một năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Xuân là mùa bắt đầu đổi mới, loài thảo mộc theo thời tiết mà mặc cho mình một bộ áo mới đầy hoạt lực. Hạ là thời kỳ tăng trưởng, cây cối sinh hoa trổ quả, Thu là thời kỳ suy thoái và Đông là lúc điêu tàn, ta gọi bốn thời kỳ đó là chu trình:Sinh, Thành, Suy Hủy.
Sau cái điêu tàn nhờ thời tiết mà vạn vật lại hồi sinh, điều kỳ diệu là mùa Đông càng điêu tàn bao nhiêu thì sự hồi sinh mùa Xuân lại càng mạnh liệt bấy nhiêu.
Ta có sống theo tiếp nhịp hồi sinh của vũ trụ thì cho cuộc sống được đổi mới đầy sinh lực. Đây là dịp con Người tham thông cùng Thiên Địa, nên nhân dân ta đã dành cả vài tháng để vui chơi mà sống hoà đồng với nhau và cảm thông với lẽ biến dịch của vũ trụ.
Trong dịp này các chim chóc cũng họp đàn rộn ràng vui đùa trên khắp nẻo bến Xuân.
Vì muốn sống nhịp với tời tiết, nên cha ông chúng ta đã phải nghiên cứu Lịch để hiểu rõ cơ cấu thời gian mà sống cho sung mãn.
“ Viễn Đông là quê hương của nền Văn hoá Nông nghiệp là văn hoá chú trọng tới Lịch như nhịp sống. Vì thế mà nền triết lý của nó lấy Thái Hòa làm chỗ đạt Đạo Đức tức là Người sống hợp với Trời Đất. Cho nên việc sống với Thời gian trở nên tối quan trọng “. .
Lịch pháp chú trọng đến những điểm sau:
Trước hết là quảng thời gian một năm, hai là khởi điểm của năm. Cả hai yếu tố đó đi liền với thiên thể được dùng làm lợi khí đo lường và báo hiệu khởi điểm của một năm. Nếu dùng Nhật thì gọi là Dương lịch, dùng Nguyệt thì Âm lịch. Nếu được kết hợp cả hai thì gọi là Âm Dương lịch.
II.- Chữ Năm. Có nhiều lối tính quảng một năm:
Điểm đầu tiên là quảng thời gian một năm cùng ngày đầu Xuân Lập Xuân, nó liên hệ với nhau cũng như thiên thể dùng làm căn cứ. Thiên thể là mặt Trăng, mặt Trời và Tinh tú ( còn gọi là Thần ).
1.- Nếu dùng mặt Trăng để đo tháng có thể gọi là tiện vì theo tuần trăng rất rõ ràng và thường là 28 ngày, nhưng dùng trăng để đo năm lại rất dở vì chỉ sau 3, 4 năm là thiếu đi một tháng, nên không còn hợp thời tiết.Có hàng trăm thứ lịch được nghĩ ra là cốt để giải quyết sao cho Năm và Tháng hợp nhau và hợp với thời tiết. Do đó mới nghĩ ra tháng nhuận.
2.- Tiến lên bậc nữa là dùng mặt Trời để đo quảng năm thì ta có thể gọi là Duy Dương. Lịch Duy Dương có bất lợi là hy sinh mặt Trăng, tháng đi đằng tháng, trăng đi đàng trăng, ngày rằm ngơ ngác nhìn cùng khắp mà không thấy khuôn mặt tròn xoe của chị Hằng đâu cả. Như vậy việc định quảng năm trúng hơn vào lối 360 ngày, tức thiếu đi 5 ngày.
3.- Lịch Đông phương. Nếu lịch Tây gọi là Duy Dương vì y cứ vào mặt Trời, thì lịch Viễn Đông gọi là Âm Dương tức là căn cứ trên cả mặt Trăng và mặt Trời, gọi là Âm – Dương lịch hay gọi theo thiên thể là Nhật - Nguyệt – Tinh ( tú ) : Solaire – lunaire – Stellaire, có khả năng quy định thời gian một năm là 364. 1/ 4 và dùng tháng nhuận để điều chỉnh chỗ sai chạy. Quách Thủ Kính đời Tống so sánh trước sau và xác định quảng năm là 365 ngày, 5 giờ 49’ 12’’. Theo thiên văn hiện tại là 365 giờ 48’ 6 / 10’. “
( Chữ Thời . Kim Định )
III.- Chữ Canh Dần.
Cứ được sinh bất cứ ở thời điểm nào trong một năm, mọi người đều được tính một tuổi. Mỗi tuổi được kết hợp bởi hai bánh xe Thời gian ( thập Thiên can ) Không gian ( thập nhị địa chi ). Canh thuộc Thiên can ( Thời gian ), Dần thuộc Địa chi ( Không gian ). Con Người mang tuổi Canh Dần được mang theo hai bánh xe Thiên Đia “ Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức “để mà biết sống luân chuyển theo thời tiết . Vì mang yếu tố Thời gian nên con Người mang tính chất biến dịch và vô biên, biến đổi không ngừng trong Hiện tại miên trường, ngược lại cũng mang yếu tố không gian, nên lại bị hạn cục, khó đổi thay, con người bị dằng co giữa hai yếu tố ngược chiều vô biên và hữu hạn, nên phải sống đúng với tiết nhịp của vũ trụ mới được cân bằng ổn định.
Còn người Âu Tây sinh vào năm nay chỉ ghi năm sinh là 2010, nên con người cảm thấy mình không mấy liên hệ khăng khít với thời tiết, với Thiên Địa.
Trên Thế giới cũng không có nước nào mà có tục ăn Tết một cách long trọng và dài lâu bằng Việt Nam, ngày xưa có khi cả 3 tháng, ngày nay ít nữa cũng 3 ngày, có lẽ vì sống với nghề nông, nên chúng ta mới có mối liên hệ mật thiết với thời tiết với Thiên Địa.
Lại nữa làm nghề nông theo hai muà gieo gặt: Đến tháng 5 Âm lịch khi làm xong vụ mùa thứ nhất, nên nghỉ ăn Tết Trùng ngũ ( mồng 5 tháng ), đến tháng 10 sau khi thanh toán vụ mùa thứ hai, lại có rất nhiều thì giờ chuẫn bị ăn Tết để chào đón Chúa Xuân.
Tết Âu Tây chỉ vỏn vẹn có một ngày, còn ngày trọng đại là Giáng sinh cũng chỉ vài ngày.
IV.- Ý nghĩa ngày Tết
Ngày Tết là ngày toàn dân vui mừng, đón chào cái trinh nguyên của một năm mới, mọi người cố vươn mình lên đổi mới để sống hòa cùng tiết nhịp với vũ trụ ( cosmic rhythm: Nhịp điệu của tần số của các làn sóng khác nhau được truyền đi trong vũ trụ, các vật rắn có tần số quá thấp nên ta thấy nó đứng yên ) để tham thông với cảnh Thái hoà muôn vật, mà nền triết lý lấy Thái Hòa làm chỗ đạt Đạo Đức tức là Người sống hợp với Trời Đất.
Đây là dịp để mọi người hân hoan làm mới lại con Người mình, làm hoàn hảo lại mối liên hệ hàng Dọc va hàng Ngang với cả 3 tầng Thiên Địa Nhân: Hàng Dọc với Thiên Địa, hàng ngang với người thân với lân nhân, với đồng bào.
Sau 3 ngày Tết là những ngày của các Lễ Hội kéo dài, có mục đích là nâng cao đời sống Tâm linh và các mối liên hệ thân tình trong gia đình và làng nước.
V.- Lễ
Lễ là cung và kính: Cung là trọng mình và Kính là trọng Người, đây là lối sống lưỡng hành,” phải Người phải Ta “.
Mình trọng mình, thì mình cũng trọng Trời Đất, Tổ tiên, Thần Thánh, nên phải cúng bái, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn, đây là những dịp để tâm hồn vươn lên bắt gặp những tâm hồn cao thượng, những hành động quả cảm, những giá trị cao siêu.
Đồng thời mình cũng trọng Tha nhân, nên phải thăm viếng, quà cáp, chúc mừng, để thắt chặt mối liên hệ đồng bào đặng giúp nhau hiện thực những điều tốt đẹp học được nơi các bậc hiền nhân.
Con Người của ta là con người Lưỡng thê, nên khi tổ chức ăn uống đình đám cho Thể xác, thì phải cúng tế để nâng cao đời sống Tâm linh.
Vì vậy mà ta có thể nói Lễ Tết để diễn tả nhiều mặt để thoả mãn nhu cầu mọi mặt của con Người..
VI.- Lễ Gia tiên và tế Thần làng
Đây là hai lễ quan trọng của dân làng và cả hai nơi đều nhận thấy nét công thể.
Ở đợt Gia tiên thì tư tế là hai bố mẹ, đàn bà vẫn là chủ phụ. Thiếu chủ phụ lễ không thành, nên nhiều trường hợp người chồng đã già nếu chư quá 70 tuổi cũng phải cưới vợ mới, không phải chỉ để có con nữa nhưng là để có chủ phụ đặng đồng tế.
Đến đợt tế Thần làng thì các bà nhường hẳn cho các ông theo luật “ nam ngoại nữ nội “ , nên ở đây nét công thể biểu lộ bằng lối khác: cả hội đồng Kỳ mục thay phiên nhau mà tế. Đó là nét công thể đầu tiên.
Nét sau là đồ lễ chia hai, một nửa làm nhắm cho quan viên tại lễ, một nửa chia cho bô lão chức sắc: một cái oản, một miếng trầu, có khi nửa quả chuối, vì đó là đồ thừa huệ của Thánh.
Còn cho toàn dân đã có hội hè đình đám. Tinh thần công thể được biểu lộ hai đợt, một là toàn dân đều tham dự, hai là cả ngũ quan thính, thị, vị, khứu, xúc như xem trò, nghe hát, ăn uống linh đình, rồi những trò chơi như đánh đu, bắt chạch . . . Khi con người ra khỏi cuộc lễ, mọi giác quan đều được thoả mãn cũng như mọi người đều đuợc tham dự, nên sự vui tràn ngập
( Kim Định:Văn Lang vũ bộ: Bọc Âu Cơ Tổ mẫu )
1- Thờ cúng Tổ tiên
Tổ tiên Việt chúng ta không may mắn được Thiên Chúa mạc khải, mà hàng ngày làm lụng ngoài Trời có cơ hội thường xuyên quan chiêm Trời Đất để nhận ra Thiên Chúa siêu ngôi, hay ta có thể nói là bộ máy huyền vi tạo ra vũ trụ muôn loài.
“ Thượng Đế siêu ngôi Theo Nho giáo bắt đầu tứ ý niệm “ Thiên Nhân tương dữ: Trời và Người cùng nhau tương liên. Dấu hiệu hiện hình đầu tiên là Lễ Gia Tiên. “
Lễ Gia Tiên là Lễ thờ Nhân tính , tức bản tính đồng nhiên của con Người, vì con Người là tinh hoa của Trời Đất, trong gia đình thì thờ Tổ tiên, trong làng xã là thờ Thần Thành Hoàng.
Việc thờ cúng ở cấp thấp nhất với niềm tin nhờ việc thờ cúng mà Ông bà sẽ phù hộ cho con cháu mình được mọi sự tốt lành.
Ở trình độ cao hơn với xác tin rằng Ông bà cha mẹ là người sinh ra mình nuôi nấng mình cho nên người, vậy bổn phận con cháu là phải tỏ lòng Tôn kính và biết Ơn các ngài, đây là thuôc lãnh vực luân lý.
Lên mức cao hơn nữa thì lễ Gia tiên là thờ Văn Tổ, được coi như là lãnh vực triết lý và Tôn giáo.
“ Muốn hiểu Lễ Gia Tiên thì phải hiểu triết lý Ngũ hành trong bài vị Văn Tổ. Văn Tổ được sắp theo cơ cấu Ngũ hành. Áp dụng vào việc thờ Tổ tiên, là phải từ tiên Tổ mình đi đến “ bản tính đồng nhiên “ của con người gọi là Văn tổ. Trong việc thờ cúng Tổ tiên cũng thế, không được chỉ biết có Cha, Ông, Tằng, Tổ mình nhưng phải vươn tới Tổ trên các Tổ, cực tinh ròng gọi là Văn Tổ ( l’Ancêtre parfait ), Tổ chung của mọi loài.
Văn Tổ ( 4 đời ) được xếp theo cơ cấu Ngũ hành: Văn Tổ ở Trung cung, còn Cao, Tằng ,Tổ, Nỉ ở vị trí 4 hành xung quanh, 4 đời Con, Cháu, Chắt, Chit cũng vậy.
Cao là ông của ông, Tằng là bố của ông, Tổ là Ông, Nỉ là Cha ( khi đã qua đời, đã được rước vào miếu ). Cũng vậy 4 đời Con, Cháu, Chắt, Chít cũng được xếp theo Văn Tổ.
Văn Tổ nằm ở vị trí trung cung hành Thổ, là Tổ các Tổ:
Tổ
↑
Tằng ← Văn Tổ → Cao
↓
Nỉ
Cháu
↑
Chắt ← Văn Tổ → Chít
↓
Con
( 9 đời được xếp theo Ngũ hành để truy lên đến Thiên chúa )
Văn Tổ gồm mọi Tổ, kể cả Tổ Trời, Tổ Đất, tức là từ chỗ tư riêng đến chỗ phổ biến cùng cực. Cũng trong tiến trình đó được biểu lộ trong Lễ Tế Thiên.
Chữ Thiên đến sau chữ Thượng Đế, theo quan niệm tôn giáo thì Thượng Đế là Chúa có ngôi ( Dieu personel ), còn Thiên là Chúa siêu ngôi ( Dieu suprapersonel ). Có sự chuyển hóa từ Thượng Đế nhân hình đến Thượng Đế phi nhân hình. ( * Các triết gia huyền niệm bên Ấn Độ chủ trương Thượng Đế vô ngôi vị là Raja yoga : mind – body coordination , tức là đường Minh triết, ngược lại ngôi vị là chủ trương của quần chúng, ưa đi theo lối Bakti yoga : love and devotion , tức là lối sùng mộ ).
Như vậy là giống với Lễ Gia Tiên tức là từ tư riêng đến chung, từ cụ thể đến siêu hình. Nếu người tự các Tổ có thể đi đến ngôi vị, thì Thượng Đế cũng từ Chúa có ngôi vị đi lên Thiên siêu ngôi.
Điều đó nói lên chân lý “ Thiên Nhân tương dữ “ hay là Người cùng đứng trong Tam tài như Trời.
Cần ghi lại rằng tiến trình đó rất cao, con Người khởi đầu thờ sự vật vô tri qua thờ con vật, đến thần nhân hình, rồi cuối cùng mới tới được đợt siêu hình thành Thiên lý, tức là còn cao hơn vô tượng, vì đã vượt không những Nhân tượng mà cả Thanh, Xú nữa.
Đây là hai cột sống của Nho nguyên thủy “ hay Nguyên Nho.
Nho nguyên thủy cũng chỉ là triết lý nhân sinh:
“ Đã là triết lý nhân sinh thì chỉ nên xét tới những tác động liên can đến mình.
Tuân Tử ví với quan niệm về hòn đá cạnh đường, người đi ban đêm tưởng là hổ thì rụng rời chân tay tê liệt cả thân mình, mất khả năng chịu đựng, nhưng nếu xem đó chỉ là tảng đá thì khả năng đi đứng vui hưởng còn giữ y nguyên. Về Trời cũng vậy, Trời vô hình nên mỗi nơi mỗi đời có những quan niệm về Trời khác nhau, mỗi nền triết lý đạo lý đưa ra một quan niệm thuận với chủ trương của mình. Theo đó triết lý Nhân chủ tác động không thể chọn quan niệm về Trời quá toàn quyền đến độ coi con người là sự vật hoàn toàn bất lực chỉ còn phải vâng theo cách tối mặt.
Với Việt Nho quan niệm người như thế là xúc phạm đến Trời. Trời là đấng thông minh vô cùng, quyền phép vô biên mà đến lúc dựng nên con người yếu xèo hoàn toàn thụ động không dám có một sáng kiến nào thì không hổ mặt Thượng Đế sao.
Ca dao ta nói: “ con hơn cha là nhà có phúc “. Con Người cũng là con Trời, không dám nói đến hơn nhưng cũng phải giống Thượng Đế phần nào, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Nếu Thượng Đế là đấng toàn năng thì con người cũng phải là giống đầy năng lực, đầy khả năng tác hành tự chủ.
Vậy cho nên quan niệm quá hạ thấp con người chính là quan niệm xỉ nhục Trời, nó sẽ dẫn đến thuyết Định Mệnh, bóc lột con người hết thảy, không còn chút tự do nào.
Vậy hỏi tại sao quan niệm thấy kém đó lại được duy trì xuyên qua Âu Tây cổ đại?
Người ta nhận ra rằng quan niệm này đựơc các nhà chuyên chế ưa thích vì nó rèn luyện tâm trí con người để suy phục quyền bính và nếu nhà cầm quyền lại thành công trong việc tự đồng hóa mình với Trời như thuyết vua thần, thì sự đàn áp chuyên chế đi đến cùng cực, khiến con người bị vong thân mất hết chủ quyền và khả năng tác động.
Đó là lý do thầm kín đã gây nên thuyết vô thần chối bỏ thần minh để cho con người ngóc đầu lên để được tự do, tự làm lấy lịch sử. Do đó con người coi trời bằng vung.
Nhưng đó là quan niệm không tưởng trái với thực tại. Trời che cùng khắp sao dám coi là vung.
Trời là gì cao cả bao la vây bọc quanh mình từng giây từng phút chối đi đâu có được.
Vì vậy mà Âu Tây cứ lúng túng trong hai thái cực nọ: Trời là tất cả, con Người không làm chi được; hoặc con Người là tất cả: không có Trời. “
( Văn Lang vũ bộ:13.- Làm : Kim Định ).
2.- Thờ Thần Làng
Ở Làng xã chúng ta thờ Thần Làng ở Đình, đây là những nhân vật anh hùng nhờ những đức tính Nhân, Trí, Dũng mà các Ngài đã có công gây dựng nên xóm làng non nước.
Nhờ biết bám chặt vào việc thờ cúng cách này để bảo vệ lấy Nhân tính “ Nhân, Trí, Dũng “ mà đã hàng ngàn năm, nhân dân nước ta không bị đồng hoá, hay nô lệ. Vì vậy mà Lễ Gia tiên vừa có tính chất triết lý, mà cũng đượm màu Tôn giáo. Khi đánh mất tinh hoa của việc thờ Nhân tính này thì Hồn Thiêng Sông Núi cũng bị xa bay, nguyên nhân của Quốc nạn và Quốc nhục.
Những việc tế Nam giao, cúng trước bàn Thiên cũng như thờ kính Ông Bà đều là giữ mối liên hệ hàng Dọc với Trời Đất Tổ tiên,cũng như Cha Ông đã quá cố, đây là đời sống Tâm linh để luôn nhắc nhỡ mọi người là có những đấng trên Đầu trên Cổ tuy rất nhân hậu, nhưng vẫn có lưới lộng lộng với luật Giá sắc rất công minh, không thể xin xỏ hay dối trá mà thoát được.
Trong các cuộc cúng tế, để lập mối Tương quan mọi chiều, thì dùng khói cây nhang để xông Trời, đổ rượu xuống để tưới Đất, còn con người thì phải có ăn uống vui chơi.
Ra giêng các địa phương tổ chức Hội hè đình đám để cho mọi người vui chơi. Đây là dịp mọi người tu dưỡng lại nguồn sống mới cho một năm bắt đầu.
VI.- Hội
Là cuộc vui được tổ chức cho dân Làng, liên Làng, hàng Tổng hay cho cả Nước tham dự, với mục đích là tập trung đông người lại vui chơi với nhau, để làm phát triển tinh thần cộng đồng. đồng thời nâng cao đời sống Tâm linh..
Nhưng với con người lưỡng thê của Việt tộc tuy vui, nhưng không bao giờ bỏ quên mặt khác của cuộc sống: đã có ăn, thì phải có chơi và cũng phải có những hoạt động nâng cao đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, để cho con người phát triển toàn diện.
Vì thế đời sống của ta rất quý trọng Lễ hội .
Lễ là bản chất sự sống của Việt tộc, gồm hai lối xuất nhập, xuất thì kính ( trọng người khác ), nhập thì cung ( trọng chính mình ). Chữ Lễ đã thẩm nhập trong mọi lãnh vực của đời sống, đây là hiện thực những nét lưỡng hợp vào đời sống của toàn dân.
Vì thế ta cần biết rõ ý nghĩa của Lễ Tết hay Lễ Hội .
Quanh năm có rất nhiều Lễ Hội ở nhưng nơi khác nhau, các Lễ hội đó mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng nhiều nhất được tổ chức vào dịp vui Xuân. Tựu trung ta có thể tạm xếp loại như sau:
VII.- Các loại Lễ Hội
1.- Lễ hội liên quan đến sinh hoạt kinh tế
2- Lễ cầu mùa
3.- Lễ dâng cúng sản phẩm nông nghiệp
4.- Lễ rước lợn ( heo ), Xôi, Lễ ăn cơm mới . .
5.- Lễ hội trình diễn Tổ sư các ngành nghề
6 .- Lễ hội thi tài và các trò vui chơi
7.- Lễ hội phồn thực :
a .- Rước Nỏ nường
b.-Trò chơi bắt chạch trong chum ( cái Lu đựng nước)
c .- Hội chen
d .- Hội ném còn vòng.
8 .- Lễ hội hát giao duyên:
a .- Hát Trống Quân
b .- Hội hát Quan họ ( Bắc Ninh )
c .- Hát Xoan ( hát Xuân )
d. Đu Xít, đu Tiên
9 .- Lễ hội liên quan đến việc ghi nhớ công lao của các vị danh nhân văn hoá, anh hùng lịch sử:
a .- Lễ trẩy hội đền Hùng
b .- Lễ hội Thánh Dóng
c .- Lễ hội Hai Bà Trưng
d .- Hội Đền Kiếp Bạc. . . .
Đây là một số Lễ hội ở miền Bắc, ngoài ra còn có vô số thứ khác nữa ở Trung và Nam,, không thể kể hết ra được.
VIII.- Ý nghĩa Tết, Lễ, Hội
Lễ Tết nặng về cái ăn, Lễ Hội thiên về những lối chơi.
Phạm vi của Tết là cho cá nhân và gia đình, họ hàng.
Phạm vi của Lễ hội là mở rộng ra cho mọi người trong cả làng, liên Làng, hàng Tổng hay cả Nước.
Lễ Tết cũng nhằm duy trì cái Gốc, cái Tôn ti trật tự. Trong việc thờ cúng Tổ tiên, một mặt người ta hướng về Tổ tiên, truy nguyên về Văn Tổ, ( perfect ancestor ) hay Thượng Đế, mặt khác người ta lại làm đẹp lại mối nhân luân với cha mẹ anh em bạn bè, họ hàng làng xóm. Còn Lễ hội là nhằm thực hiện tính chất bình đẳng hay tinh thần dân chủ giữa những con dân của Làng của Nước.
Tết được tổ chức theo các thời gian trong năm.Còn Lễ hội lại được tổ chức theo những nơi khác nhau, nghĩa là theo không gian .
Qua một năm, con dân Việt ta đã sống theo Tiết nhịp của vũ trụ qua sự giao hội của Không và Thời gian, nhờ đó mà sự sống được viên mãn, hay cách khác là mẹ Tròn con Vuông ( tròn là Thời gian, vuông là Không gian )
Đây là lối sống hợp nội ngoại chi đạo, có vật chất, tinh thần, mà cũng có Tâm linh.
Rõ ràng đâu đâu cũng có nét lưỡng hợp xuyên suốt bên trong, nên nói con Người Việt là con người lưỡng thê là vậy.
Tất cả có nền tảng từ Kinh Dịch. Đó là những cặp đối cực, mà ta gọi là nét Song trùng hay lưỡng hợp, hay Âm Dương cũng thế.
Trong các Lễ Tết, Lễ hội, ta thấy, các yếu tố của Tết, Lễ, Hội đều khăng khít với nhau, không thể tách rời.
Cái nhu cầu ăn cho được no và ngọn; cái nhu cầu cần được yêu thương và kính nể cũng như tính dục cần được thỏa mãn; cái khát vọng về Chân, Thiện, Mỹ để thể diện con người cho được cao trọng, bao giờ cũng được tổ chức rất chu đáo :
Trong Lễ Tết, người ta chuẩn bị hàng tháng để ăn chơi, người ta phải sửa sang dọn dẹp nhà cửa, sắm sang của ăn, may áo quần mới, nhất là chuẩn bị một tâm hồn mới để giao hòa với Trời Đất Tổ tiên, cũng như làm mới lại mối liên hệ với mọi người cho được tốt đẹp.
Trong các Lễ hội xóm làng cũng sửa sang đường sá tu bổ nơi tổ chức buổi lễ cho được đẹp đẽ nhất là các linh địa, mọi người đều cố sắm sanh ăn mặc đẹp đẽ, và cư xử với nhau tốt đẹp hơn ngày thường, nhất là dâng tâm hồn trong trắng của mình lên với Tổ tiên, Thần Thánh với Phật, Thượng Đế, có thế mới bắt gặp được những giá trị cao cả, những hào quang Chân Thiện, Mỹ .
Đặc biệt nhất là mối liên hệ Nam Nữ, người ta liên hệ mật thiết với nhau với tâm hồn trong trắng, cả làng tổ chức cho cuộc trai gái ve nhau, thần thánh bảo trợ cho cuộc chuẩn bị sinh hoá này, họ ve nhau dưới dưới thanh thiên bạch nhật, được mọi người dân làng tôn trọng và mong chờ, được thánh thần che chở.
Không có cách cá nhân như một số thanh niên nam nữ Âu Mỹ ngày nay, người Nam rủ người Nữ đến hotel, rồi làm cử chỉ bất ngờ ( surprise ) bằng cách người Nam quỳ xuống trước mặt người Nữ, dơ cái engagement ring ra, hỏi câu “ Will you marry me ? : " Sau đó mới có thể gọi phone báo tin cho Cha Mẹ!
Tất cả chỉ là tạo ra môi trường để ươm Tình Người, đề làm phát triển con người toàn diện, đó là cách xây dựng Nhân quyền, để chuẩn bị sống theo Dân quyền là luật nước .
Một nước có điều hòa được cả hai yếu tố Nhân quyền và Dân quyền thì con dân trong nước mới được an vui hạnh phúc.
Sống trong nền văn hoá này con người được đáp ứng được 3 nhu yếu thâm sâu của con Người : Đó cái cái ăn để nuôi cơ thể, cái dục tính đề thỏa mãn khát vọng yêu đương và bảo toàn, phát triển nòi giống, cái thể diện bằng cách vươn lên những giá trị Chân, Thiện, Mỹ để nâng cao phẩm giá con Người.
Nho giáo có câu : “ Thực, Sắc, Diện , thiên tính dã “ .
Tiết ( Tết ) cho Thực; Hội cho Sắc; Lễ cho Diện.
Thực, sắc cho vật chất và tinh thần, diện cho Tâm linh .
Đáp ứng được nhu yếu Thực, Sắc, Diện là đáp ứng nhu cầu của bản năng, nền tảng của triết Việt ( Việt Nho ) là bàn năng . Vì thế nên chữ Nho còn có nghĩa là nhu yếu thâm sâu của con Người .
Những nền triết lý nào không đặt nền tảng trên bản năng chê bản năng là thấp hèn xấu xa, thì nền triết lý đó xa con người, chuyên nói chuyện trên Trời dưới Đất.
“ Lễ Hội là phương thức nhiệm màu để gia tăng bầu khí Tâm linh làm cho thống nhất Tâm, Trí, nên từ xa xưa khắp nơi đã biết dùng để làm tăng trưởng óc Liên đới, tinh thần “ Bốn bể một nhà “.
Khi Hội lại như vậy thì không những có sự để chung lại những mối cảm xúc đã được khuếch đại, nhưng còn có thêm chiếu kích linh thiêng màu nhiệm mà sự cộng lại suông không thể cho được.
Người ta cho rằng nhờ Lễ Hội như “cái Nắp An toàn “ giúp con Người xả bớt đi những ẩn ức trong Tâm, Trí, nên được như vậy. Điều đó cũng có nhưng chỉ phần nào và nhất là mới tiêu cực không đù gây nên công hiệu như u linh kia.
Cả đến các Tôn giáo dầu đã rút tỉa từ thể chế này nhiều khả năng làm cho cộng đồng Tôn giáo được đứng vững lâu bền, nhưng chưa bao trùm hết mọi chiều kích của Lễ Hội như có thể cảm thấy phần nào trong các cuộc Hội ở Đình làng nước ta, những cuộc Lễ này đã để lại nơi người dự Hội những cảm xúc thực thâm sâu thấm thía. Nên nhiều khi phải lặn lội thật xa xôi cũng cố đi cho kỳ được. Thiết nghĩ chiều sâu thẳm đó giải nghĩa được do những yếu tố vi tế vượt tai mắt giác quan như sau:
Trước hết là sự tự Tình tự Động, không có chút chi thuộc Cưỡng hành, Lợi hành, mà là An hành tự nguyện.
Thứ đến Lễ Hội có tính cách Toàn thể, không những có Lễ mà còn có Hội, mà đã Hội hè thì phải có Đình đám, đèo theo những cuộc chơi vui nhiều khi mang tính cách “ Tháo khoán “, như đánh Đu, Bắt Chạch. . . , khiến cho khi ra khỏi Lễ Hội con Người cảm thấy “ Thoả thuê trọn vẹn “ vì đã được những phút đầy viên mãn, hết mọi giác quan đều được tham dự, trong bầu Khí “ Sống như Chơi, Lâng lâng Bay bổng “.
Đã không gặp điều kiện gò bó bắt phải trang trọng khắc khổ, tinh thần Công thể lại được nâng cao rất mực, nhờ thể chế “ Bình Sản: Chính sách Công điền công thổ “ nên vắng bóng chênh lệch quá đáng hoặc “ Đấu tranh giai cấp “ gắt gao, khiến cho môi sinh Thái hoà trùm phủ mọi người, toàn dân đều thích thú tham dự, Tâm, Trí lại không bị khuấy động ví các Chủ thuyết nọ kia, mà trái lại là bầu khí “ Du ư Nghệ “ đầy Thi tứ, Ca, Nhạc làm cho Tâm hồn như đã nhắc chân ra khỏi Đời đến nửa, nay gặp bầu khí tưng bừng của Lễ Hội thì nhiều người dễ cảm thấy nhẹ như bay bổng vào cõi Thiên thai man mác (được biểu thị trong Trống bằng những cánh Chim dài rộng vươn cao hơn Người ), như được hớp vào làn nước Cam tuyền của cuộc sống Bồng lai hạnh phúc, để lại trong Tâm thần con dấu không thể xoá mờ, khiến có thể nói không sợ ngoa rằng mỗi cuộc Lễ Hội lưu lại ảnh hưởng sâu xa hơn trăm bài huấn đức, hơn cả trăm sách lý luận Duy Tâm.”
Tóm lại Tết, Lễ, Hội đều là những phương thức “ Vi Nhân” giúp cho con người phát triển toàn diện, làm hoàn hảo lại các mối liên hệ hàng Dọc và hàng Ngang giúp cho con Người Thân được no Tâm được thỏa, đời Sống được cân bằng, chứ không chỉ để ăn chơi ròng một cách không chủ đích.